phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về an sinh xã hội. Thực trạng an sinh xã hội tại thành phố Đồng Hới. Các giải pháp hoàn thiện an sinh xã hội tại thành phố Đồng Hới.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu An sinh xã hội là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của ngƣời dân trƣớc những rủi ro và tác động bất thƣờng về kinh tế, xã hội và môi trƣờng; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Bảo đảm an sinh xã hội là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển. Vì vậy, đã có nhiều nghiên cứu về nội dung này: - PGS. TS Vũ Văn Phúc (2012) “An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Nguồn Wepsite Bộ Lao động thƣơng binh và xã hội.
Bài viết trên đã phần nào đã khái quát cơ sở lý luận và các lĩnh vực nằm trong hệ thống an sinh của nƣớc ta hiện nay, đồng thời cũng đã nêu lên các giải pháp trong thời gian tới. Tuy nhiên, nội dung của bài viết mang tính khái quát và mang tầm vĩ mô, chƣa đề cập đến các vấn đề an sinh vi mô tại các thành phố. - Nhóm tác giả: Nguyễn Văn Toàn, Trƣơng Tấn Quân, Trần Văn Quảng - Trƣờng Đại học kinh tế Đại học Huế (2012) “Ảnh hưởng của Chương trình 135 đến đồng bào dân tộc ít người của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị” Nguồn Tạp chí khoa học Đại học Huế. Nội dung chủ yếu là hiệu quả về đầu tƣ cơ sở hạ tầng, tài chính, nguồn nhân lực, vật chất cho ngƣời dân theo 5 chƣơng trình 135 của Chính phủ đã và đang phát huy hiệu quả to lớn.
Tuy vậy nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến một bộ phận nhỏ ngƣời dân đƣợc hƣởng thụ trực tiếp chứ chƣa làm rõ các vấn đề nẫy sinh trong quá trình thực hiện.TS Phạm Xuân Nam (2012) - Viện Khoa học xã hội Việt Nam “Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia “ASXH ở nƣớc ta - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. Ngoài các vấn đề về an sinh xã hội nói trên, tác giả đã khẳng định an sinh xã hội phải đáp ứng 3 chức năng cơ bản đó là phòng ngừa, giảm thiểu, khắc phục rủi ro. - Huỳnh Văn Chƣơng (2010) “Ảnh hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp đến sinh kế người nông dân bị thu hồi đất tại thành phố Hội An” Nguồn Tạp chí khoa học Đại học Huế. Nội dung cơ bản đề cập đến là vấn đề sinh kế cho ngƣời dân sau thu hồi đất.
Tuy cuộc sống có sự đổi thay, nhiều hộ gia đình đƣợc có chỗ ở mới, công việc mới, đời sống sung túc hơn nhờ đƣợc Nhà nƣớc bồi thƣờng, hỗ trợ. Tuy nhiên, cuộc sống vẫn còn nhiều tiềm ẩn bất ổn, thu nhập bấp bênh không ổn định vì vậy cần có các chính sách để hỗ trợ ngƣời dân. TS Mạc Văn Tiến (2012) - Viện trƣởng Viện khoa học dạy nghề - “Đào tạo nghề với việc đảm bảo an sinh xã hội ở Việt Nam” Nguồn Wepsite Bộ Lao động thƣơng binh và xã hội. Theo quan điểm trên của tác giả thì PGS.
TS Mạc Văn Tiến đã đi sâu phân tích tầm quan trọng của việc đào tạo nghề nâng cao nguồn nhân lực, tăng thu nhập để đảm bảo an sinh xã hội quốc gia. Trên cơ sở đó nêu bật những thành tựu và vai trò của việc đào tạo nghề. Ở một khía cạnh nào đó tác giả bài viết chƣa quan tâm đến các nhân tố ảnh hƣởng của việc đào tạo nghề, các giải pháp đề ra còn mang tính chung chung, đây chỉ là một khía cạnh nhỏ trong chính sách an sinh. - Tiến sỹ Mạc Tiến Anh (2005) “Khái luận chung về an sinh xã hội” Nguồn Tạp chí bảo hiểm số 1/2005, số 2/2005 và số 4/2005.
Trong bài viết 6 tác giả một lần nữa khẳng định cơ sở lý luận, bản chất, vai trò và các bộ phận cấu thành của hệ thống an sinh xã hội của nƣớc ta, từ đó để so sách với các mô hình khác trên thế giới. Ông đã chỉ rõ tầm quan trọng của bảo hiểm xã hội, coi đó là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội, đồng thời chỉ ra các hạn chế của việc an sinh xã hội hiện nay. Tuy vậy, tác giả không đi sâu vào cụ thể từng vấn đề mà chỉ nêu tầm ảnh hƣởng, sự tác động qua lại của chính sách và ngƣời dân. - Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2008) “Giải pháp tăng cường an sinh xã hội cho người nghèo ở tỉnh Thái Nguyên” đã phần nào khái quát lên đƣợc vấn đề an sinh cho ngƣời nghèo từ đó để đƣa ra các mục tiêu, giải pháp nhằm giảm thiểu và mở ra cơ hội cho những ngƣời nghèo của tỉnh Thái Nguyên.
Tuy vậy, đề tài cũng chỉ mới đề cập đến một khía cạnh của đời sống xã hội đó là ngƣời nghèo, song song với các tầng lớp nghèo trong xã hội còn có rất nhiều tầng lớp dân cƣ gặp nhiều khó khăn cần đƣợc trợ giúp. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI 1. KHÁI NIỆM, NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA “AN SINH XÃ HỘI” 1. Khái niệm an sinh xã hội An sinh xã hội (ASXH), theo nghĩa chung nhất là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con ngƣời đƣợc sống trong hòa bình, đƣợc tự do làm ăn, cƣ trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; đƣợc bảo vệ và bình đẳng trƣớc pháp luật; đƣợc học tập, đƣợc có việc làm, có nhà ở; đƣợc đảm bảo thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già… Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: “ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh về thu nhập”.
WB nhấn mạnh đến các biện pháp công cộng để hạn chế và làm giảm các tác động tiêu cực cho hộ gia đình và cộng đồng dễ bị tổn thƣơng bao gồm việc nhà nƣớc cung cấp và khuyến khích phát triển các dịch vụ công nhƣ: bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), trợ cấp xã hội (TCXH) và những biện pháp khác có tính chất tƣơng tự. Trong đó BHXH có vai trò quan trọng nhất. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) quan niệm: “ASXH là một hệ thống chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các hộ gia đình và cá nhân”. Định nghĩa này nhấn mạnh vào tính dễ bị tổn thƣơng của con ngƣời nếu không có an sinh xã hội.
Theo ILO: “ASXH là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy 8 giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp”. Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh bảo hiểm xã hội và mở rộng tạo việc làm cho những đối tƣợng ở khu vực kinh tế không chính thức. Công ƣớc 102 của ILO rằng: an sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập. Nhƣ vậy ILO quan niệm đối tƣợng của an sinh xã hội là nhóm ngƣời có thu nhập không đủ trang trải cho những điều kiện tối thiểu, xã hội cần tiến hành đồng bộ các biện pháp công cộng khác nhau nhằm phân phối lại thu nhập, dịch vụ xã hội….
Theo nghĩa hẹp, ASXH đƣợc hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho ngƣời lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những ngƣời già, cô đơn, trẻ em mồ côi, ngƣời tàn tật, những ngƣời nghèo đói và những ngƣời bị thiên tai, địch hoạ… ASXH đƣợc xây dựng có sự khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, những cơ chế chủ yếu của nó bao gồm: BHXH (bảo hiểm hƣu trí, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế bắt buộc…), CTXH (còn gọi là cứu tế xã hội), các chế độ trợ cấp từ quỹ công cộng, các chế độ trợ cấp gia đình, các quỹ dự phòng, sự bảo vệ do ngƣời sử dụng lao động cung cấp, các dịch vụ liên quan đến ASXH. Trên cơ sở cho thấy: An sinh xã hội là những can thiệp của Nhà nƣớc và xã hội bằng các biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thƣơng tật, tuổi già, chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình. Nguồn gốc của khái niệm an sinh xã hội Con ngƣời muốn tồn tại và phát triển trƣớc hết phải ăn, mặc, ở… Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con ngƣời phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết.
Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con ngƣời. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con ngƣời cũng có thể lao động tạo ra đƣợc thu nhập. Trái lại, có rất nhiều trƣờng hợp khó khăn, bất hạnh, rủi ro xảy ra làm cho con ngƣời bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác, chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau, tai nạn, mất ngƣời nuôi dƣỡng, tuổi già, tử vong… Hơn nữa, cuộc sống của con ngƣời trên trái đất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và môi trƣờng sống. Những điều kiện thiên nhiên và xã hội không thuận lợi đã làm cho một bộ phận dân cƣ cần phải có sự giúp đỡ nhất định để bảo đảm cuộc sống bình thƣờng.
Do đó, để tồn tại và phát triển, con ngƣời đã có nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục khó khăn. Từ xa xƣa, trƣớc những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con ngƣời đã tự khắc phục, nhƣ câu phƣơng ngôn “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”; đồng thời, còn đƣợc sự san sẻ, đùm bọc, cƣu mang của cộng đồng. Sự tƣơng trợ dần dần đƣợc mở rộng và phát triển dƣới nhiều hình thức khác nhau.