Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2015

Khám phá luận văn thạc sĩ về quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2015, phân tích những biến động và xu hướng quan trọng.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

75
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG TRONG KHÓA LUẬN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của đề tài

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – HOA KỲ

1.1. Khái quát quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trước năm 1995

1.2. Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trước năm 1954

1.3. Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1954 – 1975

1.4. Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1975 – 1995

1.5. Bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ

1.6. Cơ sở của việc bình thường hóa

1.7. Quá trình bình thường hóa

1.8. Tình hình thế giới trong giai đoạn sau bình thường hóa

1.9. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – HOA KỲ GIAI ĐOẠN NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2015

2.1. Quan hệ xuất khẩu – nhập khẩu

2.2. Khái quát chung về quan hệ Xuất khẩu – Nhập khẩu

2.3. Quan hệ đầu tư (FDI)

2.4. Đầu tư từ Hoa Kỳ vào Việt Nam

2.5. Đầu tư từ Việt Nam sang Hoa Kỳ

2.6. Kiều hối từ Hoa Kỳ về Việt Nam

2.7. Tác động của quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ tới Việt Nam

2.8. Tiểu kết chương 2

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quan Hệ Kinh Tế Việt Nam Hoa Kỳ 1995 2015

Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2015 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ. Từ chỗ là hai quốc gia từng đối đầu trong chiến tranh, Việt Nam và Hoa Kỳ đã xây dựng mối quan hệ đối tác kinh tế ngày càng sâu rộng. Giai đoạn này chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc trong thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, đầu tư và hợp tác phát triển. Việc Hoa Kỳ dỡ bỏ cấm vận thương mại và bình thường hóa quan hệ ngoại giao đã mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Nghiên cứu này sẽ đi sâu vào phân tích các yếu tố tác động, thực trạng và ảnh hưởng của mối quan hệ này đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam.

1.1. Bối Cảnh Quốc Tế và Đường Lối Đối Ngoại Việt Nam

Sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu và Liên Xô, cùng với xu thế toàn cầu hóa, đã tạo ra những thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế. Việt Nam chủ trương đẩy mạnh cải cách, mở cửa, hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế. Nhân tố kinh tế trở thành yếu tố quan trọng đối với sự phát triển và vị thế của các quốc gia. Mỗi quốc gia dân tộc với thể chế chính trị khác nhau cần có đường lối và chính sách phù hợp với sự phát triển chung này.

1.2. Ý Nghĩa Khoa Học và Thực Tiễn của Nghiên Cứu

Nghiên cứu quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn. Về mặt khoa học, nó cung cấp cái nhìn khách quan và khoa học về mối quan hệ này từ góc độ Sử học. Về mặt thực tiễn, nó cung cấp tư liệu và dữ liệu cho việc đọc và nghiên cứu lịch sử, đồng thời giúp các nhà quản lý kinh tế và doanh nhân có cái nhìn tổng thể về kinh tế Việt Nam với Hoa Kỳ.

II. Các Nhân Tố Tác Động Quan Hệ Kinh Tế Việt Mỹ 1995 2015

Nhiều yếu tố đã tác động đến sự phát triển của quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ trong giai đoạn 1995-2015. Đầu tiên, đó là quá trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao, tạo tiền đề chính trị quan trọng. Thứ hai, là các chính sách kinh tế của cả hai nước, đặc biệt là chính sách mở cửa và hội nhập của Việt Nam. Thứ ba, là vai trò của các tổ chức quốc tế và khu vực như WTO, APEC. Cuối cùng, không thể không kể đến sự năng động của các doanh nghiệp hai nước trong việc tìm kiếm cơ hội hợp tác và đầu tư.

2.1. Quá Trình Bình Thường Hóa Quan Hệ Việt Mỹ

Quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là một cơ sở chính trị vững chắc cho việc xác lập quan hệ kinh tế, đồng thời thúc đẩy thương mạiđầu tư hai chiều chuyển biến mạnh mẽ. Các kế hoạch dưới thời Chính quyền Carter, chính quyền Regan và Bush, những bước đi trong thời chính quyền Clinton đã tạo tiền đề cho sự phát triển quan hệ.

2.2. Chính Sách Kinh Tế và Thương Mại của Hoa Kỳ

Hệ thống luật pháp kinh tế thương mại Hoa Kỳ đóng vai trò quan trọng trong việc định hình chính sách thương mại của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Việc hiểu rõ các luật kinh tế của Hoa Kỳ giúp đánh giá được tính khách quan với những hướng đi và cách thức hợp tác trong quan hệ trên lĩnh vực kinh tế với Việt Nam.

2.3. Vai Trò của Hiệp Định Thương Mại Việt Nam Hoa Kỳ BTA

Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) là một dấu mốc quan trọng, tạo khuôn khổ pháp lý cho việc phát triển thương mạiđầu tư giữa hai nước. BTA đã giúp Việt Nam tiếp cận thị trường Hoa Kỳ dễ dàng hơn, đồng thời thúc đẩy cải cách kinh tế trong nước.

III. Thực Trạng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam Hoa Kỳ 1995 2015

Giai đoạn 1995-2015 chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc trong xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳnhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam bao gồm dệt may, da giày, thủy sản, đồ gỗ. Trong khi đó, Việt Nam nhập khẩu từ Hoa Kỳ máy móc, thiết bị, nguyên liệu sản xuất. Cán cân thương mại nghiêng về phía Việt Nam, tạo ra nguồn thu ngoại tệ quan trọng.

3.1. Cơ Cấu Mặt Hàng Xuất Khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ

Cơ cấu mặt hàng sơ chế xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ (2006) cho thấy sự đa dạng trong các sản phẩm xuất khẩu. Thủy hải sản xuất khẩu sang Hoa Kỳ của Việt Nam (1995-2003) cũng đóng vai trò quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu.

3.2. Cơ Cấu Mặt Hàng Nhập Khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ

Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ (2000) bao gồm nhiều mặt hàng quan trọng phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng trong nước. Việc nhập khẩu máy móc, thiết bị từ Hoa Kỳ giúp nâng cao năng lực sản xuất của Việt Nam.

3.3. Cán Cân Thương Mại Việt Nam Hoa Kỳ

Diễn biến xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ giai đoạn 1994 -2015 cho thấy sự tăng trưởng liên tục của kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ. Điều này góp phần cải thiện cán cân thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ.

IV. Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài FDI từ Hoa Kỳ vào Việt Nam

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Hoa Kỳ vào Việt Nam tăng trưởng đáng kể trong giai đoạn 1995-2015. Các nhà đầu tư Hoa Kỳ quan tâm đến nhiều lĩnh vực, bao gồm công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ, năng lượng. FDI từ Hoa Kỳ góp phần tạo việc làm, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh cho Việt Nam.

4.1. Số Vốn và Số Dự Án Đầu Tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam

Số vốn và số dự án đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam một số năm từ năm 1993 đến năm 2015 cho thấy sự gia tăng đáng kể trong hoạt động đầu tư. Cơ cấu số dự án và số vốn đầu tư FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam phân theo ngành năm 2001 cũng cho thấy sự đa dạng trong các lĩnh vực đầu tư.

4.2. Hình Thức Đầu Tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam

Đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam dưới các hình thức đầu tư khác nhau, bao gồm liên doanh, 100% vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh. Các hình thức đầu tư này giúp các nhà đầu tư Hoa Kỳ linh hoạt trong việc triển khai dự án tại Việt Nam.

4.3. Đầu Tư Trực Tiếp từ Việt Nam sang Hoa Kỳ

Đầu tư trực tiếp sang Hoa Kỳ của Việt Nam được cấp giấy phép giai đoạn 1989 -2006 cho thấy sự quan tâm của các doanh nghiệp Việt Nam đến thị trường Hoa Kỳ. Tuy nhiên, quy mô đầu tư từ Việt Nam sang Hoa Kỳ còn khá khiêm tốn.

V. Tác Động Quan Hệ Kinh Tế Việt Mỹ Đến Phát Triển Việt Nam

Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ có tác động sâu rộng đến sự phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam. Nó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Đồng thời, nó cũng tạo điều kiện cho Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến.

5.1. Tác Động Đến Tăng Trưởng Kinh Tế Việt Nam

Việc tăng cường quan hệ kinh tế với Hoa Kỳ giúp Việt Nam tạo ra nguồn giá trị thặng dư lớn cho đất nước cũng như khai thác và phát triển hiệu quả những tiềm lực sẵn có. Điều này sẽ tạo ra một cơ chế quan trọng nhằm bảo đảm sự ổn định kinh tế ở khu vực và cho phép Việt Nam và Hoa Kỳ có tiếng nói lớn hơn trong các vấn đề thương mại quốc tế.

5.2. Tác Động Đến Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế của Việt Nam

Quan hệ kinh tế với Hoa Kỳ tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh. Điều này giúp Việt Nam hội nhập thành công vào nền kinh tế toàn cầu.

5.3. Thách Thức và Cơ Hội trong Quan Hệ Kinh Tế Việt Mỹ

Trong bối cảnh vừa hợp tác vừa cạnh tranh nhau, việc Việt Nam là một nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều thách thức để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, quan hệ kinh tế với Hoa Kỳ cũng mang lại nhiều cơ hội để Việt Nam vượt qua những thách thức này và đạt được sự phát triển bền vững.

VI. Kết Luận và Triển Vọng Quan Hệ Kinh Tế Việt Mỹ

Giai đoạn 1995-2015 là một giai đoạn thành công trong quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ. Mối quan hệ này đã mang lại lợi ích to lớn cho cả hai nước. Trong tương lai, quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ có nhiều tiềm năng phát triển hơn nữa, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh cải cách và hội nhập kinh tế quốc tế.

6.1. Tóm Tắt Thành Tựu và Hạn Chế

Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong giai đoạn 1995-2015, nhưng cũng còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục. Việc đánh giá khách quan những thành tựu và hạn chế này giúp định hướng cho sự phát triển của mối quan hệ trong tương lai.

6.2. Triển Vọng Hợp Tác Kinh Tế Việt Nam Hoa Kỳ

Trong bối cảnh mới, quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ có nhiều tiềm năng phát triển trong các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, công nghệ cao, nông nghiệp công nghệ cao. Việc khai thác hiệu quả những tiềm năng này sẽ mang lại lợi ích to lớn cho cả hai nước.

6.3. Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Quan Hệ Kinh Tế Song Phương

Để phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ một cách bền vững, cần có những giải pháp đồng bộ từ cả hai phía, bao gồm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ quan hệ kinh tế việt nam hoa kỳ giai đoạn 1995 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – HOA KỲ 1. Khái quát quan hệ Việt Nam –Hoa Kỳ trước năm 1995 1. Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trước năm 1954 Bắt đầu từ những bước chân đầu tiên của thương nhân người Hoa Kỳ John White trên đất Việt vào năm 1819 với ý định lên Sài Gòn buôn bán, trong sử Việt ghi lại là "Hôn Viết" chỉ huy tàu buôn Franklin vào "Canjeo" (cửa Cần Giờ) ngày 7 Tháng 6. White có ghi lại mọi sự việc trong thời gian ở đây trong cuốn sách: “A Voyage to Cochin-China”.Đó chỉ là sự xuất hiện của người Hoa Kỳ, chứ chưa có quan hệ gì giữa 2 bên cho đến khi tiếp xúc chính thức thì mãi đến năm 1829, Tổng thống Andrew Jackson đắc cử thì Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã cử phái bộ do Edmund Roberts (sử sách Việt ghi là "Nghĩa-đức-môn La-bách") và George Thompson ("Đức-giai Tâm-gia") mang theo dự thảo hiệp định thương mại nhằm tìm cách thông thương với nước Đại Nam[29;tr.

Trong suốt quá trình cố gắng giao thiệp thì quan hệ thương mại này vẫn không thành do sự dè dặt của triều đình nhà Nguyễn. Theo lời của Edmund Roberts: “Với các thủ tục ngoại giao quá rườm rà, quan chức ủy quyền thương thuyết thì không có ý kiến rõ ràng, lại hay lảng tránh các câu hỏi trực diệ n do Mỹ nêu ra. Phía Đại Nam. Các phái viên của triều Nguyễn không đồng ý ký Hiệp định chủ yếu vì vấn đề hình thức văn bản”.5] Khoảng 15 năm sau, trong chuyến hành trình, chiến thuyền “Old Ironsides” của Hoa Kỳ đến vùng biển châu Á đã cập bến Đà Nẵng năm 1845: “Thuyền trưởng là John Percival liên lạc với các quan địa phương xin được tiếp xúc với triều Nguyễn để đặt mối giao hảo.

Được tin, vua Thiệu Trị tại Huế cử viên ngoại lang Nguyễn Long đi hỏa tốc vào Đà Nẵng hiệp cùng Kinh lịch thuộc viên ở tỉnh là Nguyễn Dụng Giai đến thăm hỏi và làm việc với Percival. Nhưng thay vì gây thêm cảm tình, Percival khi nhận được thư cầu cứu của giám mục Dominique Lefebvre thì chiếm đoạt lấy 3 chiến thuyền và một số người làm con tin, đòi nhà chức trách phải thả Lefebvre. Sự việc không giải quyết được, Percival sai nổ súng bắn lên bờ rồi nhổ neo ra khơi ngày 16 tháng 5, khiến tình hình thêm rắc rối”[29;tr. Những nỗ lực bang giao của Việt Nam – Hoa Kỳ bế tắc.

Cho đến thời điểm năm 1873, triều đình nhà Nguyễn đã có những xúc tiến, vua Tự Đức cử Bùi Viện 9 c sang Hoa Kỳ như một "đại sứ đặc mệnh toàn quyền" để nhờ cầu viện chống Pháp. Lúc này, Hoa Kỳ và Pháp đang gặp phải căng thẳng ở Mexico nên Hoa Kỳ cũng tỏ ý muốn giúp. Chớ trêu thay, hai bên không đạt được cam kết chính thức do quốc thư bị bỏ quên. Năm 1875 vua Tự Đức ủy nhiệm ông lại có mặt tại Hoa Kỳ một lần nữa.

Tuy lần này đã không quên quốc thư nhưng lúc này Hoa Kỳ và Pháp đã trở lại bình thường nên Tổng thống Ulysses Grant lại khước từ cam kết giúp Đại Nam đánh Pháp. Bên cạnh đó, cũng có những sự kiện về lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ chưa được biết đến một cách rộng rãi. Ngài Thomas Jefferson trước khi trở thành đã từng nỗ lực tìm cách nhập giống lúa tốt, những giống gạo trắng ngon và năng suất cao của Việt Nam để trồng ở nông trại ở bang Virginia. Một dấu tích lịch sử đáng nhớ đó là việc ra đi tìm đường cứu nước của Việt Nam của nhà yêu nước Nguyễn Tất Thành cách đây 108 năm đã đến cảng Boston- nơi diễn ra sự kiện đầu tiện của cuộc cách mạng giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ.

Trong Thế chiến thứ hai, trên mặt trận chống Phát- xít Việt Nam và Hoa Kỳ có mối quan hệ đồng minh. Đầu năm 1940, cơ quan OSS (tiền thân của CIA) của Hoa Kỳ đã giúp đỡ Mặt trận Việt Minh thuốc men và một số vũ khí để chống Nhật. Mặt trận Việt Minh do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã cứu giúp những phi công Hoa Kỳ bị quân Nhật Bản bắn rơi ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn thiết lập quan hệ hữu nghị với Hoa Kỳ nên đã gửi 14 lá thư cho lãnh đạo Hoa Kỳ, trong đó có lá thư tới Tổng thống Truman để đề nghị thiết lập mối quan hệ "hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ".

Tuy nhiên, thật đáng tiếc cho những cơ hội lịch sử bị bỏ lỡ. Chiến tranh Đông Dương (1945-1954), vì lợi ích và mục đích đối đầu với các nước XHCN của mình Hoa Kỳ đã giúp Pháp trong cuộc chiến chống cộng và tái chiếm thuộc địa: “Ngày 8/5/1950, Tổng thống Hoa Kỳ Truman chính thức quyết định viện trợ cho Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, ủng hộ chính phủ quốc gia Bảo Đại.Tháng 12/1950 Hoa Kỳ, Pháp cùng các chính phủ bù nhìn Việt Nam, Miên, Lào kí “Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương”, Hoa Kỳ cam kết viện trợ quân sự cho chính quyền bù nhìn 3 nước.Tháng 9/1951 Hoa Kỳ và chính phủ bù nhìn Bảo Đại kí hiệp ước hợp tác kinh tế Việt Nam- Hoa Kỳ nhằm chuyển thẳng một phần viện trợ của Hoa Kỳ cho chính phủ Bảo Đại. Từ năm 1950 – 1953, Hoa Kỳ đưa vào Đông Dương khoảng 400.000 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh. Riêng trong 2 năm (1952– 1953), số tiền Hoa Kỳ cho Pháp vay là 314 triệu USD.

10 c Các phái đoàn viện trợ kinh tế, cố vấn quân sự cũng lần lượt sang Việt Nam. Tháng 5/1950, phái đoàn viện trợ Hoa Kỳ do Robert Blum dẫn đầu đến Sài Gòn. Tháng 9/1950, đoàn cố vấn quân sự MAAG được thành lập ở Việt Nam. Năm 1952, các phòng thông tin Hoa Kỳ được đặt ở nhiều trung tâm trong vùng chiếm đóng.

Các chính khách, tướng tá Hoa Kỳ đi lại ở Việt Nam ngày càng nhiều. Khoản viện trợ Hoa Kỳ tài trợ cho Pháp lên đến 80% chiến phí, khoảng 1,5 tỷ USD”[32]. Trong trận chiến quyết định tại Điện Biên Phủ, Hoa Kỳ trực tiếp chở khoảng 16.000 quân Pháp vào Điện Biên Phủ đồng thời còn hỗ trợ không quân cho quân đội Pháp. Nhờ những khoản viện trợ mà thực dân Pháp mới có thể duy trì được cuộc chiến; đồng nghĩa với đó, mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trở nên xấu đi.

Việt Nam chủ trương cương quyết với Hoa Kỳ, trong Đại hội Đảng lần thứ II (1951) xác định: “Tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược và đánh bại can thiệp Mỹ, giành độc lập, thống nhất hoàn toàn và bảo vệ hòa bình thế giới”[32]. Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1954 – 1975 Trong giai đoạn sau hiệp định Geneva (1954) đến trước năm 1960, mối quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam xoay quanh vấn đề thống nhất miền Bắc và miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ can thiệp và lún sâu vào cuộc chiến tranh Việt Nam vì mục đích độc chiếm Việt Nam cũng như toàn bộ vùng Viễn Đông, mở rộng tầm ảnh hưởng trên toàn thế giới. Sau hiệp định Geneva 1954, có điều khoản Tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử hai miền Bắc – Nam Việt Nam.

Pháp để lại trách nhiệm thi hành những điều khoản còn lại của Hiệp định cho Hoa Kỳ và chính quyền Ngô Đình Diệm những người kế tục Pháp ở miền Nam. Hoa Kỳ ra sức thực hiện ý đồ đã vạch ra từ trước nhằm độc chiếm miền Nam Việt Nam, tiến tới độc chiếm toàn Đông Dương. Từ tháng 7/ 1954, Hoa Kỳ với lí do không tham gia kí tuyên bố cuối cùng của hội nghị Geneva, ngang nhiên không chấp nhận các quy định của Hiệp định Geneva và từng bước gạt Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam. Trong “The Causes of the Vietnam War” có viết: “Hoa Kỳ có tham gia Hội nghị Geneva năm 1954 với một phái đoàn do Bedell Smith làm trưởng đoàn nhưng cũng như phái đoàn Quốc gia Việt Nam, không ký bản hiệp định.

Khi chính phủ Đệ Nhất Cộng hòa Việt Nam của Tổng thống Ngô Đình Diệm từ chối tổng tuyển cử, Hoa Kỳ cũng ủng hộ lập trường đó. Dựa trên thuyết Domino trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh Hoa Kỳ tăng viện trợ cho 11 c Việt Nam Cộng hòa.000 cố vấn quân sự Hoa Kỳ và đến đầu năm 1965 thì Tổng thống Lyndon B. Johnson cho đổ bộ lực lượng Thủy quân lục chiến, chính thức tham chiến”[37]. Trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), phía Hoa Kỳ trở thành hậu thuẫn cho Việt Nam Cộng hòa ở Miền Nam Việt Nam đã cản trở thống nhất Việt Nam, can thiệp ngày càng sâu và tham gia vào chiến tranh Việt Nam.

Cuối 1964, những thất bại liên tiếp trên chiến trường, số lượng ấp chiến lược được giải phóng bởi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và lực lượng du kích liên tục tăng, không có dấu hiệu giảm và chiến trường Sài Gòn trở nên cực kì lộn xộn và rối ren bởi hàng loạt các cuộc đảo chính khác nhau khiến Chương trình “Chiến tranh đặc biệt” của Hoa Kỳ có nguy cơ sụp đổ. Tới 1966, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã giành được hàng loạt chiến thắng như trận Núi Thành, tấn công sân bay Tân Sơn Nhất (1966),. Trước tình hình đó, Hoa Kỳ bắt đầu đề cập tới giải pháp đàm phán hòa bình. Tháng 1/1967, Tổng thống Johnson tuyên bố: “Hoa Kỳ sẵn sàng đi đến bất cứ đâu, bất cứ lúc nào để gặp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm bàn bạc về hòa bình”[37].

Sau đó, vào ngày 28/1/1967, Ngoại trưởng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: “Nếu Hoa Kỳ thành thật có mong muốn hòa đàm, họ trước hết phải chấm dứt vô điều kiện các cuộc oanh tạc và các hành vi gây chiến chống miền Bắc”[37]. Tuy nhiên trên thực tế, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa vẫn có những hành động leo thang chiến tranh. Tháng 7 và tháng 8/1967, chính quyền Hoa Kỳ thông qua hai nhà trung gian của Pháp R.Marcovich thăm dò khả năng và điều kiện để bất đầu nói chuyện nhưng vẫn chưa đạt kết quả đáng kể. Trước dư luận quốc tế đang trèn ép mạnh mẽ và đặc biệt là phong trào chống chiến tranh nổi lên ở Hoa Kỳ, ngày 29/9/1967, trong diễn văn của Tổng thống Johnson nêu rõ: “Hoa Kỳ sẵn sàng ngừng ngay việc bắn phá miền Bắc Việt Nam cảu máy bay và tàu chiến Hoa Kỳ khi việc này dẫn tới cuộc thảo luận có kết quả và không bị lợi dụng”[37].

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bác bỏ. Nét tiêu biểu trong đấu tranh ngoại giao từ 1968 đến trước Hiệp định Paris là đỉnh cao nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao để đi đến ký kết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2015: Phân tích và Đánh giá" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển và biến đổi trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong hai thập kỷ qua. Tác giả phân tích các yếu tố chính đã thúc đẩy mối quan hệ này, từ việc bình thường hóa quan hệ cho đến các hiệp định thương mại quan trọng. Bên cạnh đó, tài liệu cũng đánh giá những lợi ích mà hai bên thu được từ sự hợp tác này, bao gồm tăng trưởng kinh tế, đầu tư và phát triển công nghệ.

Đối với những ai quan tâm đến các khía cạnh khác của quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam, tài liệu này mở ra cơ hội để tìm hiểu thêm. Bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ quan hệ quốc tế nhận thức của người dân thành phố hồ chí minh về vai trò của asean đối với việt nam, để hiểu rõ hơn về vai trò của ASEAN trong bối cảnh khu vực. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quốc tế học chính sách hội nhập quốc tế của việt nam trong giai đoạn từ 1995 đến nay sẽ giúp bạn nắm bắt được các chính sách hội nhập của Việt Nam trong thời kỳ hiện đại. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ lịch sử đảng lãnh đạo quá trình thiết lập quan hệ việt nam với tổ chức diễn đàn hợp tác kinh tế châu á thái bình dương 1989 1998 sẽ cung cấp thêm thông tin về mối quan hệ của Việt Nam với APEC, một tổ chức quan trọng trong khu vực. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các mối quan hệ kinh tế và chính trị của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu.