CHƯƠNG 1 CƠ SO LÝ LUẬN VE QUAN LÝ DẠY HỌC MÔN TOÁN THEO HƯỚNG PHAT TRIEN NĂNG LUC TƯ DUY VA LẬP LUẬN TOÁN HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu 1. NghiÊn cứu nước ngoài Vấn đề tư duy, NL tư duy, NL tư duy toán học đã được một số nhà tâm ly học, giáo dục học nỗi tiếng ở nước ngoài quan tâm nghiên cứu và tiếp cận theo những hướng khác nhau: Cách tiếp cận liên kết để giải quyết van dé dựa trên khái niệm sinh lý thần kinh về phản xạ có điều kiện, được phát hiện bởi P. Theo các nhà triết học và tâm lý học người Anh D.Spenz, tư duy được định nghĩa là quá trình tự do vận dụng các hình ảnh trong trí óc và kết nối các biểu tượng.
Quá trình nhận thức này luôn gắn liền với việc phản ánh sự vật, hiện tượng [5], [1], [6]. Với cách tiếp cận tư duy theo hành động tinh thần, nhà tâm lý học O. iulo cho rang: “Tư duy là hành động bên trong của chủ thé nhằm xem xét các mối quan hệ. Hành động tư duy là công việc của cái “tôi” chủ thể, nó chịu ảnh hưởng của nhiệm vụ tư duy (bài toán tư duy) và bài toán tư duy định hướng cho hành động tư duy.
Thực chất của việc giải bài toán tư duy là sự vận hành của các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa” [12]. Đây có thể coi là một sự tiến bộ khi nghiên cứu bản chất của tư duy, tuy nhiên quan điểm này còn hạn chế ở chỗ xem “tư duy thuần túy là hành động bên trong, không liên quan gì đến các nhân tố bên ngoài”. Dựa trên quan điểm của J.Piaget về sinh học và logic học, ông cho rằng trẻ em phát triển trí tuệ thông qua các hoạt động và thao tác tư duy của bản thân. Việc “thao tác hóa” hoạt động trí tuệ này cho phép đo lường và đánh giá tư duy thông qua các hoạt động bên ngoài, được gọi là hệ thống thao tác.
Theo quan điểm này, tâm lý và tư duy của con người được hình thành và biéu hiện thông qua hoạt động, đặc biệt là lao động sản xuất và hoạt động xã hội. Do đó, nghiên cứu về tư duy và trí tuệ của con người cần tập trung vào các hoạt động thực tế của họ.Vygotsky đã đề xuất một quan điểm quan trọng, cho rằng trí tuệ của trẻ em được hình thành thông qua các hoạt động của chính họ, với mỗi giai đoạn phát triển chứa đựng nhiều hoạt động chủ đạo. Ong cũng nhắn mạnh rằng trí tuệ cao của trẻ em là kết quả của hoạt động và hợp tác của chính họ với người lớn, do đó, việc dạy học hợp tác giữa người dạy và người học được coi là phương pháp hiệu quả nhất. Điều này bao gồm việc giảng dạy phải liên quan chặt chẽ đến mục tiêu, tạo điều kiện cho sự phát triển và tiến bộ của học sinh.
Điều cốt yếu là dạy phải đi trước phát triển, cuối cùng là hướng dẫn và thúc day sự phát triển. Nói cách khác, dạy học không chi phục vụ cho trình độ phát triển hiện có, mà là tác động đến lĩnh vực phát triển tiềm năng năm trong nhận thức của HS” [14]. Nghiên cứu trong nước Công trình “Rèn luyện NL sáng tạo toán học ở trường phố thông” tại Việt Nam của tác giả Hoàng Chúng[4] xoay quanh vấn đề trang bị cho HS những kỹ thuật cơ bản về sáng tạo toán học. Những kỹ thuật này bao gồm chuyên môn hóa, khái quát hóa và loại suy, và chúng có thể được sử dụng trong việc giải quyết van đề dé thử nghiệm, dự đoán kết quả, đưa ra các chiến lược giải quyết vấn đề, mở rộng và hiểu sâu hơn cũng như nâng cao tổ chức kiến thức.
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn với bài viết “Phát triển HS giỏi Toán thành nhà nghiên cứu toán giỏi” [29] bàn về tầm quan trong của việc trau dồi kỹ năng giải quyết vấn đề và bồi dưỡng tư duy biện chứng thông qua trải nghiệm thực tế để khám phá các khái niệm mới. Toàn khăng định, để đạt được sự sáng tạo trong toán học, con người phải có cả NL phân tích và NL tổng hợp. Hai kỹ năng này phụ thuộc lẫn nhau, bổ sung cho nhau trong quá trình theo đuổi những hiểu biết mới về toán học. Tôn Thân nghiên cứu bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho HS lớp 7 THCS khá và giỏi toán thông qua xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập trong dạy học các trường hợp bằng nhau của tam giác [25]; Trần Luận nghiên cứu vấn đề phát triển NL sáng tạo của HS chuyên toán THCS [16]; Vương Dương Minh nghiên cứu vấn đề phát triển tư duy thuật giải cho HS thông qua dạy học hệ thống số [1§]:.
Dựa trên những tiến bộ và phát hiện trong lĩnh vực phát triển nhận thức, các học giả đã khẳng định tính chất bắt buộc và hoàn cảnh thuận lợi xung quanh việc trau đồi khả năng tư duy phản biện ở HS trong bối cảnh giáo dục. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc kết hợp đảo tạo kỹ năng tư duy trong hướng dẫn theo chủ đề cụ thể, được gọi là tích hợp nội dung hoặc thông qua việc tạo ra một chương trình giảng dạy riêng biệt được gọi là “lớp học tư duy”. Khái niệm nâng cao NL tổng thé của người hoc, cụ thé là kỹ năng suy luận logic thông qua học Toán, đã trở nên phô biến trong các nhà giáo dục và GV cả về lý thuyết và thực tiễn. Có sự quan tâm đáng ké trong việc khám phá lĩnh vực nghiên cứu này, với một số công trình tập trung vào chủ đề “suy luận toán học”.
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Thuận tập trung vào việc nâng cao kỹ năng tư duy logic và sử dụng thành thạo ngôn ngữ toán học của HS khi làm quen với đại số trong giai đoạn đầu của bậc học phổ thông [19]. Một số khái niệm cơ bản 1. Hoạt động dạy học Dạy học là một quá trình toàn diện, không chỉ bao gồm VIỆC truyền đạt kiến thức từ giáo viên sang học sinh mà còn đòi hỏi sự tương tác, phản biện và tiếp thu kiến thức một cách chủ động từ phía người học. Quá trình này đề cao việc sử dụng các phương pháp giáo dục phù hợp, nhằm khơi dậy niềm đam mê học hỏi, phát triển kỹ năng sống và kỹ năng tư duy phê phán cho học sinh.
Dạy học không chỉ giới hạn trong bốn bức tường của lớp học mà còn mở rộng sang việc học tập suốt đời, nơi mà việc học và áp dụng kiến thức diễn ra mọi lúc, mọi nơi trong đời sống [3]. Trong day học, vai trò của giáo viên rất quan trong. Ho không chi là người truyền đạt thông tin mà còn là người hướng dẫn, khích lệ và thậm chí là nguồn cảm hứng cho học sinh. Một giáo viên giỏi là người có thể nhận biết được năng lực, sở thích và điểm mạnh của từng học sinh, từ đó xây dựng phương pháp giảng dạy phù hợp, giúp họ tiếp cận kiến thức một cách hiệu quả nhất.
Công nghệ hiện đại ngày nay cũng đã trở thành một phần không thê thiếu trong quá trình dạy và học. Việc áp dụng công nghệ trong giảng dạy giúp làm mới phương pháp truyền đạt, tạo ra môi trường học tập linh hoạt, tương tác cao và phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội. Tóm lại, dạy học là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp giữa nhiều phương pháp, công cụ và tác động từ nhiều phía. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là trang bị kiến thức mà còn phát triển kỹ năng, thái độ sống và tình yêu với việc học mở ra con đường cho sự phát triển liên tục và bền vững của bản thân và xã hội.
Đề hoàn thành trách nhiệm của một người hướng dẫn, GV phải có mức độ chuẩn bị toàn diện về các khía cạnh khác nhau, chăng hạn như chủ đề, phương pháp giảng dạy, tài nguyên giảng dạy và “Kịch bản giảng dạy” dự kiến. Mức độ hiệu quả trong giảng dạy tỷ lệ thuận với mức độ chuẩn bị được dau tư. Ngoài ra, HS được kỳ vọng sẽ tích cực tham gia vào quá trình học tập và tích cực tham gia vào các nhiệm vụ thực tế do GV giao, với mục tiêu cuối cùng là đạt được hiệu quả tôi ưu. Việc thực hiện nhiệm vụ chính liên quan đến việc khám phá và áp dụng các kỹ năng thiết yếu, và các hoạt động giáo dục không chỉ bao gồm việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng mà còn sử dụng hiệu quả các kiến thức và kỹ năng đó trong các tình huống thực tế.
Quản lý hoạt động dạy học Harold Koontz, Cyril Odonnel, và Heinz Wethrich định nghĩa quản ly là việc tạo ra và duy trì một môi trường chung, nơi mọi cá nhân có thé cung nhau lam viéc thanh nhém dé dat duoc muc tiéu va nhiém vu da dat ra. Nguyễn Ngọc Quang lai mô ta quản lý như một hành động có chủ đích và được kế hoạch hóa bởi chủ thể quản lý đối với nhóm người lao động để thực hiện các mục tiêu đã dự kiến. Tiếp đến, Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, và Đặng Quốc Bảo cung cấp một cái nhìn thực tiễn hơn về quản lý: là quá trình có tổ chức, hướng đích từ người quản lý đến đối tượng được quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra. Hoàng Minh Thao và Hà Thế Truyền đưa ra cái nhìn rộng hơn khi mô tả quản lý là việc tập trung vào trật tự và sự phát triển bền vững, nhất quán của tổ chức.
Bước đầu tiên và quan trọng nhất trong quản lý hoạt động dạy học là xác định rõ rang mục tiêu giáo dục. Các mục tiêu này phải phản ánh kỳ vọng về những gì học sinh sẽ biết và có thể làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc chương trình học. Ngoài ra, nội dung giảng dạy phải được lập kế hoạch một cách cân thận dé đảm bảo rằng nó đáp ứng được các mục tiêu đã đặt ra. Nguồn lực, bao gồm cả nhân lực (giáo viên, nhân viên hỗ trợ) và vật lực (cơ sở vật chất, thiết bị giảng day), là yêu tố then chốt dé thực hiện thành công các hoạt động dạy và học.
Việc phân bổ nguồn lực một cách hợp lý, bảo đảm cho mọi hoạt động diễn ra suôn sẻ, là một trong những trách nhiệm hàng đầu của người quản lý giáo dục. Trong thời đại số, việc tích hợp công nghệ vào quá trình dạy và học đang trở thành một yếu tố không thé thiếu.