Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Báo chí học (mã số 62.01) của tác giả Dương Văn Thắng, bảo vệ năm 2013 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Dương Xuân Sơn, có tiêu đề chính thức: "Nghiên cứu hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông về an sinh xã hội ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế".

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng cùng với quá trình công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, hệ thống an sinh xã hội (ASXH) giữ vai trò như một lưới an toàn bảo vệ con người, đặc biệt là nhóm đối tượng yếu thế trước các rủi ro kinh tế - xã hội, thiên tai, dịch bệnh và khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tại Việt Nam, chủ trương của Đảng từ Đại hội IX (năm 2001) lần đầu tiên đưa cụm từ ASXH vào Nghị quyết, tiếp tục được khẳng định qua Đại hội X (năm 2006) và Đại hội XI (năm 2011) với các mục tiêu cụ thể về phát triển bảo hiểm xã hội (BHXH), tiến tới bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân và giảm nghèo bền vững. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách ASXH trong nước vẫn bộc lộ hạn chế: giảm nghèo chưa bền vững, nguồn lực ngân sách còn hạn hẹp, nguy cơ mất cân đối quỹ BHXH và BHYT trong tương lai gần, cùng áp lực già hóa dân số. Báo chí là công cụ truyền thông đại chúng thiết yếu có nhiệm vụ định hướng nhận thức và hành vi xã hội. Dù vậy, cho đến thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình khoa học nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông ASXH.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa và hình thành khung lý thuyết về hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông về ASXH làm cơ sở cho việc khảo sát, đánh giá thực trạng; từ đó xây dựng các giải pháp phù hợp và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông của báo chí về ASXH trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hiệu quả truyền thông, hiệu quả báo chí, ASXH; quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo đảm ASXH và tăng cường công tác truyền thông về ASXH.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông về ASXH ở nước ta thời gian qua, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.
  3. Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông về ASXH trong thời gian tới.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các yếu tố chủ yếu tạo nên hiệu quả truyền thông về ASXH của báo chí ở góc độ nguồn phát, thông điệp và kênh truyền.

Phạm vi nghiên cứu được xác định trên các phương diện:

  • Về nội dung: Khảo sát nội dung báo chí phản ánh 3 trụ cột cơ bản của hệ thống ASXH gồm BHXH (bao gồm cả BHYT, bảo hiểm thất nghiệp - BHTN); Ưu đãi xã hội (ƯĐXH); Bảo trợ xã hội (BTXH - bao gồm trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội); đồng thời nghiên cứu hình thức chuyển tải thông qua thể loại báo chí.
  • Về kênh truyền: Khảo sát 5 tờ báo in gồm Báo Nhân Dân, Báo Lao động, Báo Lao động & Xã hội, Báo Sức khỏe & Đời sống và Báo BHXH.
  • Về thời gian: Khảo sát các tác phẩm đăng tải trong 6 tháng cuối năm 2011.
  • Về nguồn phát: Khảo sát hoạt động truyền thông của BHXH Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan lịch sử nghiên cứu, tác giả điểm lại hệ thống các công trình trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

Đối với nghiên cứu ngoài nước:

  • Về lĩnh vực ASXH và truyền thông: Tài liệu "Social Security Principles" (Cẩm nang ASXH, 1998) do Vụ ASXH của Văn phòng ILO tại Geneva và Trung tâm Huấn luyện Quốc tế Turin biên soạn (được BHXH Việt Nam dịch năm 1999 gồm 4 tập). Trong đó, tập 2 dành một bài viết trình bày về quan hệ công chúng (QHCC) trong ASXH, phân tích các kênh truyền thông và cách thức tối ưu hóa hiệu quả truyền thông của báo chí, phát thanh, truyền hình. Cuốn "Social Marketing - Improving the Quality of Life" của Philip Kotler, Ned Roberto và Nancy Lee (NXB SAGE, 2002; được tác giả luận án dịch năm 2009) trình bày việc lựa chọn kênh truyền thông chiến lược nhằm thay đổi hành vi xã hội vì lợi ích cộng đồng.
  • Về lý luận hiệu quả báo chí: Cuốn "Cơ sở lý luận của báo chí" (tập 2) của E.Prôkhôrốp (Đào Tấn Anh và Đới Thị Kim Thoa dịch, NXB Thông tấn, 2004) tại Chương IV đã phân tích sâu về hiệu lực, tính kết quả và hiệu quả báo chí. Bài dịch của Tường Vân trên Tạp chí BHXH (tháng 4/2012) từ bản tin ISSA News phân tích việc ứng dụng công nghệ mới vào truyền thông ASXH tại châu Phi.
  • Tại Trung Quốc: Tạp chí An sinh xã hội Trung Quốc (Bộ Nhân lực và ASXH Trung Quốc, xuất bản từ 1994) đăng tải nhiều nghiên cứu cải cách chế độ; công trình của Chung Hồng Lượng (2009) về quyền lợi xã hội và nhu cầu người dân; bài viết của Dư Thục Quang (2004) chỉ ra hạn chế trong công tác truyền thông ASXH; bài viết của Đỗ Nghiên Đông (2008) đánh giá thực trạng truyền thông ASXH ở nông thôn Trung Quốc.
  • Kỷ yếu hội thảo khoa học "ASXH ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (tháng 3/2012) tập hợp các bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế của Nguyễn Thị Lan Hương, Phạm Hữu Tiến, Nguyễn Thành Lợi, Đinh Công Tuấn, Nguyễn Thu Phương.

Đối với nghiên cứu trong nước:

  • Nghiên cứu lý luận báo chí và truyền thông: Phan Quang (1992) trong "Nghề nghiệp và công việc của Nhà báo" bước đầu nêu khái niệm hiệu quả báo chí gắn với tính kịp thời, chính xác và hấp dẫn. Tạ Ngọc Tấn (2001) trong "Truyền thông đại chúng" phân tích mô hình, cơ chế tác động và ba cấp độ hiệu quả xã hội của truyền thông. Giáo trình "Cơ sở lý luận Báo chí - Truyền thông" của Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (1995, tái bản 2007, 2011) và "Giáo trình lý luận báo chí truyền thông" của Dương Xuân Sơn (2012) đã phân tích bản chất, các yếu tố tác động và công thức đánh giá hiệu quả báo chí. Mai Quỳnh Nam (2001) đưa ra 6 chỉ tiêu hiệu quả truyền thông đại chúng. Nguyễn Thị Thoa (2011) trong "Giáo trình tác phẩm báo chí đại cương" đề xuất các tiêu chí đo lường giá trị sử dụng của tác phẩm. Nguyễn Văn Dững (2012) trong "Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản" phân tích cơ chế tác động của truyền thông vào dư luận xã hội.
  • Nghiên cứu về báo chí với các mảng an sinh xã hội: Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Hường (2006) về "Báo chí với vấn đề ASXH"; luận văn thạc sĩ của Dương Văn Thắng (2008) về "Báo chí với vấn đề BHXH"; các khóa luận cử nhân của Bùi Khánh Cự (2000), Dương Văn Thắng (2003), Đinh Thu Hiền (2006); các đề tài nghiên cứu ngành BHXH của Trần Xuân Vinh (2001, 2002, 2011), Nguyễn Xuân Đóa (2000), Phạm Văn Cảnh (2004), Đoàn Phú Nho (2010).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình nêu trên phần lớn tiếp cận truyền thông đại chúng ở góc độ lý thuyết chung, hoặc khảo sát riêng lẻ từng lĩnh vực bảo hiểm ở cấp độ cử nhân, thạc sĩ, hoặc tập trung phân tích chính sách kinh tế - xã hội thuần túy. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống khung lý thuyết và thực tiễn về hiệu quả báo chí trong truyền thông ASXH ở cấp độ luận án tiến sĩ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm, mô hình và nguyên lý khoa học sau:

Khái niệm và mô hình truyền thông:

  • Truyền thông được định nghĩa là hoạt động giao tiếp của con người nhằm làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi, tạo ra sự liên kết xã hội (tổng hợp từ quan điểm của Dương Xuân Sơn, Tạ Ngọc Tấn, Trần Hữu Quang, Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng, Phạm Thành Hưng). Truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin rộng rãi đến xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.
  • Luận án sử dụng mô hình truyền thông 5 thành tố của Harold Lasswell (Nguồn phát - Thông điệp - Kênh - Người nhận - Hiệu quả), tích hợp với lý thuyết điều khiển học của Claude Shannon bổ sung thêm 2 yếu tố: Nhiễu (Noise) và Phản hồi (Feedback) để tạo thành mô hình 7 thành tố hoàn chỉnh.
  • Về cơ chế tác động: Vận dụng mô hình của Nguyễn Văn Dững (2012), mô tả quá trình từ thực tiễn khách quan qua chủ thể truyền thông, mã hóa thành sản phẩm truyền thông chuyển tải qua kênh, tác động vào ý thức công chúng tạo nên hiệu lực (dư luận xã hội), từ đó chuyển biến thành hành vi, thái độ thực tế (tạo nên hiệu quả).

Lý thuyết về hiệu quả báo chí:

  • Phân biệt hiệu lực và hiệu quả (theo E.Prôkhôrốp): Hiệu lực là mức độ đạt kết quả trực tiếp, tức thì, tạo dư luận xã hội và nâng cao uy tín cơ quan báo chí; hiệu quả là kết quả lâu dài thể hiện ở sự biến đổi nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng.
  • Công thức đánh giá hiệu quả báo chí (theo Dương Xuân Sơn): $$H = \frac{K}{M} = \frac{M_k - M_đ}{M}$$ Trong đó: $H$ là hiệu quả báo chí; $K$ là kết quả đạt được; $M$ là mục đích đề ra; $M_đ$ là mức độ nhận thức ban đầu; $M_k$ là mức độ nhận thức kết thúc.
  • Hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả báo chí gồm 2 tiêu chí:
    1. Tiêu chí tinh thần: Gồm mức độ hình thành hứng thú, tri thức (am hiểu thực tế, tiếp thu tri thức mới, vận dụng vào đời sống) và niềm tin (thống nhất nhận thức với hành động).
    2. Tiêu chí thực tiễn: Đánh giá thông qua giá trị sử dụng của tác phẩm báo chí, mức độ chuyển biến hành vi xã hội theo mục đích đã định.

Lý thuyết về an sinh xã hội:

  • Luận án tiếp cận ASXH trên nền tảng lý thuyết rủi ro (xã hội quản lý rủi ro nhằm phòng ngừa, giảm thiểu, khắc phục thiệt hại) và định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Vận dụng quan điểm của GS.TS Phạm Xuân Nam về 3 chức năng của ASXH: phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro, khắc phục rủi ro. Khung phân tích tập trung vào 3 trụ cột: BHXH (kèm BHYT, BHTN), Ưu đãi xã hội và Bảo trợ xã hội.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp nghiên cứu văn bản, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; kỹ thuật phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu văn kiện Đảng, văn bản pháp luật và công trình học thuật.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn (kết hợp định lượng và định tính):
    • Phương pháp khảo sát hiện trạng (phân tích nội dung báo chí): Khảo sát 574 số báo với hơn 50.000 tác phẩm trên 5 tờ báo in trong 6 tháng cuối năm 2011; phân loại theo 7 nhóm nội dung và các thể loại báo chí.
    • Phương pháp điều tra xã hội học định lượng: Thực hiện bằng bảng hỏi với quy mô hơn 2.100 phiếu điều tra, xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp và phân tích trực tiếp.
    • Phương pháp nghiên cứu định tính: Phân tích các câu hỏi mở trong phiếu trưng cầu ý kiến để thu thập đánh giá chiều sâu của công chúng.
Phương pháp thu thập dữ liệu Đối tượng / Khách thể khảo sát Quy mô mẫu / Tư liệu
Khảo sát nội dung báo chí (Báo in) 5 cơ quan báo chí: Báo Nhân Dân, Báo Lao động, Báo Lao động & Xã hội, Báo Sức khỏe & Đời sống, Báo BHXH 574 số báo; hơn 50.000 tác phẩm báo chí (6 tháng cuối năm 2011)
Điều tra xã hội học (Nhóm 1) Giám đốc BHXH cấp tỉnh/thành phố và quận/huyện trong cả nước 703 phiếu (63 tỉnh/thành phố và 640 quận/huyện)
Điều tra xã hội học (Nhóm 2) Giám đốc các doanh nghiệp đại diện các vùng miền (Điện Biên, Hòa Bình, Hưng Yên, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Gia Lai, Bình Dương, Cần Thơ) 800 phiếu
Điều tra xã hội học (Nhóm 3 và 4) Bệnh nhân khám chữa bệnh tại 3 bệnh viện tuyến Trung ương (Bạch Mai, K, E) và sinh viên Học viện Báo chí & Tuyên truyền 650 phiếu
Khảo sát nguồn phát thông tin Cơ quan Bảo hiểm Xã hội Việt Nam Hoạt động truyền thông và mô hình phối hợp truyền thông

Nội dung chính theo từng chương

Chƣơng 1 - Cơ sở lý luận hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông an sinh xã hội

Chương 1 gồm 3 tiết nội dung và phần tiểu kết:

  • Tiết 1.1: Khái quát lý luận truyền thông và hiệu quả báo chí. Tác giả phân tích các khái niệm truyền thông, truyền thông đại chúng, cấu trúc mô hình truyền thông 7 yếu tố và cơ chế tác động của thông điệp vào ý thức xã hội. Tác giả phân biệt rõ hai khái niệm "hiệu lực" (tác động trực tiếp, tức thì, tạo dư luận xã hội) và "hiệu quả" (kết quả lâu dài về nhận thức, thái độ, hành vi). Chương này xác lập hai nhóm tiêu chí đánh giá hiệu quả báo chí (tiêu chí tinh thần gồm hứng thú, tri thức, niềm tin; tiêu chí thực tiễn thể hiện qua giá trị sử dụng tác phẩm và công thức $H = K/M$). Phân tích 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả báo chí: chủ thể sáng tạo (nhà báo), tác phẩm báo chí, cơ quan báo chí (kênh truyền), và công chúng tiếp nhận cùng sự phối hợp của nguồn cung cấp thông tin.
  • Tiết 1.2: Hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông an sinh xã hội. Tác giả khái quát lịch sử hình thành ASXH từ đạo luật BHXH năm 1850 tại Đức dưới thời Thủ tướng Bismark, đạo luật ASXH năm 1935 tại Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền 1948 của Liên hợp quốc đến Công ước 102 năm 1952 của ILO quy định 9 chế độ an sinh tối thiểu. Phân tích các khái niệm ASXH theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp, định nghĩa của WB, ADB và ILO; khẳng định ASXH vận hành dựa trên lý thuyết rủi ro và đảm nhận 3 chức năng: phòng ngừa, giảm thiểu, khắc phục rủi ro. Khẳng định báo chí có vai trò vừa phản ánh hiện thực, vừa giám sát, phản biện, hướng dẫn dư luận và thúc đẩy thực thi chính sách ASXH.
  • Tiết 1.3: Thời kỳ hội nhập quốc tế ở nước ta và yêu cầu hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông an sinh xã hội. Phân tích bối cảnh toàn cầu hóa mang lại cơ hội phát triển nhưng cũng gia tăng các rủi ro kinh tế - xã hội, biến đổi khí hậu và tác động của già hóa dân số lên quỹ BHXH, BHYT. Tác giả luận giải các quan điểm chỉ đạo của Đảng từ Đại hội IX, X đến Đại hội XI, chỉ rõ yêu cầu cấp bách phải đổi mới tư duy, nâng cao tính chuyên nghiệp và tính định hướng của báo chí trong việc củng cố lưới an sinh quốc gia.

Chƣơng 2 - Thực trạng hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông về an sinh xã hội ở nƣớc ta

Chương 2 gồm 4 tiết nội dung và phần tiểu kết:

  • Tiết 2.1: Thực trạng thông tin về an sinh xã hội trên 5 tờ báo khảo sát. Tác giả thống kê và phân tích 574 số báo với hơn 50.000 tác phẩm đăng tải trong 6 tháng cuối năm 2011 trên 5 báo in (Nhân Dân, Lao động, Lao động & Xã hội, Sức khỏe & Đời sống, Báo BHXH). Phân tích cơ cấu nội dung theo 7 mảng: BHXH, BHYT, BHTN, ƯĐXH, TGXH, CTXH và nội dung ASXH khác. Phân tích việc sử dụng các thể loại báo chí, chỉ ra rằng thể loại tin tức chiếm tỷ trọng áp đảo, trong khi các thể loại chính luận chuyên sâu (bình luận, chuyên luận, phóng sự điều tra) còn hạn chế về số lượng và chiều sâu phản ánh.
  • Tiết 2.2: Hiệu ứng, hiệu quả báo chí qua phản hồi của công chúng an sinh xã hội. Phân tích kết quả điều tra xã hội học từ hơn 2.100 phiếu hỏi thuộc 4 nhóm công chúng. Báo chí đã giúp nâng cao mức độ am hiểu về quyền lợi, nghĩa vụ tham gia BHYT, BHXH, nhưng mức độ nhận thức sâu về các quy định kỹ thuật (cách tính chế độ, điều kiện hưởng) vẫn còn thấp. Niềm tin vào hệ thống an sinh xã hội còn bị tác động bởi các tồn tại trong thực tiễn như thủ tục hành chính, chất lượng khám chữa bệnh BHYT và tình trạng nợ đọng BHXH của doanh nghiệp.
  • Tiết 2.3: Khảo sát yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả truyền thông an sinh xã hội của báo chí ở góc độ nguồn cung cấp thông tin. Khảo sát hoạt động của cơ quan BHXH Việt Nam, phân tích mô hình phối hợp cung cấp thông tin giữa cơ quan bảo hiểm và các cơ quan báo chí. Chỉ ra các rào cản từ việc cung cấp thông tin chậm, thiếu tính chủ động, cơ chế phát ngôn chưa linh hoạt làm ảnh hưởng đến độ lan tỏa và độ chính xác của thông tin báo chí.
  • Tiết 2.4: Nhận xét chung. Tổng kết các ưu điểm: Báo chí đã bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, tuyên truyền kịp thời chính sách pháp luật, biểu dương gương người tốt việc tốt, phản ánh nguyện vọng của người lao động. Chỉ rõ các hạn chế: Thông tin còn tản mạn, nặng về phổ biến một chiều, thiếu tính phát hiện và phản biện; một số bài viết dùng thuật ngữ chuyên môn thiếu chuẩn xác, chưa hấp dẫn người đọc; sự phối hợp giữa báo chí và nguồn tin ASXH chưa đồng bộ.

Chƣơng 3 - Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông về an sinh xã hội của báo chí ở nƣớc ta trong thời gian tới

Chương 3 gồm 3 tiết nội dung và phần tiểu kết:

  • Tiết 3.1: Những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện an sinh xã hội và nguyên tắc xây dựng giải pháp. Xác định các thách thức trong giai đoạn mới như già hóa dân số, nguy cơ mất cân đối quỹ BHXH/BHYT, yêu cầu mở rộng diện bao phủ BHTN và BHYT toàn dân. Xác lập các nguyên tắc xây dựng giải pháp: bảo đảm tính định hướng chính trị của báo chí cách mạng; xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của công chúng; tuân thủ quy luật truyền thông; bảo đảm tính khả thi và đồng bộ giữa các khâu của quá trình truyền thông.
  • Tiết 3.2: Đề xuất một số giải pháp. Trình bày hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông tác động vào các yếu tố cấu thành:
    • Đối với cơ quan báo chí và người làm báo: Đào tạo, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị và kiến thức chuyên sâu về chính sách ASXH cho phóng viên, biên tập viên; nâng cao đạo đức nghề nghiệp; đổi mới phương thức thể hiện thông điệp, giảm lối đưa tin tuyên truyền hành chính khô cứng; đa dạng hóa thể loại báo chí, gia tăng các bài viết phân tích, phóng sự điều tra và diễn đàn đối thoại; ứng dụng trình bày báo chí hiện đại để tăng tính hấp dẫn.
    • Đối với nguồn cung cấp thông tin: Hoàn thiện mô hình tổ chức truyền thông của các cơ quan quản lý ASXH (đặc biệt là ngành BHXH); chuyên nghiệp hóa quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí; chủ động cung cấp thông tin chính thống định kỳ, đột xuất nhằm định hướng dư luận xã hội khi nảy sinh các vấn đề phức tạp.
    • Tăng cường tương tác với công chúng: Mở rộng các chuyên trang, chuyên mục tiếp nhận phản hồi, giải đáp thắc mắc và tư vấn chế độ ASXH trực tiếp cho người lao động và nhân dân.
  • Tiết 3.3: Một số kiến nghị. Đề xuất kiến nghị với Đảng và Nhà nước về hoàn thiện hệ thống luật pháp về ASXH và báo chí; kiến nghị các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí (Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông) nâng cao hiệu quả định hướng nội dung; kiến nghị các bộ, ngành liên quan (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, BHXH Việt Nam) dành nguồn lực kinh phí thích đáng và xây dựng chiến lược truyền thông dài hạn về ASXH.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và khoa học:

  • Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ khung lý thuyết về mối quan hệ giữa báo chí, truyền thông và an sinh xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
  • Xác lập hệ thống khái niệm học thuật và tiêu chí đánh giá hiệu quả báo chí trong lĩnh vực ASXH, kết hợp giữa tiêu chí tinh thần (hứng thú, tri thức, niềm tin) và tiêu chí thực tiễn (giá trị sử dụng tác phẩm, chuyển biến hành vi) thông qua công thức tính toán cụ thể.
  • Phân định rành mạch giữa khái niệm "hiệu lực" (kết quả trực tiếp, tức thì tác động vào dư luận xã hội) và "hiệu quả" (kết quả thực tế lâu dài làm chuyển biến nhận thức và hành vi của công chúng), đóng góp cơ sở phương pháp luận cho nghiên cứu báo chí học chuyên ngành.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng quy mô lớn về diện mạo thông tin ASXH trên báo in Việt Nam thông qua khảo sát 5 tờ báo tiêu biểu với 574 số báo, phân tích hơn 50.000 tác phẩm báo chí trong thời điểm bản lề của việc thực thi các luật an sinh xã hội.
  • Đánh giá khách quan mức độ tác động của báo chí đến công chúng thông qua điều tra xã hội học trên 2.100 mẫu thuộc 4 nhóm đối tượng quản lý, doanh nghiệp, bệnh nhân và sinh viên.
  • Hệ thống hóa các ưu điểm, chỉ ra nguyên nhân của các hạn chế trong hoạt động truyền thông ASXH trên báo chí hiện nay, xuất phát từ cả phía cơ quan báo chí lẫn nguồn cung cấp thông tin.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có tính đồng bộ, khả thi, phục vụ trực tiếp cho việc hoạch định chiến lược thông tin tuyên truyền của ngành BHXH, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và các cơ quan thông tấn báo chí.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế của luận án:

  • Phạm vi khảo sát kênh truyền thông mới chỉ giới hạn trên 5 ấn phẩm báo in, chưa mở rộng khảo sát các loại hình báo chí khác như phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử.
  • Thời gian khảo sát văn bản tập trung trong 6 tháng cuối năm 2011, phản ánh một giai đoạn lịch sử cụ thể, chưa bao quát được tiến trình thay đổi chính sách trong dài hạn.
  • Khảo sát nguồn cung cấp thông tin tập trung chủ yếu vào cơ quan Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (thuộc trụ cột BHXH, BHYT, BHTN), chưa khảo sát sâu nguồn phát của các cơ quan quản lý mảng Ưu đãi xã hội và Bảo trợ xã hội.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các loại hình báo chí điện tử, truyền hình và mạng xã hội trong hoạt động truyền thông ASXH thời kỳ chuyển đổi số.
  • Nghiên cứu đo lường hiệu quả truyền thông ASXH trên các nhóm công chúng đặc thù như lao động phi chính thức, người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Mở rộng đánh giá tác động của truyền thông đối với quá trình sửa đổi, bổ sung các luật chuyên ngành như Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế và Luật Việc làm ở các giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Báo chí học, Truyền thông đại chúng, Xã hội học và Công tác xã hội trong việc nghiên cứu lý thuyết hiệu quả báo chí và phương pháp khảo sát liên ngành.
  • Đối với các cơ quan báo chí và người làm báo: Cung cấp tài liệu tham khảo nghiệp vụ giúp lãnh đạo cơ quan báo chí, phóng viên, biên tập viên nắm bắt đặc thù thông tin an sinh xã hội, từ đó đổi mới đề tài, cân đối thể loại và nâng cao chất lượng tác phẩm báo chí.
  • Đối với cơ quan hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách ASXH: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho cán bộ quản lý tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, BHXH Việt Nam, Bộ Y tế và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong việc xây dựng cơ chế phối hợp cung cấp thông tin, phát ngôn và triển khai chiến lược truyền thông chính sách an sinh xã hội.

Phần đáng tham khảo nhất của công trình là Chương 1 (hệ thống hóa khung lý luận và tiêu chí đánh giá hiệu quả báo chí) và Chương 2 (phương pháp luận cùng dữ liệu khảo sát thực chứng trên 5 tờ báo và hơn 2.100 phiếu điều tra xã hội học).

Câu hỏi thường gặp

Hiệu quả báo chí được luận án xác định và đo lường dựa trên những tiêu chí nào?

Luận án xác định hiệu quả báo chí dựa trên 2 hệ tiêu chí:

  1. Tiêu chí tinh thần: Đo lường sự thay đổi trong nhận thức của công chúng gồm 3 cấp độ: mức độ hình thành hứng thú, tri thức (am hiểu thực tế, tiếp thu tri thức mới, vận dụng vào đời sống) và niềm tin (thống nhất nhận thức với hành động). Công thức xác định kết quả nhận thức là $K = M_k - M_đ$ (với $M_k$ là nhận thức kết thúc, $M_đ$ là nhận thức ban đầu).
  2. Tiêu chí thực tiễn: Đánh giá thông qua giá trị sử dụng của tác phẩm báo chí và mức độ thay đổi hành vi thực tế của công chúng phù hợp với mục đích truyền thông, xác định qua công thức: $$H = \frac{K}{M} = \frac{M_k - M_đ}{M}$$ Trong đó $H$ là hiệu quả báo chí, $K$ là kết quả, $M$ là mục đích đặt ra.

Dữ liệu khảo sát thực tiễn của luận án được thu thập từ những nguồn nào và quy mô ra sao?

Dữ liệu thực tiễn được thu thập đồng bộ từ 3 nguồn:

  • Khảo sát báo chí: Khảo sát 574 số báo với hơn 50.000 tác phẩm báo chí trên 5 tờ báo in (Nhân Dân, Lao động, Lao động & Xã hội, Sức khỏe & Đời sống, BHXH) trong 6 tháng cuối năm 2011.
  • Điều tra xã hội học: Thực hiện qua hơn 2.100 phiếu hỏi ý kiến trên 4 nhóm đối tượng: (1) 703 Giám đốc BHXH (63 tỉnh/thành phố và 640 quận/huyện); (2) 800 Giám đốc doanh nghiệp tại 8 tỉnh/thành phố (Điện Biên, Hòa Bình, Hưng Yên, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Gia Lai, Bình Dương, Cần Thơ); (3 và 4) 650 bệnh nhân tại 3 bệnh viện Trung ương (Bạch Mai, K, E) và sinh viên Học viện Báo chí & Tuyên truyền.
  • Khảo sát nguồn phát: Khảo sát thực trạng hoạt động truyền thông và mô hình phối hợp của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam.

Khung lý thuyết an sinh xã hội được luận án vận dụng dựa trên những nền tảng nào?

Luận án tiếp cận an sinh xã hội dựa trên:

  • Lý thuyết rủi ro: Xã hội sử dụng các biện pháp công cộng để quản lý rủi ro nhằm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục các rủi ro làm suy giảm hoặc mất thu nhập của người dân.
  • Định nghĩa và tiêu chuẩn quốc tế của ILO: Vận dụng Công ước 102 năm 1952 của ILO quy định 9 chế độ an sinh tối thiểu (y tế, ốm đau, thất nghiệp, tuổi già, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, gia đình, thai sản, tàn tật không tự chăm sóc, tiền tuất).
  • Cấu trúc hệ thống ASXH tại Việt Nam: Phân tích 3 chức năng cơ bản theo GS.TS Phạm Xuân Nam (phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro, khắc phục rủi ro), tập trung khảo sát 3 trụ cột: Bảo hiểm xã hội (gồm BHYT, BHTN), Ưu đãi xã hội và Bảo trợ xã hội.

Sự khác biệt giữa "hiệu lực" và "hiệu quả" của báo chí được luận án phân định như thế nào?

Dựa trên quan điểm của E.Prôkhôrốp và Nguyễn Văn Dững, luận án phân định:

  • Hiệu lực báo chí: Là mức độ tác động trực tiếp, tức thì của thông tin báo chí lên ý thức xã hội, tạo nên các hiệu ứng xã hội như dư luận xã hội, phản ứng tâm lý, đồng thời củng cố uy tín và thương hiệu của cơ quan báo chí đối với các thiết chế xã hội.
  • Hiệu quả báo chí: Là kết quả cuối cùng, lâu dài và sâu sắc của quá trình truyền thông, thể hiện ở những biến đổi thực tế về nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng theo chiều hướng tích cực, phù hợp với mục đích chính trị - xã hội mà hoạt động báo chí hướng tới.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Dương Văn Thắng là công trình khoa học chuyên ngành Báo chí học nghiên cứu có hệ thống về hiệu quả truyền thông của báo chí trong lĩnh vực an sinh xã hội tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp luận truyền thông đại chúng với lý thuyết rủi ro và các tiêu chuẩn an sinh quốc tế, luận án đã xây dựng khung tiêu chí đánh giá hiệu quả báo chí trên cả bình diện tinh thần và thực tiễn. Nền tảng dữ liệu thực chứng thu thập từ 5 tờ báo in và hơn 2.100 phiếu điều tra xã hội học đã phản ánh khách quan bức tranh thông tin và mức độ tiếp nhận chính sách của công chúng trong thời kỳ hội nhập. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang giá trị ứng dụng thiết thực đối với công tác quản lý báo chí, hoạt động nghiệp vụ của các tòa soạn và chiến lược truyền thông chính sách của các cơ quan an sinh xã hội quốc gia.