CHƯƠNG 1 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI YẾU THẾ TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Khái niệm an sinh xã hội và chính sách an sinh xã hội cho người yếu thế tại trung tâm Bảo trợ xã hội 1. Khái niệm an sinh xã hội An sinh xã hội là một khái niệm có nội hàm rộng và ngày càng hoàn thiện về nhận thức và thực tiễn thực hiện trên toàn thế giới. Tuy nhiên tùy theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế mà khái niệm an sinh xã hội có mức độ rộng, hẹp và đối tượng hướng tới khác nhau.
Mặc dù mỗi tổ chức có cách định nghĩa khác nhau về an sinh xã hội, nhưng khái quát lại có thể thấy rằng các quan niệm về an sinh xã hội đều có những điểm chung sau đây: (i) Là các chính sách đều do nhà nước tổ chức thực hiện là chính, ngoài ra còn có sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng và thị trường trong việc tổ chức thực hiện và cung cấp dịch vụ an sinh xã hội. Các chính sách này hướng đến mọi thành viên trong xã hội, bảo đảm cho mọi thành viên được bình đẳng về tiếp cận và chất lượng dịch vụ, tuy nhiên, nhấn mạnh đến nhóm đối tượng yếu thế. (ii) Là lưới an toàn cho mọi thành viên trong xã hội. Khái niệm người yếu thế Thuật ngữ "yếu thế/ thiệt thòi" được sử dụng theo truyền thống như một tính từ nhằm mô tả chất lượng vốn có của một nhóm đối tượng - yếu thế/ thiệt thòi.
Đó là nhóm người luôn luôn có sự hiện diện của "rào cản đối với khả năng tự túc của họ “ Đây là những cách thức mà người dân bị từ chối tiếp cận 9 với các phương tiện cần thiết bao gồm các nguồn lực mà bản thân họ không có. Đó là nhóm có hoàn cảnh khó khăn, được xác định theo những mô hình cụ thể của nguồn lực bị từ chối và rào cản nó phải đối mặt. Một nhóm có thể gặp phải nhiều rào cản. Một số rào cản có thể dễ dàng vượt qua được.
Mỗi nhóm có mô hình thiệt thòi riêng của mình và các rào cản cho việc tự cung tự cấp; điều này có ngụ ý rằng tùy theo từng nhóm để hình thành các giải pháp được cho là phù hợp và tốt nhất cho nhóm. Khi vượt qua được sự yếu thế/thiệt thòi, thì họ khắc phục được khả năng không tiếp cận được các phương tiện thiết yếu hoặc loại bỏ rào cản đối với sự tự cung tự cấp. Điều này có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức, tùy thuộc vào mô hình yếu thế của họ, nhưng nó sẽ cho phép họ nâng cao vị thế ở chính nỗ lực của nhóm để phát triển các công cụ hoặc các nguồn lực cần thiết cho khả năng tự túc của riêng nhóm. Điều đáng chú ý là nhóm có “những hoàn cảnh khó khăn” nhưng không có nghĩa rằng "cho họ nhiều tiền mặt hơn" sẽ giải quyết được vấn đề của họ; và cũng không có nghĩa rằng "Chính phủ trợ giúp nhiều" sẽ khắc phục những gì đã gây ra cho họ.
Rào cản đối với tự cung tự cấp là cách mà mọi người không được tiếp cận với các công cụ cần thiết để tự cung tự cấp. Hàng rào bao gồm: 1. Chưa có nguồn tài nguyên vốn: Tài nguyên (việc làm, v.) có thể không có sẵn đủ số lượng cơ hội cho nhóm nhất định; một số công cụ có thể được thiết kế với các giá trị và giả định của xã hội trong điều kiện cụ thể, nhưng không phải phù hợp với họ. Để có ích, một công cụ phải được phù hợp với nền văn hóa của nhóm.
Một số công cụ có sẵn không phải là hữu ích cho các nhóm khác. Không thể tiếp cận nguồn tài nguyên: Nếu có sẵn, các nguồn tài 10 nguyên vẫn có thể không được tiếp cận từ những người nhất định, vì vùng miền địa phương hoặc từ xa, hoặc thiếu công khai. Năng lực cá nhân cần thiết để tiếp cận các tài nguyên như lòng tự trọng, y tế… còn hạn chế … Ngoài ra, năng lực cần thiết để phát triển hoặc theo đuổi các nguồn lực khác, chẳng hạn như giáo dục, thông tin, hoặc việc làm, có thể không có sẵn do các nhu cầu khác, như nuôi gia đình hoặc theo đuổi vốn tự cung tự cấp. Sự kỳ thị của xã hội: Thực tế, trong cộng đồng luôn tồn tại sự “thương hại“ những người yếu thế.
Xuất phát từ cách nhìn nhận đó, nên nhiều khi việc chia sẻ, tạo điều kiện, cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội đối với người yếu được xem như làm phúc. Tất cả những điều đó khiến người yếu thế tự ti, mặc cảm, thậm chí chấp nhận sự thương hại. Về mặt thể chế có thể đầy đủ hoặc không đầy đủ hoặc phản tác dụng đối với cảnh ngộ của các nhóm nhất định. Pháp luật có thể bảo vệ hoặc hỗ trợ một nhóm, nhưng luật pháp cũng có thể không được thi hành, hoặc có thể được thực hiện không đầy đủ.
Mayer, Effective Communitive Project, trên www. Ngoài ra còn kể đến người tị nạn, người xin tị nạn, người bị xã hội loại trừ (theo http://www. Theo cách xác định này thì người nghèo, người thất nghiệp cũng được coi thuộc nhóm yếu thế/ thiệt thòi. Trong một số nghiên cứu ở Việt Nam còn kể thêm nhóm người là nạn nhân chiến tranh, đặc biệt nạn nhân chất độc da cam, nhóm bị bạo lực gia đình, nạn nhân bị quấy rối và lạm dụng tình dục, nạn nhân buôn bán người, các đối tượng mắc bệnh xã hội, trẻ em bị ảnh hưởng của HIV/AIDS… Như vậy có thể nói, nhóm yếu thế (hay nhóm thiệt thòi) là nhóm xã hội đặc biệt, có hoàn cảnh khó khăn hơn, có vị thế xã hội thấp kém hơn so với với các nhóm xã hội “bình thường” có những đặc điểm tương tự.
11 Để nâng cao vị thế xã hội, giảm sự thiệt thòi, họ rất cần được sự quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ từ xã hội, đặc biệt thể hiện qua việc thực hiện các chính sách ASXH của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đối với nhóm đối tượng này. Khái niệm trung tâm bảo trợ xã hội Hiện nay, chưa có khái niệm riêng về Trung tâm bảo trợ xã hội. Mà chủ yếu các văn bản quy định về cơ sở trợ giúp xã hội. Theo đó, cơ sở trợ giúp xã hội bao gồm các cơ sở trợ giúp xã hội công lập và ngoài công lập, là một trong những hình thức và phương thức hoạt động của hệ thống trợ giúp xã hội, là nơi các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt tìm đến để nương tựa và vượt qua khó khăn trong cuộc sống.
Trong đó, cơ sở trợ giúp xã hội công lập do cơ quan nhà nước thành lập, quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho thực hiện các nhiệm vụ; cơ sở trợ giúp xã hội ngoài công lập do các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho thực hiện các nhiệm vụ của cơ sở. Mặc dù có sự khác nhau về chủ thể thành lập, nhưng theo quy định của pháp luật, một cơ sở trợ giúp xã hội dù là công lập hay ngoài công lập, để được thành lập, tổ chức và hoạt động phải chịu sự quản lý của Nhà nước và phải đảm bảo các yếu tố: có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng; có tên gọi bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài, biểu tượng riêng (nếu có). Tên và biểu tượng của cơ sở trợ giúp xã hội phải đáp ứng các điều kiện: không trùng lắp hoặc gây nhầm lẫn với tên hoặc biểu tượng của cơ sở khác đã được đăng ký trước đó; không vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc; trụ sở hoạt động của cơ sở trợ giúp xã hội phải đặt trên lãnh thổ Việt Nam và có địa chỉ cụ thể. Các loại hình cơ sở trợ giúp xã hội được quy định tại Điều 5 Nghị định 103/2017/NĐ-CP bao gồm: 1.
Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc người cao tuổi. Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc người khuyết tật. Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí.
Cơ sở bảo trợ xã hội tổng hợp thực hiện việc chăm sóc nhiều đối tượng bảo trợ xã hội hoặc đối tượng cần trợ giúp xã hội. Trung tâm công tác xã hội thực hiện việc tư vấn, chăm sóc khẩn cấp hoặc hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác cho đối tượng cần trợ giúp xã hội. Cơ sở trợ giúp xã hội khác theo quy định của pháp luật. Như vậy: Trung tâm bảo trợ xã hội là một loại hình cơ sở trợ giúp xã hội, thực hiện nhiệm vụ chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội (có thể một hoặc nhiều đối tượng khác nhau).
Nội dung chính sách an sinh xã hội đối với người yếu thế Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng, toàn diện, từng bước mở rộng diện bao phủ, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ đang là đích đến của các quốc gia trên thế giới. Theo đó, chính sách an sinh xã hội cần tập trung vào nội dung chính như sau: Một là, hỗ trợ thường xuyên đối với người có hoàn cảnh đặc thù và hỗ trợ đột xuất cho người dân khi gặp các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, thiên tai, động đất, chiến tranh, đói nghèo,.) thông qua các khoản tiền mặt và hiện vật do ngân sách nhà nước bảo đảm. Hai là, tăng cường tiếp cận của người dân đến hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản, như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, thông tin. Ở Việt Nam, an sinh xã hội được xác định là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất 13 nước.
Bảo đảm an sinh xã hội là điều kiện để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường, phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Hiện nay, hệ thống văn bản chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng với nhiều hợp phần, nội dung đan xen. Nhưng chủ yếu tập trung vào 4 nhóm sau: (1) Chính sách bảo hiểm xã hội.