CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1. Cơ sở lý luận về thực thi chính sách người có công với cách mạng 1. Một số khái niệm 1. Người có công với cách mạng Cho đến nay, Việt Nam đã ban hành rất nhiều văn bản liên quan đến người có công với cách mạng bao gồm: - Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; - Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; - Liệt sĩ; - Bà mẹ Việt Nam anh hùng; - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; - Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; - Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; - Bệnh binh; - Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; - Người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày; - Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế; - Người có công giúp đỡ cách mạng.
Trong đó: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945, là 6 người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận: Đã tham gia một tổ chức cách mạng hoặc đã thực sự hoạt động cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Được kết nạp hoặc được kết nạp lại vào Đảng Cộng sản Đông Dương trước ngày 19 tháng Tám năm 1945. Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận khi có một trong các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 11 Pháp lệnh. Bà mẹ Việt Nam anh hùng, là người được tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” theo quy định tại Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến bao gồm: Người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ” theo quy định của pháp luật; người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động” trong thời kỳ kháng chiến vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến.
Liệt sĩ, là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" khi có một trong các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 14 Pháp lệnh. Thương binh, Người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B, là những người thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 23 của Pháp lệnh. Bệnh binh, là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ trong Quân đội nhân dân và sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân bị mắc bệnh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên khi làm nhiệm vụ cấp bách, nguy hiểm mà không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí thì được cơ 7 quan có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh" khi thôi phục vụ trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân. Người hoạt động kháng chiến bị nhiêm chất độc hóa học, là người được cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ ngày 01 tháng 8 năm 1961 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hóa học ở chiến trường B, C, K và một số địa danh thuộc huyện vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị bị nhiễm chất độc hóa học dẫn đến một trong các trường hợp sau đây: Mắc bệnh có liên quan đến phơi nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 21% trở lên; vô sinh; sinh con dị dạng, dị tật.
Người họat động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xét công nhận trong thời gian bị tù, đày không khai báo thông tin có hại cho cách mạng, kháng chiến, không làm tay sai cho địch. Người họat động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ Quốc tế, là người tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến, Huân chương chiến thắng, Huy chương kháng chiến, Huy chương chiến thắng. Người có công giúp đỡ cách mạng, là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm và được Nhà nước khen tặng thuộc một trong các trường hợp: Người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945; người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến; người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Huy chương kháng chiến. Từ văn bản trên, có thể hiểu: Người có công với cách mạng là đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước, được điều chỉnh bởi Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, 8 tuổi tác … đã có cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế, được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật.
Trong suốt chiều dài những cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, người có công với cách mạng luôn có tinh thần yêu nước, họ đã công hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp cách mạng cao cả của Tổ Quốc. Sự hy sinh những thiệt thòi mất mát to lớn của những người còn sống khi người thân mất đi là không gì đo đếm được. Bước ra khỏi thời chiến, người có công với cách mạng vẫn tiếp tục đi đầu trên các lĩnh vực, góp phần xây dựng đất nước, quê hương ngày càng giàu đẹp; luôn gương mẫu, đi đầu ủng hộ và chấp hành tốt các chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước, là tấm gương để mọi người noi theo; họ luôn trung thành với chế độ mà mình đem sức lực, máu xương để bảo vệ; luôn xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc; là những công dân gương mẫu, những tấm gương sáng giáo dục thế hệ trẻ tích cực lao động, học tập trong sự nghiệp và bảo vệ tổ quốc. Đối với thương binh, bệnh binh đã trải qua 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, hiện còn ít, hầu hết ở tuổi cao và trung niên, họ sống rất khiêm tốn, ít đòi hỏi quyền lợi các nhân; nhu cầu vật chất giản dị, hăng hái tham gia tích cực các hoạt động công tác xã hội.
Tuy nhiên, họ là những người chịu ảnh hưởng lớn từ tác động kinh tế thị trường với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến đời sống, tinh thần, vật chất của chính họ. Đối với thân nhân liệt sỹ và người có công với cách mạng, gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống do người thân, trụ cột gia đình đã bị hao tổn sức khỏe hoặc hy sinh trong cuộc chiến, họ rất cần sự quan tâm động viên, chia sẻ của cộng đồng. Chính sách đối với người có công với cách mạng Chính sách đối với người có công là một chính sách đặc biệt của hệ thống 9 chính sách xã hội Việt Nam, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của cộng đồng đối với một bộ phận dân cư đặc biệt - người có công với cách mạng, với đất nước, với dân tộc. Chính vì vậy, chính sách đối với người có công có vị trí đặc biệt quan trọng trong chính sách bảo đảm xã hội nói riêng và trong hệ thống chính sách xã hội nói chung.
Thông qua sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ của Đảng, Nhà nước và nhân dân, những người có công, thân nhân liệt sĩ cảm thấy vinh dự tự hào về những gì mình đã đóng góp, cống hiến cho tổ quốc, cho nhân dân; làm cho họ tăng thêm ý chí để vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống (Phạm Thị Hải Chuyền, 2014). Những người có công là một bộ phận lớn những người đã hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đó là những “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”, những Lão thành cách mạng, những liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công giúp đỡ cách mạng. Họ là những người có công với cách mạng, với đất nước, được Nhà nước và nhân dân ta ghi nhận, suy tôn và biết ơn sâu sắc. Do vậy, chính sách ưu đãi đối với người có công xét ở một góc độ nào đó chính là những ưu đãi xã hội.
Như vậy, chính sách người có công với cách mạng được hiểu là những quy định chung của Nhà nước về việc ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh của người có công với cách mạng thông qua các chế độ đãi ngộ đặc biệt để bù đắp phần nào đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công. Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công với cách mạng phản ánh trách nhiệm của nhà nước, của cộng đồng đối với người có công. Thực thi chính sách người có công với cách mạng Thực thi chính sách là tất yếu khách quan, là một bước quan trọng trong chu trình chính sách nhằm duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của nhà nước và cũng là mục tiêu đề ra của chính sách. Tổ chức thực thi chính sách đối với người có công là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm 10 đạt được mục tiêu, định hướng của chính sách đối với người có công.
Nói một cách khác tổ chức thực thi chính sách đối với người có công là quá trình hiện thực hóa, đưa chính sách đối với người có công của nhà nước vào thực tiễn cuộc sống xã hội (Nguyễn Bá Hoan 2022).