CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề về hứng thú và hứng thú học tập Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân với đối tượng, vừa có ý nghĩa với cuộc sống vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động nói chung và học tập nói riêng theo tìm hiểu về tâm lí học đại cương đã khẳng định. [6] Trong hoạt động, hứng thú có vai trò rất quan trọng, là một cơ chế bên trong, sự biểu hiện của động cơ thúc đẩy quá trình nhận thức của con người, là động lực cơ bản để hình thành, phát triển năng lực ở con người.
Không thể tách rời khỏi nhau, có quan hệ biện chứng với nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia và ngược lại, chính là năng lực và hứng thú. Yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển năng lực cá nhân chính là hứng thú. Hứng thú học tập là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, sự cuốn hút về mặt tình cảm ý nghĩa thiết thực của nó trong quá trình nhận thức và trong đời sống cá nhân. Hứng thú học tập là sự kết hợp giữa nhận thức, cảm xúc tích cực và hành động nhằm chiếm lĩnh nội dung môn học.
Hứng thú học tập là một động cơ, một nhân tố kích thích người học hăng say trong học tập, mong muốn đi sâu tìm hiểu môn học mà mình ưa thích. Phân loại hứng thú học tập: - Học sinh hấp dẫn bởi chính đối tượng học tập như thích học toán, hứng thú với bài giảng, …thuộc hứng thú trực tiếp. - Những yếu tố bên ngoài đối tượng học tập như khi được khen, giáo viên khuyến khích, ba mẹ thúc đẩy…thuộc hứng thú gián tiếp. Hứng thú học tập của học sinh Tiểu học 1.
Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học a, Tri giác Tri giác của học sinh tiểu học còn ít mang tính chủ định cơ bản, chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, ít đi sâu vào cụ thể. 9 Tổ chức cho HS học toán bằng hình ảnh tranh vẽ, đồ vật hay từ ngữ mang tính hình tượng cao giúp các em nhớ được những dấu hiệu đặc biệt. Vì càng lên lớp trên học sinh có năng lực tri giác tốt hơn. Giáo viên đã khéo léo chọn cách tổ chức hoạt động để học sinh phát hiện được những dấu hiệu bản chất của sự vật hiện tượng.
[7] b, Chú ý Chú ý của học sinh tiểu học còn yếu, thường chú ý không chủ định nhờ những thứ mang tính chất mới mẻ, rực rỡ. Để tạo nhu cầu hứng thú, lôi cuốn sự chú ý của HS, GV cần: Dùng tranh ảnh, hình vẽ, hình thật, vật thật. Lựa lời khen ngợi học sinh. Sắp xếp thời gian học khoa học: cứ sau 1 tiết học, nghỉ giải lao, tổ chức các trò chơi thư giãn.
[29] c, Trí nhớ Học sinh lớp 1,2 thường có khuynh hướng ghi nhớ máy móc, chưa có từ ngữ phong phú, có trí nhớ trực quan hình tượng mạnh hơn nhờ từ ngữ logic. Giáo viên cần quan tâm và chủ động hướng dẫn học sinh ghi nhớ theo từng đối tượng theo các cách: ghi nhớ bằng hình ảnh, tư duy logic, theo điểm tựa, nội dung ghi nhớ phù hợp với HS trong các lớp học. [14] d, Tưởng tượng Tưởng tượng rất phong phú là đặc điểm của học sinh tiểu học. Càng có nhiều đồ vật thật thì trí tưởng tượng phong phú, không lệch lạc khi dạy Toán cho HS các lớp 1,2,3.
Toán học lớp 3,4,5 thường nghiêng về tư duy logic. [6] e, Tư duy Tư duy của HS thường dựa vào trực quan của đối tượng. Khi lứa tuổi của HS tăng dần thì khả năng tư duy logic của HS cũng tăng dần. Đặt ra cho học sinh những câu hỏi mang tính chất mới lạ, mang tính chất tư duy logic, tư duy hình tượng đối với các học sinh đó là việc mỗi GV phải làm.
[8] g, Thể chất Học sinh tiểu học, chiều cao mỗi năm tăng 4-5 cm, khối lượng tăng 2-3 10 kg. Cơ tay, bắp chân phát triển mạnh, khả năng thực hiện các động tác tinh vi (viết chữ) lại khó khăn vì quá trình phát triển cơ thể xảy ra tương đối đồng đều và cân đối. Nếu học sinh không ngồi đúng tư thế sẽ bị vẹo cột sống vì nó rất mềm mại. Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học Hoạt động học tập trở thành hoạt động chủ yếu, thành trách nhiệm xã hội quan trọng nhất đối với HS bắt đầu vào tiểu học.
Muốn tổ chức tốt hoạt động học tập của học sinh cần hiểu đặc điểm nhận thức đang trong giai đoạn phát triển của các em. Tri giác của học sinh tiểu học sắc bén, tươi sáng nhưng lại có tính ít phân hoá. Tri giác gắn chặt với hành động, hoạt động thực tiễn, bộc lộ cảm xúc. Cái trực quan, cái sinh động, cái rực rỡ được tri giác tốt hơn những hình ảnh tượng trưng.
Cần lưu ý màu sắc, hình dáng của các hình ảnh, bức tranh trong tài liệu học tập vì sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự hình thành kĩ năng. Sự chú ý có chủ định còn yếu, thường gắn với động cơ gần, dễ bị phân tán, khả năng điều chỉnh chú ý còn bị hạn chế. Sự chú ý không có chủ định rất phát triển. Sử dụng hợp lí các tài liệu trực quan như: các tranh ảnh minh hoạ, hình vẽ, hình mẫu, mô hình… sẽ kích thích, lôi cuốn sự chú ý của học sinh.
Khả năng kiểm soát, điều chỉnh chú ý có chủ định của học sinh tiểu học ngày càng phát triển đạt mức độ cao dần về cuối cấp học. Hình thành cho học sinh kĩ năng nhận diện, phân biệt nhiệm vụ ghi nhớ, tâm thế nhất định cho việc ghi nhớ, phương pháp và phương tiện ghi nhớ là việc làm cần thiết của giáo viên. Học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic, ghi nhớ máy móc phát triển hơn ghi nhớ có chủ định, thường học thuộc lòng tài liệu học tập hơn là tổ chức, sắp xếp chúng. Học sinh tiểu học không phân biệt và tách các dấu hiệu không bản chất ngay sau khi quan sát vì hoạt động phân tích, tổng hợp ở các em đang trong giai đoạn phân tích trực quan - hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng, còn 11 rất sơ đẳng.
Đặc điểm hứng thú của học sinh tiểu học a, Những nét riêng độc đáo, đặc trưng riêng về hứng thú của học sinh tiểu học giúp GV phân biệt hứng thú học môn toán của HS với hứng thú học môn khác, bậc học khác b, Phân loại của đặc điểm hứng thú của HS tiểu học Loại 1: Thường hơn các môn học khác như Tiếng Việt, Tự nhiên và xã hôị, Đạo đức…đó là hứng thú toán học. Loại 2: Được bộc lộ ở gia đình, khi giáo viên khuyến khích tinh thần học tập của trẻ, sự vật gây hứng thú… do có tác động từ bên ngoài đó là hứng thú giao tiếp. Loại 3: do bản thân HS chủ động, yêu thích môn học, tìm tòi nghiên cứu… đó là hứng thú trực tiếp. Trong quá trình học tập toán học, được biểu hiện ở nhận thức, thái độ, xúc cảm, hành vi và yếu tố ảnh hưởng đến môn Toán của học sinh.
c, Ba giai đoạn của sự hình thành và phát triển của hứng thú học tập Giai đoạn đầu: Xuất hiện dưới dạng rung động định kỳ là thái độ nhận thức có xúc cảm đối với hiện tượng. Giai đoạn tiếp theo: Cứ lặp đi lặp lại nhiều lần, được khái quát thành thái độ nhận thức có xúc cảm tích cực với đối tượng là những rung động định kỳ. Giai đoạn cuối: Thái độ tích cực đó được duy trì, củng cố; khả năng tìm tòi độc lập thường xuyên được khơi dậy thì hứng thú có thể trở thành xu hướng cá nhân. d, Điều kiện hình thành và phát triển hứng thú học tập Bao gồm: Hình thức hấp dẫn của việc truyền đạt tri thức trong quá trình học tập, nhận thức được tầm quan trọng của môn học; cách tổ chức việc học tập và sinh hoạt cho người học; đề ra cho người học những nhiệm vụ học tập; nhân cách của người giáo viên; nội dung tài liệu học tập.
e, Hứng thú học tập của học sinh tiểu học ánh hưởng bởi các yếu tố Những yếu tố bên trong: Trình độ phát triển trí tuệ của học sinh; thái độ 12 đúng đắn đối với việc học tập, đối với bộ môn Toán; các yếu tố chủ quan khác như: nhu cầu, tính ham hiểu biết. Trình độ của học sinh ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn Toán vì học sinh có kiến thức, kỹ năng, có nền tảng kỹ năng tốt thì khi tiếp nhận tri thức mới HS có đủ khả năng lĩnh hội, tạo ra hứng thú, còn nếu HS không đủ trình độ tiếp thu kiến thức mới thì sẽ gặp khó khăn dẫn đến chán nản, không thích học và cũng không có hứng thú để học. Những yếu tố bên ngoài: Đó là những yếu tố bên ngoài học sinh bao gồm: Đặc điểm môn Toán, điều kiện vật chất để dạy học có hiệu quả; hoàn cảnh; môi trường học tập… Nếu HS được học trong một lớp học gồm nhiều học sinh có hứng thú với việc học tập môn Toán thì sẽ kích thích hứng thú học tập của HS, sự thi đua giữa HS cao hơn. Các em sẽ thấy thoải mái và có hứng thú học tập tốt hơn nếu được học trong một không gian lớp học rộng rãi, thoáng mát.
f, Các biểu hiện của hứng thú học môn Toán Yêu thích, say mê. đối với môn Toán. Nhận thức đầy đủ, rõ ràng những nguyên nhân của sự yêu thích trên. Hành động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo không chỉ trong giờ lên lớp mà còn ở cả ngoài lớp hàng ngày.
Kết quả thu được khi học tập trong giờ lên lớp, ngoài lớp hàng ngày. Hứng thú là điều kiện tất yếu để mỗi học sinh phát huy vai trò tích cực, chủ động, tự giác, tạo ra chất lượng trong quá trình học tập. Giúp học sinh: say mê, tự tin, chủ động chiếm lĩnh các kiến thức mới. Tích cực, sáng tạo khi giải quyết những nhiệm vụ học tập.
Cơ sở thực tiễn 1. Mục tiêu môn Toán ở Tiểu học Chương trình toán ở Tiểu học có vị trí, tầm quan trọng rất lớn, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh. Ở tiểu học dù là những kiến thức đơn giản nhất cũng là những thể hiện của các mối quan hệ về số lượng và hình dáng không gian vì môn Toán giúp HS rèn luyện tư duy toán học, năng lực giải quyết vấn đề.