CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – HOA KỲ 1. Khái quát quan hệ Việt Nam –Hoa Kỳ trước năm 1995 1. Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trước năm 1954 Bắt đầu từ những bước chân đầu tiên của thương nhân người Hoa Kỳ John White trên đất Việt vào năm 1819 với ý định lên Sài Gòn buôn bán, trong sử Việt ghi lại là "Hôn Viết" chỉ huy tàu buôn Franklin vào "Canjeo" (cửa Cần Giờ) ngày 7 Tháng 6. White có ghi lại mọi sự việc trong thời gian ở đây trong cuốn sách: “A Voyage to Cochin-China”.Đó chỉ là sự xuất hiện của người Hoa Kỳ, chứ chưa có quan hệ gì giữa 2 bên cho đến khi tiếp xúc chính thức thì mãi đến năm 1829, Tổng thống Andrew Jackson đắc cử thì Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã cử phái bộ do Edmund Roberts (sử sách Việt ghi là "Nghĩa-đức-môn La-bách") và George Thompson ("Đức-giai Tâm-gia") mang theo dự thảo hiệp định thương mại nhằm tìm cách thông thương với nước Đại Nam[29;tr.
Trong suốt quá trình cố gắng giao thiệp thì quan hệ thương mại này vẫn không thành do sự dè dặt của triều đình nhà Nguyễn. Theo lời của Edmund Roberts: “Với các thủ tục ngoại giao quá rườm rà, quan chức ủy quyền thương thuyết thì không có ý kiến rõ ràng, lại hay lảng tránh các câu hỏi trực diệ n do Mỹ nêu ra. Phía Đại Nam. Các phái viên của triều Nguyễn không đồng ý ký Hiệp định chủ yếu vì vấn đề hình thức văn bản”.5] Khoảng 15 năm sau, trong chuyến hành trình, chiến thuyền “Old Ironsides” của Hoa Kỳ đến vùng biển châu Á đã cập bến Đà Nẵng năm 1845: “Thuyền trưởng là John Percival liên lạc với các quan địa phương xin được tiếp xúc với triều Nguyễn để đặt mối giao hảo.
Được tin, vua Thiệu Trị tại Huế cử viên ngoại lang Nguyễn Long đi hỏa tốc vào Đà Nẵng hiệp cùng Kinh lịch thuộc viên ở tỉnh là Nguyễn Dụng Giai đến thăm hỏi và làm việc với Percival. Nhưng thay vì gây thêm cảm tình, Percival khi nhận được thư cầu cứu của giám mục Dominique Lefebvre thì chiếm đoạt lấy 3 chiến thuyền và một số người làm con tin, đòi nhà chức trách phải thả Lefebvre. Sự việc không giải quyết được, Percival sai nổ súng bắn lên bờ rồi nhổ neo ra khơi ngày 16 tháng 5, khiến tình hình thêm rắc rối”[29;tr. Những nỗ lực bang giao của Việt Nam – Hoa Kỳ bế tắc.
Cho đến thời điểm năm 1873, triều đình nhà Nguyễn đã có những xúc tiến, vua Tự Đức cử Bùi Viện 9 c sang Hoa Kỳ như một "đại sứ đặc mệnh toàn quyền" để nhờ cầu viện chống Pháp. Lúc này, Hoa Kỳ và Pháp đang gặp phải căng thẳng ở Mexico nên Hoa Kỳ cũng tỏ ý muốn giúp. Chớ trêu thay, hai bên không đạt được cam kết chính thức do quốc thư bị bỏ quên. Năm 1875 vua Tự Đức ủy nhiệm ông lại có mặt tại Hoa Kỳ một lần nữa.
Tuy lần này đã không quên quốc thư nhưng lúc này Hoa Kỳ và Pháp đã trở lại bình thường nên Tổng thống Ulysses Grant lại khước từ cam kết giúp Đại Nam đánh Pháp. Bên cạnh đó, cũng có những sự kiện về lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ chưa được biết đến một cách rộng rãi. Ngài Thomas Jefferson trước khi trở thành đã từng nỗ lực tìm cách nhập giống lúa tốt, những giống gạo trắng ngon và năng suất cao của Việt Nam để trồng ở nông trại ở bang Virginia. Một dấu tích lịch sử đáng nhớ đó là việc ra đi tìm đường cứu nước của Việt Nam của nhà yêu nước Nguyễn Tất Thành cách đây 108 năm đã đến cảng Boston- nơi diễn ra sự kiện đầu tiện của cuộc cách mạng giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ.
Trong Thế chiến thứ hai, trên mặt trận chống Phát- xít Việt Nam và Hoa Kỳ có mối quan hệ đồng minh. Đầu năm 1940, cơ quan OSS (tiền thân của CIA) của Hoa Kỳ đã giúp đỡ Mặt trận Việt Minh thuốc men và một số vũ khí để chống Nhật. Mặt trận Việt Minh do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã cứu giúp những phi công Hoa Kỳ bị quân Nhật Bản bắn rơi ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn thiết lập quan hệ hữu nghị với Hoa Kỳ nên đã gửi 14 lá thư cho lãnh đạo Hoa Kỳ, trong đó có lá thư tới Tổng thống Truman để đề nghị thiết lập mối quan hệ "hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ".
Tuy nhiên, thật đáng tiếc cho những cơ hội lịch sử bị bỏ lỡ. Chiến tranh Đông Dương (1945-1954), vì lợi ích và mục đích đối đầu với các nước XHCN của mình Hoa Kỳ đã giúp Pháp trong cuộc chiến chống cộng và tái chiếm thuộc địa: “Ngày 8/5/1950, Tổng thống Hoa Kỳ Truman chính thức quyết định viện trợ cho Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, ủng hộ chính phủ quốc gia Bảo Đại.Tháng 12/1950 Hoa Kỳ, Pháp cùng các chính phủ bù nhìn Việt Nam, Miên, Lào kí “Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương”, Hoa Kỳ cam kết viện trợ quân sự cho chính quyền bù nhìn 3 nước.Tháng 9/1951 Hoa Kỳ và chính phủ bù nhìn Bảo Đại kí hiệp ước hợp tác kinh tế Việt Nam- Hoa Kỳ nhằm chuyển thẳng một phần viện trợ của Hoa Kỳ cho chính phủ Bảo Đại. Từ năm 1950 – 1953, Hoa Kỳ đưa vào Đông Dương khoảng 400.000 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh. Riêng trong 2 năm (1952– 1953), số tiền Hoa Kỳ cho Pháp vay là 314 triệu USD.
10 c Các phái đoàn viện trợ kinh tế, cố vấn quân sự cũng lần lượt sang Việt Nam. Tháng 5/1950, phái đoàn viện trợ Hoa Kỳ do Robert Blum dẫn đầu đến Sài Gòn. Tháng 9/1950, đoàn cố vấn quân sự MAAG được thành lập ở Việt Nam. Năm 1952, các phòng thông tin Hoa Kỳ được đặt ở nhiều trung tâm trong vùng chiếm đóng.
Các chính khách, tướng tá Hoa Kỳ đi lại ở Việt Nam ngày càng nhiều. Khoản viện trợ Hoa Kỳ tài trợ cho Pháp lên đến 80% chiến phí, khoảng 1,5 tỷ USD”[32]. Trong trận chiến quyết định tại Điện Biên Phủ, Hoa Kỳ trực tiếp chở khoảng 16.000 quân Pháp vào Điện Biên Phủ đồng thời còn hỗ trợ không quân cho quân đội Pháp. Nhờ những khoản viện trợ mà thực dân Pháp mới có thể duy trì được cuộc chiến; đồng nghĩa với đó, mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trở nên xấu đi.
Việt Nam chủ trương cương quyết với Hoa Kỳ, trong Đại hội Đảng lần thứ II (1951) xác định: “Tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược và đánh bại can thiệp Mỹ, giành độc lập, thống nhất hoàn toàn và bảo vệ hòa bình thế giới”[32]. Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1954 – 1975 Trong giai đoạn sau hiệp định Geneva (1954) đến trước năm 1960, mối quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam xoay quanh vấn đề thống nhất miền Bắc và miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ can thiệp và lún sâu vào cuộc chiến tranh Việt Nam vì mục đích độc chiếm Việt Nam cũng như toàn bộ vùng Viễn Đông, mở rộng tầm ảnh hưởng trên toàn thế giới. Sau hiệp định Geneva 1954, có điều khoản Tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử hai miền Bắc – Nam Việt Nam.
Pháp để lại trách nhiệm thi hành những điều khoản còn lại của Hiệp định cho Hoa Kỳ và chính quyền Ngô Đình Diệm những người kế tục Pháp ở miền Nam. Hoa Kỳ ra sức thực hiện ý đồ đã vạch ra từ trước nhằm độc chiếm miền Nam Việt Nam, tiến tới độc chiếm toàn Đông Dương. Từ tháng 7/ 1954, Hoa Kỳ với lí do không tham gia kí tuyên bố cuối cùng của hội nghị Geneva, ngang nhiên không chấp nhận các quy định của Hiệp định Geneva và từng bước gạt Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam. Trong “The Causes of the Vietnam War” có viết: “Hoa Kỳ có tham gia Hội nghị Geneva năm 1954 với một phái đoàn do Bedell Smith làm trưởng đoàn nhưng cũng như phái đoàn Quốc gia Việt Nam, không ký bản hiệp định.
Khi chính phủ Đệ Nhất Cộng hòa Việt Nam của Tổng thống Ngô Đình Diệm từ chối tổng tuyển cử, Hoa Kỳ cũng ủng hộ lập trường đó. Dựa trên thuyết Domino trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh Hoa Kỳ tăng viện trợ cho 11 c Việt Nam Cộng hòa.000 cố vấn quân sự Hoa Kỳ và đến đầu năm 1965 thì Tổng thống Lyndon B. Johnson cho đổ bộ lực lượng Thủy quân lục chiến, chính thức tham chiến”[37]. Trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), phía Hoa Kỳ trở thành hậu thuẫn cho Việt Nam Cộng hòa ở Miền Nam Việt Nam đã cản trở thống nhất Việt Nam, can thiệp ngày càng sâu và tham gia vào chiến tranh Việt Nam.
Cuối 1964, những thất bại liên tiếp trên chiến trường, số lượng ấp chiến lược được giải phóng bởi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và lực lượng du kích liên tục tăng, không có dấu hiệu giảm và chiến trường Sài Gòn trở nên cực kì lộn xộn và rối ren bởi hàng loạt các cuộc đảo chính khác nhau khiến Chương trình “Chiến tranh đặc biệt” của Hoa Kỳ có nguy cơ sụp đổ. Tới 1966, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã giành được hàng loạt chiến thắng như trận Núi Thành, tấn công sân bay Tân Sơn Nhất (1966),. Trước tình hình đó, Hoa Kỳ bắt đầu đề cập tới giải pháp đàm phán hòa bình. Tháng 1/1967, Tổng thống Johnson tuyên bố: “Hoa Kỳ sẵn sàng đi đến bất cứ đâu, bất cứ lúc nào để gặp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm bàn bạc về hòa bình”[37].
Sau đó, vào ngày 28/1/1967, Ngoại trưởng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: “Nếu Hoa Kỳ thành thật có mong muốn hòa đàm, họ trước hết phải chấm dứt vô điều kiện các cuộc oanh tạc và các hành vi gây chiến chống miền Bắc”[37]. Tuy nhiên trên thực tế, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa vẫn có những hành động leo thang chiến tranh. Tháng 7 và tháng 8/1967, chính quyền Hoa Kỳ thông qua hai nhà trung gian của Pháp R.Marcovich thăm dò khả năng và điều kiện để bất đầu nói chuyện nhưng vẫn chưa đạt kết quả đáng kể. Trước dư luận quốc tế đang trèn ép mạnh mẽ và đặc biệt là phong trào chống chiến tranh nổi lên ở Hoa Kỳ, ngày 29/9/1967, trong diễn văn của Tổng thống Johnson nêu rõ: “Hoa Kỳ sẵn sàng ngừng ngay việc bắn phá miền Bắc Việt Nam cảu máy bay và tàu chiến Hoa Kỳ khi việc này dẫn tới cuộc thảo luận có kết quả và không bị lợi dụng”[37].
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bác bỏ. Nét tiêu biểu trong đấu tranh ngoại giao từ 1968 đến trước Hiệp định Paris là đỉnh cao nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao để đi đến ký kết.