Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tại Việt Nam, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt cùng hậu quả kéo dài của chiến tranh dẫn đến một bộ phận dân cư rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, cần sự hỗ trợ của Nhà nước và xã hội. Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) năm 2008, cả nước có khoảng 13,6 triệu người thuộc diện bảo trợ xã hội (BTXH), chiếm 16,22% tổng dân số. Các đối tượng này có nhu cầu thường xuyên về đời sống, y tế, giáo dục, nhà ở và nước sạch sinh hoạt.
Mặc dù chính sách trợ giúp xã hội (TGXH) đã từng bước chuyển dịch từ cứu trợ khẩn cấp sang hệ thống các hợp phần chính sách thường xuyên tại cộng đồng và được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật, việc thực thi vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống. Tỷ lệ bao phủ thực tế đối với dân cư khó khăn còn thấp, hiệu lực và hiệu quả thực thi chưa cao. Phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tập trung tổng kết thực tiễn, đánh giá riêng lẻ từng nhóm đối tượng hoặc đề xuất giải pháp cho một vài chính sách bộ phận, thiếu cách tiếp cận toàn diện từ góc độ khoa học quản lý. Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng ở Việt Nam" là yêu cầu cấp thiết nhằm cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng; khẳng định tính tất yếu, khách quan của chính sách trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam; đánh giá thực trạng đối tượng BTXH, nhu cầu trợ giúp thường xuyên và thực trạng thực thi chính sách; từ đó kiến nghị hệ thống giải pháp, công cụ nhằm hoàn thiện chính sách trong giai đoạn tiếp theo.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa và luận giải cơ sở lý luận về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng tại Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng đối tượng, xác định nhu cầu trợ giúp thường xuyên và phân tích thực trạng chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng tại Việt Nam giai đoạn 2000–2009, rút ra những hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất quan điểm định hướng, giải pháp và hoàn thiện hệ thống công cụ chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng cho giai đoạn từ năm 2011 trở đi.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
- Các báo cáo, số liệu thống kê, tài liệu nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước liên quan đến TGXH thường xuyên cộng đồng.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn kiện chương trình, dự án về TGXH tại Việt Nam.
- Đối tượng BTXH sinh sống tại cộng đồng.
- Đội ngũ cán bộ, cơ quan, tổ chức tham gia quản lý và tổ chức thực thi chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung chính sách: Tập trung vào 03 chính sách bộ phận gồm: (i) Chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng; (ii) Chính sách trợ giúp y tế; (iii) Chính sách trợ giúp giáo dục, đào tạo cho đối tượng BTXH.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Tiến trình phát triển chính sách từ năm 1986 đến năm 2010; nguồn số liệu khảo sát và phân tích thực trạng tập trung từ năm 2000 đến năm 2009.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả đã tổng hợp các công trình khoa học trong nước liên quan đến an sinh xã hội và TGXH theo 4 luồng tiếp cận chính:
- Tiếp cận chức năng hệ thống bảo trợ xã hội: Lê Bạch Dương và nhóm tác giả (2004, 2005) trong công trình "Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam" đã phân chia chức năng BTXH thành 3 nhóm biện pháp: nâng cao năng lực, phòng ngừa rủi ro và bảo vệ (lưới an toàn). Hướng tiếp cận này xem xét chính sách cho các nhóm cụ thể như nông dân nghèo, lao động di cư, người khuyết tật, người nhiễm HIV/AIDS; tuy nhiên gặp khó khăn trong việc phân định ranh giới giữa vai trò của Nhà nước, thị trường và cộng đồng.
- Tiếp cận theo góc độ hoạch định chính sách: Nguyễn Hải Hữu (2007) với "Giáo trình nhập môn an sinh xã hội" cùng các đề tài nghiên cứu thực trạng TGXH giai đoạn 2001–2007 xác định TGXH bao gồm trợ cấp hàng tháng cho các đối tượng BTXH cụ thể (trẻ mồ côi, người già cô đơn, người từ 90 tuổi trở lên, người tàn tật nặng, người nhiễm HIV/AIDS...) kết hợp với trợ giúp y tế, giáo dục, dạy nghề và tiếp cận công trình công cộng. Hướng nghiên cứu này tập trung vào quy trình xây dựng chính sách hỗ trợ giảm nghèo và chăm sóc đối tượng yếu thế.
- Tiếp cận theo chức năng của chủ thể cung cấp dịch vụ: Nguyễn Văn Định (2008) trong "Giáo trình an sinh xã hội" phân định các khái niệm cứu tế xã hội (giúp đỡ khẩn cấp, tối cần thiết của cộng đồng), cứu trợ xã hội (sự giúp đỡ bằng nguồn tài chính Nhà nước và cộng đồng khi gặp rủi ro thiên tai, già yếu) và trợ giúp xã hội (sự hỗ trợ thêm để đối tượng tự lập vươn lên). Hướng tiếp cận này đặt trọng tâm vào cộng đồng nhưng chưa phản ánh đầy đủ vai trò chủ đạo của Nhà nước trong cung cấp nguồn lực và dịch vụ dài hạn.
- Tiếp cận theo quan điểm hệ thống: Nguyễn Hữu Dũng (2008) nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện an sinh xã hội, phân tích kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Thụy Điển, Đức để kiến nghị xây dựng mức chuẩn trợ cấp xã hội chung dựa trên chi tiêu bảo đảm mức sống tối thiểu. Cùng hướng này có đề tài cấp nhà nước của Mai Ngọc Cường (2009) về xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội.
Bên cạnh các nghiên cứu lý luận, tác giả điểm lại các khảo sát thực chứng:
- Khảo sát người tàn tật của Bộ LĐTBXH phối hợp VNAH và USAID (2005).
- Nghiên cứu về già hóa dân số tại 15 nước Đông và Đông Nam Á của UNFPA (2006).
- Báo cáo giám sát thực hiện chính sách pháp luật về người cao tuổi, người tàn tật của Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội (2006).
- Điều tra thực trạng người tàn tật tại Thái Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng, Đồng Nai của Viện Xã hội học - ISDS (2008).
- Khảo sát tình hình thực hiện Pháp lệnh Người cao tuổi và Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2005–2010 của Bộ LĐTBXH (2009).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây đã cung cấp bức tranh mô tả thực trạng đời sống đối tượng và đề xuất cải tiến một số quy định hiện hành, nhưng chưa giải quyết các vấn đề sau:
- Chưa xây dựng hệ thống cơ sở lý luận hoàn chỉnh về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng dưới góc độ khoa học quản lý.
- Thiếu khung phân tích định lượng đồng bộ gồm các công thức và chỉ tiêu đo lường tính hiệu lực, tính hiệu quả, tính công bằng và tính bền vững của chính sách.
- Chưa phân tích đầy đủ mối quan hệ tương quan giữa mức chuẩn trợ cấp với chuẩn nghèo và mức sống tối thiểu của dân cư để thiết kế công thức tính hệ số trợ cấp phù hợp với ngân sách nhà nước qua từng thời kỳ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khái niệm và khung phân tích
Luận án xác định khái niệm: Trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng là một hợp phần của chính sách trợ giúp xã hội, bao gồm các biện pháp, giải pháp bảo đảm của Nhà nước nhằm giúp đỡ đối tượng BTXH có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khắc phục khó khăn trước mắt và lâu dài, thông qua việc cung cấp nguồn tài chính hàng tháng, dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các dịch vụ trợ giúp xã hội khác ngay tại gia đình và cộng đồng.
Tác giả phân tích 5 quan điểm tiếp cận chính sách TGXH:
- Tiếp cận theo quyền (dựa trên tháp nhu cầu Maslow): Lấy con người làm trung tâm; Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm các quyền sống còn và nhu cầu thiết yếu (ăn, ở, mặc, đi lại, nước sạch, y tế, học tập cơ bản) khi cá nhân không tự thực hiện được.
- Tiếp cận theo quản lý rủi ro: Phân chia các cấp độ trợ giúp nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro xã hội (gồm 3 cấp độ: trợ giúp để duy trì, trợ giúp để ổn định và trợ giúp để phát triển).
- Tiếp cận phổ cập: Hỗ trợ tất cả đối tượng thuộc nhóm nhân khẩu học xác định mà không ràng buộc tiêu chí thu nhập, độ bao phủ cao (3–3,5% dân số) nhưng mức hỗ trợ thường thấp.
- Tiếp cận mục tiêu: Tập trung nguồn lực vào nhóm đối tượng nghèo nhất, khó khăn nhất; độ bao phủ khoảng 1,5% dân số, quy trình xác định đối tượng phức tạp hơn nhưng mức trợ cấp gắn liền với mức sống tối thiểu.
- Tiếp cận tổng thể: Kết hợp linh hoạt giữa bảo đảm quyền, phổ cập theo nhóm và ưu tiên mục tiêu theo từng thời kỳ kinh tế.
Luận án xác lập 7 nguyên tắc chính sách: tuân thủ hệ thống chính trị; bảo đảm tính khoa học; bảo đảm tính hiệu lực; bảo đảm tính hiệu quả; bảo đảm tính công bằng; bảo đảm tính công khai, minh bạch; bảo đảm sự ổn định bền vững; bảo đảm chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước và xã hội.
Các nhân tố ảnh hưởng được phân thành 3 nhóm:
- Nhóm nhân tố từ đối tượng hưởng lợi (quy mô, phân bố, nhu cầu trợ giúp, năng lực cá nhân).
- Nhóm nhân tố từ cơ chế, công cụ chính sách (văn bản pháp luật, năng lực bộ máy thực thi, hệ thống công cụ).
- Nhóm nhân tố môi trường (chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa - xã hội, hội nhập quốc tế).
Hệ thống công cụ thực thi chính sách gồm 4 nhóm:
- Công cụ hành chính và tổ chức: Văn bản quy phạm pháp luật, kế hoạch chính sách, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ từ trung ương đến cấp xã.
- Công cụ tài chính: Ngân sách nhà nước phân bổ theo 4 cấp (trung ương, tỉnh, huyện, xã) và các quỹ huy động ngoài ngân sách.
- Công cụ giáo dục và tâm lý: Hệ thống truyền thông, tư vấn xã hội nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng và đối tượng.
- Công cụ kỹ thuật nghiệp vụ: Quy trình xác định đối tượng, thẩm định, ra quyết định, thanh chi trả trợ cấp, kiểm tra và theo dõi báo cáo.
Khung chỉ tiêu lượng hóa đánh giá chính sách được tác giả xây dựng thành các công thức toán học:
- Đánh giá tính hiệu lực:
- Tổng số đối tượng thuộc diện hưởng chính sách:
$$M_{TGXH} = \sum_{i=1}^{n} m_i$$
- Tỷ lệ bao phủ so với dân số:
$$R_{DS} = \frac{\sum_{i=1}^{n} m_i}{DS}$$
(Định mức khuyến nghị cho Việt Nam: $R_{DS} > 2%$).
- Tỷ lệ bao phủ so với đối tượng BTXH:
$$R_{BTXH} = \frac{\sum_{i=1}^{n} m_i}{\sum_{i=1}^{n} M_i}$$
(Định mức khuyến nghị cho Việt Nam: $R_{BTXH} > 25%$).
- Tỷ lệ đối tượng thuộc diện nhưng chưa được hưởng:
$$R_{rr} = 1 - \frac{\sum_{i=1}^{n} m_{hi}}{\sum_{i=1}^{n} m_i}$$
- Đánh giá tính hiệu quả:
- Mức trợ cấp bình quân:
$$\bar{t} = \frac{\sum_{i=1}^{n} t_i m_i}{\sum_{i=1}^{n} m_i}$$
- Tỷ lệ đối tượng thay đổi cuộc sống sau khi hưởng chính sách:
$$r_{tđ} = \frac{m_{htđ}}{m_{hi}}$$
- Đánh giá tính công bằng:
- Khoảng cách bình quân mức trợ cấp:
$$r = \sqrt{\frac{1}{n} \sum_{i=1}^{n} (t_i - \bar{t})^2}$$
(Định mức khuyến nghị: $r < 0,3$).
- Mức độ thiếu hụt so với mức sống tối thiểu:
$$r_{th} = 1 - \frac{\bar{t}}{MSTT}$$
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Khảo sát sơ cấp: Luận án thực hiện điều tra chọn mẫu đối với nhóm trẻ em mồ côi và điều tra phiếu hỏi đối với đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác chính sách xã hội ở các cấp.
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa dữ liệu từ cuộc Khảo sát tình hình thi hành pháp luật về người tàn tật (Bộ LĐTBXH, 2008), Khảo sát tình hình thực hiện Pháp lệnh Người cao tuổi và Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2005–2010 (Bộ LĐTBXH, 2009), Niên giám thống kê và báo cáo ngành tài chính - lao động.
- Phương pháp xử lý và phân tích: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp tổng hợp phân tích chính sách và nghiên cứu so sánh kinh nghiệm quốc tế (Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Phi, Malaysia).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm liên quan trong hệ thống an sinh xã hội, làm rõ sự khác biệt giữa bảo trợ xã hội, cứu trợ xã hội, cứu tế xã hội và trợ giúp xã hội. Tác giả khẳng định TGXH không thuần túy là hành vi nhân đạo của cộng đồng mà là trách nhiệm pháp lý bắt buộc của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền con người cơ bản.
Nội dung chương trình bày chi tiết bản chất, mục tiêu, 7 nguyên tắc thiết kế chính sách, 3 nhóm nhân tố tác động và 4 nhóm công cụ chính sách quản lý. Tác giả phân loại 9 nhóm đối tượng BTXH sống tại cộng đồng được hưởng trợ cấp thường xuyên theo pháp luật Việt Nam dựa trên 4 tiêu chí cốt lõi: mất khả năng lao động; mất khả năng tự phục vụ; rơi vào hoàn cảnh nghèo đói; không có nguồn nuôi dưỡng hoặc không có người thân thích nương tựa.
Chương này cũng tổng thuật kinh nghiệm thực thi chính sách an sinh tại các nước:
- Cộng hòa Pháp: Cơ chế thu nhập tối thiểu hòa nhập (RMI) gắn trợ cấp tiền mặt với trách nhiệm tham gia các chương trình hòa nhập xã hội và tìm kiếm việc làm.
- Trung Quốc: Hệ thống bảo đảm mức sống tối thiểu (Dibao) áp dụng phân tầng theo chuẩn thu nhập đô thị và nông thôn.
- Nhật Bản: Kết hợp chế độ trợ cấp nuôi dưỡng người khuyết tật với quy định tỷ lệ bắt buộc doanh nghiệp tiếp nhận lao động khuyết tật vào làm việc.
- Nam Phi: Thực hiện mô hình trợ cấp phổ cập diện rộng cho người già không có lương hưu và trẻ em trong gia đình thu nhập thấp.
- Malaysia: Triển khai trợ cấp duy trì đời sống kết hợp chương trình nâng cao năng lực tự lập tại cộng đồng.
Từ kinh nghiệm quốc tế, tác giả rút ra bài học cho Việt Nam về việc xác định mức chuẩn trợ cấp dựa trên giỏ hàng hóa tối thiểu, tăng cường công tác quản lý đối tượng tại cơ sở và chuyển dần từ bao cấp dịch vụ sang trợ cấp tiền mặt trực tiếp.
Chương 2: Thực trạng chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng
Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về đối tượng BTXH và thực trạng triển khai các chính sách trợ cấp xã hội, y tế, giáo dục tại Việt Nam giai đoạn 2000–2009.
+-----------------------------------------------------------------------------+
| Bảng: Tổng hợp các chỉ tiêu thực trạng chính sách TGXH thường xuyên (2008-2009)|
+------------------------------------+----------------------------------------+
| Chỉ tiêu đánh giá | Giá trị thực tế ghi nhận trong văn bản |
+------------------------------------+----------------------------------------+
| Quy mô đối tượng BTXH (năm 2008) | 13,6 triệu người (16,22% dân số) |
| Tỷ lệ bao phủ TGXH so với dân số | 1,45% dân số |
| Tỷ lệ đối tượng thuộc diện chưa | 12,2% tổng số đối tượng thuộc diện |
| được hưởng chính sách | |
| Tỷ lệ đối tượng chưa hài lòng về | 32,0% tổng số đối tượng khảo sát |
| mức trợ cấp hàng tháng | |
| Tỷ lệ cán bộ chưa hài lòng về | 55,0% tổng số cán bộ khảo sát |
| mức trợ cấp hàng tháng | |
+------------------------------------+----------------------------------------+
Phân tích thực trạng theo từng nhóm đối tượng cụ thể:
- Trẻ em mồ côi (TEMC): Đa số sống cùng ông bà hoặc người thân thích; gặp khó khăn lớn về chi tiêu sinh hoạt, học tập và tiếp cận các dịch vụ văn hóa. Tỷ lệ được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng và cấp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) có xu hướng tăng qua các năm nhưng mức trợ cấp chưa bù đắp được mức trượt giá sinh hoạt.
- Người cao tuổi (NCT): Tình trạng sức khỏe suy giảm, tỷ lệ mắc bệnh mãn tính cao; nguồn sống chính phụ thuộc vào sự phụng dưỡng của con cháu hoặc tự lao động. Nhóm NCT từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu đã được bao phủ diện trợ cấp nhưng mức chi trả còn thấp so với nhu cầu dinh dưỡng và y tế.
- Người tàn tật/người khuyết tật (NTT): Trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật hạn chế; thu nhập bình quân rất thấp; nhu cầu lớn nhất tập trung vào hỗ trợ tài chính trực tiếp, dụng cụ chỉnh hình và chăm sóc sức khỏe.
- Người đơn thân nghèo nuôi con nhỏ và người nhiễm HIV/AIDS nghèo: Khó khăn kép về kinh tế và kỳ thị xã hội; kinh phí trợ cấp hàng tháng đóng vai trò thiết yếu duy trì nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu cho trẻ.
Đánh giá kết quả và hạn chế của chính sách:
- Kết quả: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từng bước được bổ sung hoàn thiện (Nghị định 07/2000/NĐ-CP, Nghị định 67/2007/NĐ-CP, Nghị định 13/2010/NĐ-CP); quy mô đối tượng và tổng kinh phí ngân sách nhà nước chi trả tăng dần qua các năm; mức độ đóng góp của trợ cấp giúp ổn định một phần đời sống sinh hoạt của các hộ khó khăn.
- Hạn chế và nguyên nhân: Tỷ lệ bao phủ còn hẹp (mới đạt 1,45% dân số so với nhu cầu 16,22%); mức chuẩn trợ cấp (180.000 đồng/tháng theo Nghị định 13/2010/NĐ-CP) còn thấp hơn nhiều so với chuẩn nghèo và mức sống tối thiểu; vẫn còn 12,2% đối tượng đủ điều kiện nhưng chưa tiếp cận được chính sách do rào cản thủ tục hành chính và thiếu ngân sách địa phương; quy trình xét duyệt hồ sơ qua nhiều cấp gây chậm trễ thời gian ban hành quyết định.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng
Chương 3 xây dựng hệ thống quan điểm, định hướng và các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm đổi mới chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng đến năm 2020.
Định hướng đổi mới chính sách:
- Chuyển từ quan niệm chính sách mang tính chất "cứu trợ nhân đạo, ban ơn" sang chính sách "bảo đảm thực hiện quyền con người" cho đối tượng hưởng lợi.
- Bảo đảm sự tương đồng, đồng bộ giữa chính sách TGXH với hệ thống tiền lương, bảo hiểm xã hội, chính sách ưu đãi người có công và chuẩn nghèo quốc gia.
- Kết hợp giữa trách nhiệm bảo đảm nguồn lực của Nhà nước với việc xã hội hóa dịch vụ chăm sóc tại cộng đồng.
Các giải pháp cụ thể:
- Từng bước mở rộng đối tượng hưởng lợi: Mở rộng diện bao phủ đối với NCT từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu; trẻ em dưới 3 tuổi sống trong hộ nghèo; toàn bộ người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng.
- Đổi mới phương án xác định mức chuẩn trợ cấp xã hội: Luận án đề xuất áp dụng mức chuẩn trợ cấp xã hội mới từ năm 2011 là 315.000 đồng/tháng (tương đương 70% mức sống tối thiểu của dân cư tại thời điểm tính toán), thay thế mức chuẩn 180.000 đồng/tháng.
+-----------------------------------------------------------------------------+
| Bảng: Đề xuất hệ số trợ cấp xã hội hàng tháng theo nhóm đối tượng (Luận án) |
+-------------------------------------------------------------+---------------+
| Nhóm đối tượng thụ hưởng | Hệ số đề xuất |
+-------------------------------------------------------------+---------------+
| Trẻ em mồ côi dưới 18 tháng tuổi | 2,0 |
| Trẻ em mồ côi từ 18 tháng tuổi trở lên | 1,5 |
| Người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo | 1,5 |
| Người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu/trợ cấp BHXH | 1,0 |
| Người tàn tật nặng không khả năng lao động/tự phục vụ | 1,5 – 2,0 |
| Người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo | 1,5 – 2,0 |
| Hộ gia đình nuôi dưỡng từ 02 người tàn tật nặng trở lên | 2,0 |
+-------------------------------------------------------------+---------------+
- Chuyển đổi phương thức thực hiện chính sách: Thay thế cơ chế miễn giảm gián tiếp bằng việc cấp tiền mặt trực tiếp cho đối tượng tự chi trả dịch vụ y tế, giáo dục, thúc đẩy quyền tự chủ và nâng cao chất lượng dịch vụ của các cơ sở công lập/tư nhân.
- Xây dựng khung pháp luật và kế hoạch quốc gia: Tiến tới nghiên cứu, soạn thảo Luật Trợ giúp xã hội; xây dựng kế hoạch quốc gia trung hạn và dài hạn về phát triển hệ thống trợ giúp xã hội tại cộng đồng.
- Đổi mới cơ chế quản lý tài chính và nâng cao năng lực bộ máy: Phân định rõ trách nhiệm chi ngân sách giữa trung ương và địa phương; chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, xét duyệt hồ sơ tại cấp xã; đào tạo chuyên môn công tác xã hội cho đội ngũ cán bộ cơ sở.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt học thuật và lý luận
- Luận giải khái niệm TGXH toàn diện dưới góc độ khoa học quản lý, xác định rõ trách nhiệm chủ đạo của Nhà nước song song với việc huy động nguồn lực xã hội, khắc phục quan điểm xem TGXH chỉ là hoạt động từ thiện tự phát của cộng đồng.
- Bổ sung và hoàn thiện hệ thống 7 nguyên tắc chính sách, trong đó làm rõ 4 nguyên tắc: bảo đảm tính hiệu lực, bảo đảm tính hiệu quả, bảo đảm tính công bằng, bảo đảm sự ổn định bền vững.
- Nhận diện và phân loại 3 nhóm nhân tố tác động đến quá trình hoạch định và thực thi chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng.
- Thiết lập hệ thống công thức toán học với 6 chỉ tiêu định lượng ($M_{TGXH}$, $R_{DS}$, $R_{BTXH}$, $R_{rr}$, $\bar{t}$, $r$, $r_{th}$) phục vụ công tác giám sát, đánh giá hiệu lực, hiệu quả và tính công bằng của chính sách.
Phát hiện mới và đóng góp thực tiễn
- Tổng hợp dữ liệu thực chứng chỉ ra quy mô dân số cần TGXH chiếm 16,22% (năm 2008), trong khi độ bao phủ thực tế mới đạt 1,45% dân số; xác định tỷ lệ đối tượng đủ điều kiện nhưng chưa được thụ hưởng chính sách là 12,2%.
- Khảo sát thực tế phản ánh 32% đối tượng và 55% cán bộ làm công tác chính sách chưa hài lòng với mức trợ cấp do mức chi trả thấp hơn nhiều so với biến động giá cả và mức sống tối thiểu.
- Đề xuất phương án điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp xã hội lên 315.000 đồng/tháng cho năm 2011 cùng bảng hệ số chi trả chi tiết cho từng nhóm đối tượng yếu thế.
- Kiến nghị chuyển dịch phương thức hỗ trợ từ miễn giảm hành chính sang trợ cấp tiền mặt trực tiếp và đề xuất lộ trình xây dựng Luật Trợ giúp xã hội tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong 03 chính sách bộ phận (trợ cấp hàng tháng, trợ giúp y tế, trợ giúp giáo dục đào tạo) đối với các nhóm đối tượng sống tại cộng đồng; chưa đi sâu nghiên cứu hình thức chăm sóc nuôi dưỡng tập trung tại các trung tâm bảo trợ xã hội và các chính sách trợ giúp đột xuất khi có thiên tai, dịch bệnh diện rộng. Nguồn số liệu khảo sát thực chứng chủ yếu giới hạn trong giai đoạn 2000–2009.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu mở rộng sang các hợp phần trợ giúp khẩn cấp, trợ giúp sinh kế - việc làm cho người nghèo; hoàn thiện mô hình cung ứng dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp tại cấp xã/phường; đánh giá tác động tài chính dài hạn của ngân sách nhà nước khi mở rộng diện bao phủ trợ cấp xã hội cho toàn bộ người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Tài liệu cung cấp khung lý thuyết về quản lý an sinh xã hội, hệ thống công thức định lượng đánh giá chính sách công và kinh nghiệm so sánh quốc tế, phục vụ giảng dạy và nghiên cứu chuyên ngành Khoa học Quản lý, Kinh tế phát triển và Công tác xã hội.
- Đối với cơ quan quản lý và người làm chính sách: Các phân tích thực trạng, bảng tính toán ngân sách và đề xuất về mức chuẩn trợ cấp 315.000 đồng/tháng, hệ số trợ cấp, quy trình tinh giản hồ sơ xét duyệt là cơ sở tham khảo trực tiếp cho Bộ LĐTBXH, Bộ Tài chính và Ủy ban Xã hội của Quốc hội trong quá trình sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về bảo trợ xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án khẳng định chính sách TGXH phải chuyển từ tiếp cận nhân đạo sang tiếp cận dựa trên quyền?
Tiếp cận nhân đạo coi việc trợ cấp là sự giúp đỡ tùy thuộc vào lòng hảo tâm và khả năng ngân sách nhất thời, dễ dẫn đến tính thụ động và bao cấp. Tiếp cận dựa trên quyền khẳng định mọi công dân khi rơi vào hoàn cảnh bất khả kháng đều có quyền cơ bản được bảo đảm mức sống tối thiểu; Nhà nước có trách nhiệm pháp lý và nghĩa vụ phân phối lại nguồn lực quốc gia để đáp ứng các quyền sống còn, chăm sóc y tế và giáo dục của đối tượng.
2. Luận án đề xuất mức chuẩn trợ cấp xã hội áp dụng cho năm 2011 là bao nhiêu và căn cứ vào đâu?
Luận án đề xuất mức chuẩn trợ cấp xã hội áp dụng từ năm 2011 là 315.000 đồng/tháng. Mức này được xác định dựa trên tính toán chi phí giỏ lương thực, thực phẩm và phi lương thực nhằm bảo đảm khoảng 70% mức sống tối thiểu của dân cư tại thời điểm nghiên cứu.
3. Tỷ lệ bao phủ của chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng tại thời điểm khảo sát đạt bao nhiêu phần trăm?
Theo số liệu phân tích trong luận án, tỷ lệ bao phủ của chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng mới đạt khoảng 1,45% dân số, trong khi tổng quy mô đối tượng BTXH có nhu cầu trợ giúp chiếm tới 16,22% dân số (năm 2008), và còn 12,2% đối tượng đủ điều kiện hưởng theo quy định nhưng thực tế chưa được tiếp cận chính sách.
4. Bốn nhóm công cụ chính sách TGXH được luận án phân tích gồm những gì?
Bốn nhóm công cụ bao gồm: (1) Công cụ hành chính và tổ chức (hệ thống pháp luật, kế hoạch, tổ chức bộ máy và cán bộ); (2) Công cụ tài chính (ngân sách nhà nước 4 cấp và quỹ huy động xã hội); (3) Công cụ giáo dục và tâm lý (truyền thông, tư vấn xã hội nâng cao nhận thức); (4) Công cụ kỹ thuật nghiệp vụ (xác định đối tượng, thẩm định, ra quyết định, kiểm tra, theo dõi báo cáo).
Kết luận
Luận án "Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Ngọc Toản đã hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận về trợ giúp xã hội dưới góc độ khoa học quản lý. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực chứng giai đoạn 2000–2009, công trình chỉ rõ những thành tựu cùng các bất cập về diện bao phủ và mức chuẩn trợ cấp xã hội tại Việt Nam. Hệ thống giải pháp đề xuất — trọng tâm là đổi mới mức chuẩn trợ cấp lên 315.000 đồng/tháng, điều chỉnh hệ số hỗ trợ, hoàn thiện công cụ quản lý và xây dựng khung pháp luật — cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quá trình hoàn thiện chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam.