Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội đối với công tác xóa đói giảm nghèo. Thực trạng hoạt động tín dụng đối với công tác xóa đói giảm nghèo tại NHCSXH huyện Thanh Oai, TP Hà Nội. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với công tác xóa đói giảm nghèo tại NHCSXH huyện Thanh Oai, TP Hà Nội.
4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. TỔNG QUAN VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. Tổng quan về nghèo đói 1. Khái niệm * Các khái niệm về đói nghèo Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia thành hai loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về ăn mặc, nhà ở chăm sóc y tế, giáo dục.) Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới trung bình của cộng đồng địa phương ở một thời kỳ nhất định. Những quan niệm về đói nghèo nói trên phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo là có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng, không được thụ hưởng nhu cầu cơ bản mức tối thiểu dành cho con người, thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ánh tình trạng của một bộ phận dân cư không được thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con người, trước hết là ăn, mặc, ở.Nghèo tương đối lại phản ảnh sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư khi so sánh với mức sống trung bình của cộng đồng địa phương trong một thời kỳ nhất định. Do đó, có thể xóa dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo tương đối luôn xảy ra trong xã hội, vấn đề quan tâm ở đây là rút 5 ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo và hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, giảm thiểu tới mức thấp nhất tỷ lệ nghèo tương đối.
* Tiêu chí xác định hộ nghèo - Xác nhận hộ nghèo theo tiêu chí quốc tế: Ngân hàng thế giới đã xác định phương pháp đo lường đói nghèo mới theo hai cách : đo lường mức phúc lợi (xét về thu nhập hoặc chi tiêu) và sử dụng chuẩn nghèo theo cách tiếp cận (chi phí cho các nhu cầu cơ bản ). Chuẩn nghèo được xây dựng theo cách tiếp cận chi phí cho các nhu cầu cơ bản, dựa trên hành vi tiêu dùng quan sát được của người nghèo. Chuẩn này bao gồm các khoản chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm. Chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê – Ngân hàng thế giới ban đầu được xây dựng dựa trên một tiêu chuẩn là 2.100 Kcal/người/ngày.
Tổng cục Thống kê – Ngân hàng thế giới đã xác định chuẩn nghèo lương thực thực phẩm của năm 2010 là 343.000 đồng/tháng (tức là 4. Như vậy, nếu một hộ gia đình chi tiêu trung bình cho một đầu người dưới mức này thì được coi là hộ nghèo về lương thực thực phẩm. Chuẩn nghèo chung bao gồm chi tiêu cho lương thực, thực phầm và chi tiêu cho các nhu cầu phi lương thực, thực phẩm thiết yếu khác. Tính thêm những chi phí này với chuẩn đói nghèo về lương thực và thực phẩm ta sẽ có chuẩn đói nghèo chung.
Một hộ gia đình được coi là nghèo nếu chi tiêu trung bình theo đầu người dưới 653.000 đồng/người/tháng (tức là 7.000 đồng/người/năm). - Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn nghèo gia đoạn 2011 - 2015 quy định cụ thể về mức thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo và hộ gia đình khó khăn được xác định theo khu vực: thành thị và nông thôn. 6 Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống.
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng. - Theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. + Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
+ Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. + Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. + Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. 7 + Hộ có mức sống trung bình ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.
+ Hộ có mức sống trung bình ở khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam Thành tựu 20 năm đổi mới đã ảnh hưởng ngày càng sâu rộng tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng và bước vào một giai đoạn phát triển mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế tới phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Tuy vậy, Việt Nam vẫn được xếp vào nhóm các nước nghèo của thế giới. Tỷ lệ hộ đói nghèo của Việt Nam còn khá cao.
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã tổ chức hội nghị công bố kết quả tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo trên toàn quốc năm 2013. Theo đó, cả nước có trên 3,2 triệu hộ gia đình thuộc diện nghèo và cận nghèo. + Tổng số hộ nghèo: 1.221 hộ so với năm 2012); + Tỷ lệ hộ nghèo: 7,80% (giảm 1,80% so với năm 2012); +Tổng số hộ cận nghèo: 1.544 hộ so với năm 2012); + Tỷ lệ hộ cận nghèo: 6,32% (giảm 0,25% so với năm 2012); Đến cuối năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 1,8-2%/năm (từ 7,8% xuống còn 5,8- 6%); riêng tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm bình quân 5%/năm (từ 38,20% năm 2013 xuống còn 33,20% năm 2014). Như vậy, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã giảm từ 9,6% năm 2012 xuống còn 6% năm 2014.
Trong đó, miền núi Tây Bắc có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất với 25,86%, tiếp đến là vùng miền núi Đông Bắc với 14,81%; Tây Nguyên 12,56%; Bắc Trung Bộ 12,22%; Duyên hải miền Trung 10,15%; Đồng Bằng sông Cửu Long 7,41%; Đồng bằng sông Hồng 3,63%; Đông Nam Bộ 0,95%. 8 Về số hộ cận nghèo, vùng có tỷ lệ hộ cận nghèo cao nhất là miền núi Tây Bắc (12,92%), tiếp đến là Bắc Trung Bộ (12,06%). Vùng có tỷ lệ hộ cận nghèo thấp nhất là Đông Nam Bộ 1,05%. Mặc dù vậy, nhiều hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rất dễ rơi trở lại vào cảnh nghèo đói.
+ Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập bấp bênh Thu nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo, do vậy chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng nghèo và làm tăng tỷ lệ hộ nghèo. Phần lớn thu nhập của người nghèo từ nông nghiệp. Với điều kiện nguồn lực rất hạn chế (đất đai, lao động, vốn), thu nhập của những người nghèo rất bấp bênh và dễ bị tổn thương trước những đột biến của mỗi gia đình và cộng đồng. Nhiều gia đình tuy mức thu nhập ở trên ngưỡng nghèo nhưng vẫn giáp ranh với ngưỡng nghèo đói vì vậy khi có dao động về thu nhập cũng có thể khiến họ trượt xuống ngưỡng nghèo.
Tính vụ mùa trong sản xuất nông nghiệp cũng tạo nên khó khăn cho người nghèo. + Nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn, nhóm dân tộc ít người Có tới 64% số người nghèo tập chung tại các vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như vùng núi, vùng sâu, vùng xa hoặc ở các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung, do sự biến động của thời tiết (bão, lụt, hạn hán) khiến cho các điều kiện sinh sống. Đặc biệt, sự kếm phát triển về cơ sở hạ tầng của các vùng nghèo đã làm cho các vùng này càng bị tách biệt với các vùng khác. Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên không thuận lơi, số người cứu trợ đột xuất hàng năm khá cao khoảng 1- 1,5 triệu người.
Hàng năm số hộ tái nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi nghèo vẫn còn rất lớn. 9 Mặc dù dân tộc ít người chỉ chiếm 14% tổng dân cư xong lại chiếm khoảng 29% trong tổng số người nghèo. + Đói nghèo tập trung trong khu vực nông thôn Đói nghèo là một hiện tượng phổ biến ở nông thôn với 90% số người nghèo sinh sống ở nông thôn. Trên 80% số người nghèo là nông dân, trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếp cận với nguồn lực trong sản xuất.
+ Nghèo đói trong khu vực thành thị Trong khu vực thành thị, tuy tỷ lệ nghèo đói thấp hơn và mức sống trung bình cao hơn mức chung cả nước, nhưng mức độ cải thiện đời sống không đều. Đa số người nghèo thành thị đều làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, công việc không ổn định, thu nhập bấp bênh. Nguyên nhân đói nghèo Nghèo đói là hậu quả đan xen của nhiều nhóm các yếu tố, nhưng chung quy lại thì có thể chia nguyên nhân đói nghèo của nước ta theo các nhóm sau: * Nhóm nguyên nhân chủ quan do bản thân hộ nghèo - Thiếu vốn sản xuất: Các tài liệu điều tra cho thấy đây là nguyên nhân chủ yếu.