Chương 1: Những vấn đề chung về BHXH và chính sách, chế độ thai sản & % Chương 2: Thực trạng về chính sách, chế độ thai sản ở Việt Nam và việc tổ chức quản lý thực hiện Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách, chế độ thai sản ở Việt Nam CHUONG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BHXH VÀ CHÍNH SÁCH, CHẾ ĐỘ THAI SẢN 1. Một số vấn đề về BHXH và chính sách, chế độ thai sản: 1.1 Tính tất yếu khách quan của việc hình thành chính sách, chế độ BHXH nói chung và chính sách, chế độ thai sẵn nói riêng: Ngày nay, mọi thành viên của xã hội đều thấy cần thiết phải tiến hành bảo hiểm. Có bảo hiểm mới chủ động về tài chính khi rủi ro xảy ra gây nên tổn thất về đời sống kinh tế. Trong đó BHXH đối với người lao động vừa là nhu cầu, vừa là quyền lợi của họ.
BHXH là sự bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ khi họ bị giảm, bị mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, trên cơ sở san sẻ trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHXH. Đó là việc làm vừa thể hiện tính nhân đạo xã hội, vừa thể hiện trách nhiệm xã hội với người lao động. Người lao động, không phân biệt thành phần kinh tế, đều là những người tham gia vào quá trình sản xuất, tức là quá trình tạo ra sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ phục vụ lợi ích xã hội. Những người đó đã vì xã hội mà làm việc.
Cho nên xã hội phải có trách nhiệm chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần, không chỉ khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, mà ngay cả khi tai nạn rủi ro. Xã hội phải có trách nhiệm đối với mọi người lao động, những người trong lực lượng lao động có tham gia lao động, có đóng góp cho quỹ BHXH. Có như vậy mới đảm bảo trong trách nhiệm và quyền lợi của mọi người lao động. Như vậy, BHXH ra đời là một tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai và để đáp ứng sự phát triển chung của xã hội đòi hỏi BHXH ngày càng phải được củng cố và hoàn thiện.
Trong hệ thống các chế độ BHXH, chế độ trợ cấp thai sản ngoài ý nghĩa bảo đảm thu nhập cho người phụ nữ còn có ý nghĩa xã hội và tính nhân văn rất lớn, góp phần để tái sản xuất dân số, duy trì nòi giống. Vì vậy, ngay từ cuộc họp đầu tiên của ILO, Công ước số 103 (năm 1991) về bảo vệ thai sản đã được thông qua. Mục đích chính của công ước là đảm bảo cho lao động 3 nữ và trẻ sơ sinh được chăm sóc cần thiết và được bảo đảm thu nhập ở mức đủ sống của hai mẹ con trong thời kỳ người mẹ sinh nở phải nghỉ việc. Đặc biệt trong Công ước 102 (1952) và 103 (1952) quy định rất cụ thể về chế độ này để các nước thành viên dựa vào đó thực hiện.
Bản chất của chính sách, chế độ thai sản: Chính sách thai sản thể hiện trách nhiệm của nhà nước và của cộng đồng xã hội đối với thế hệ tương lai, đồng thời cũng thể hiện sự bình đẳng xã hội ngày càng nâng cao. Chế độ thai sản là sự đảm bảo thu nhập và ổn định cuộc sống đối với lao động nữ khi họ mang thai, sinh đẻ hoặc nuôi con trong một thời gian ngắn. Nó có vị trí quan trọng đối với người lao động nữ, nhằm động viên, khuyến khích và hỗ trợ người mẹ khi họ mang thai, sinh đẻ và nuôi con sơ sinh, Như vậy, chế độ thai sản là một chế độ mang tính xã hội hóa cao, nó được thực hiện thường xuyên và đều đặc, kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nói cách khác, nó diễn ra một cách liên tục vì sự sống luôn phát triển vì Vậy, nó tạo ra sự ràng buộc và đoàn kết giữa các thế hệ, làm cho mọi người trong xã hội quan tâm và gắn bó với nhau hơn, thể hiện mối quan tâm sâu sắc giữa người với người.
Vai trò của chế độ thai sản trong hệ thống chính sách BHXH. Trong hệ thống chính sách xã hội có những loại chính sách xã hội phổ biến, có ảnh hưởng, có tác động đến đại bộ phận các tầng lớp dân cư trong xã hội. Đồng thời, có những loại chính sách xã hội có tính đặc thù, chỉ có những ảnh hưởng, những tác động đến một bộ phận, một giai tầng xã hội nào đó mà thôi. Nói cách khác, mỗi một loại chính sách xã hội có một loại đối tượng tác động nhất định nhằm đạt một mục tiêu nhất định.
Là một bộ phận của chính sách xã hội, chính sách thai sản đối với người lao động giữ một vai trò rất to lớn. Thứ nhất, đối tượng của chính sách là những người lao động nữ, chiếm một tỷ lệ đáng kể trong dân cư và trong lực lượng lao động của xã hội. Những người này đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất 4 nước. Thứ hai, mục tiêu của chính sách đối với người nghỉ thai sản là nhằm góp phần đảm bảo đời sống vật chất và tình thần cho họ trong thời gian nghỉ sinh con không có nguồn thu nhập nào khác.
Quy định của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về chế độ thai sản. - Công ước 03: Đây là Công ước đầu tiên về thai sản được Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thong qua ngay 29/10/1919 quy định trợ cấp thai sản đối với lao động nữ trong các ngành công nghiệp. Công ước 102: Năm 1952, Viện nghị của ILO đã thông qua công ước 102 quy định những tiêu chuẩn tối thiểu về Bảo đảm xã hội. Đây là Công ước có nội dung đầy đủ nhất, phát triển những tiêu chuẩn quốc tế về Bảo đảm xã hội.
Công ước 103: Ngày 28/6/1952, Tổ chức lao động quốc tế đã thông qua công ước số 103. Nội dung của công ước lần này là quy định nội dung trợ cấp thai sản đối với lao động nữ trong các ngành công nghiệp cả nhà nước và tư nhân. Những quy định này đã mang tính chất cụ thể hơn so với công ước 03 thông qua năm 1919, Công ước 183: Đây là công ước có nội dung cụ thể nhất về chế độ trợ cấp thai sản đối với tất cả mọi người lao động nữ được Tổ chức ILO thông qua ngày 15/6/2000. Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới.
Về điều kiện nhận trợ cấp: - Điều kiện thứ nhất: Những người đang mang thai hoặc sinh để có tham gia BHXH. - Điều kiện thứ hai: Phải có thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh, thông thường các nước yêu cầu thời gian đóng góp tối thiểu trong khoảng từ 6 tháng đến 12 tháng cuối cùng trước khi sinh. Thời gian và mức hưởng trợ cấp thai sản: Trong trợ cấp thai sản thường có hai loại trợ cấp: trợ cấp bằng tiền và chăm sóc y tế. - Đối với chăm sóc y tế: Hầu hết các nước trên thế giới đều bắt buộc người phụ nữ trong thời gian mang thai và sinh con phải sử dụng dịch vụ chăm sóc y tế trước và sau khi sinh.
- Đối với trợ cấp thai sản bằng tiên: Thông thường mức trợ cấp thai sản là 100% lương và thời gian trợ cấp thường là 6 tuần trước khi sinh và từ 6 đến 8 tuần sau khi sinh. Ngoài trợ cấp kể trên thì mỗi lần sinh con người mẹ còn được trợ cấp nuôi con với mức từ 20 đến 25% mức trợ cấp thai sản trong thời gian từ 6 tháng trở lên. Cũng có một số nước thực hiện hỗ trợ tiền sắm sửa tã lót và trợ cấp thai sản một lần. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH, CHẾ ĐỘ THAI SẢN Ở VIỆT NAM VÀ VIỆC TỔ CHỨC QUẢN LÝ THỰC HIỆN 2.
Chính sách, chế độ thai sản và việc tổ chức quản lý thực hiện ở Việt Nam qua các thời kỳ. Thời kỳ trước năm 1995 Chính sách BHXH ở Việt Nam đã hình thành từ những năm đầu thành lập nước (tháng 8/1945) được thể hiện qua việc ban hành một số Sắc lệnh: SL, số 20/SL, 29/SL, 76/SL, 77/SL. Những quy định trong các sắc lệnh này đều có nội dung và nguyên tắc về BHXH, nhưng do hoàn cảnh đất nước đang có chiến tranh, nền kinh tế còn nhiều khó khăn nên việc thực hiện quyền lợi bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ thai sản nói riêng đối với người lao động trong giai đoạn này chưa đầy đủ và toàn diện, quỹ bảo hiểm xã hội chưa được hình thành. Để phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước sau ngày hòa bình lập lại ở Miễn Bắc và nhằm đáp ứng những nhu cầu cải thiện đời sống của cán bộ công nhân viên chức, ngày 27 tháng 12 năm 1961, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định 218/CP kèm theo Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức nhà nước.
Đây là Điều lệ tương đối đầy đủ, nó đã cụ thể hóa nhiều nội dung chủ yếu về bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức nhà nước, trong đó Điều lệ dành hẳn tiết 2 (từ Điều 13 đến Điều 22) để quy định nội dung cụ thể về chế độ thai sản. Tóm lại: Chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội giai đoạn trước năm 1995 nói chung và chính sách, chế độ thai sản nói riêng đã có những thành tựu đáng kể và thực sự trở thành sự bảo vệ của nhà nước và xã hội đối với công nhân, viên chức và quân nhân, tạo điều kiện để công nhân, viên chức, quân nhân yên tâm, phấn khởi lao động, sản xuất, chiến đấu, góp phần giải phóng và xây dựng đất nước. BHXH đã khẳng định quyền lợi thiết yếu của cán bộ, viên chức, quân nhân trong suốt quá trình làm việc và nghỉ việc khi cao tuổi SỨC yếu. Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, chính sách BHXH nói chung và chính sách về chế độ thai sản nói riêng thời kỳ này cũng bộc lộ những nhược điểm, đặc biệt từ khi đổi mới nền kinh tế — xã hội: - Phạm vi đối tượng hẹp.
- Không quy định mối quan hệ giữa đóng góp và thụ hưởng, do đó Ngân sách Nhà nước bao cấp ngày càng nặng nể. Khi Ngân sách Nhà nước gặp khó khăn thì nguồn để chỉ trả bảo hiểm xã hội cho người lao động không đảm bảo, ảnh hưởng đến đời sống của đối tượng. - Việc tổ chức quản lý thực hiện chính sách bị phân tán, phần chi về BHXH có bộ phận dư thừa không thể điểu tiết sang bộ phận thiếu được. Thời kỳ từ năm 1995 trở lại đây 2.