Tổng quan nghiên cứu
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương chiến lược xuyên suốt trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Giai đoạn 2011-2015 ghi nhận nhiều thành tựu nổi bật khi tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm từ 5,97% năm 2014 xuống dưới 5,0% vào cuối năm 2015, đưa Việt Nam trở thành điểm sáng toàn cầu về thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Mặc dù vậy, tại các huyện nghèo diện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, tỷ lệ nghèo vẫn duy trì ở mức cao khoảng 28%, bộc lộ rõ tính bấp bênh và nguy cơ tái nghèo lớn. Việc áp dụng chuẩn nghèo đơn chiều dựa thuần túy trên mức thu nhập trước đây đã bộc lộ nhiều bất cập, không phản ánh toàn diện các rào cản xã hội mà người nghèo đang đối mặt.
Huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên là địa bàn trung du thuần nông với diện tích tự nhiên 25.220 ha, trong đó tỷ lệ dân số sinh sống tại khu vực nông thôn chiếm tới 93,57% năm 2016. Khả năng tự chủ tài chính của địa phương còn hạn chế khi nguồn thu ngân sách trên địa bàn năm 2016 đạt 63,4 tỷ đồng, chỉ đáp ứng được khoảng 16,1% tổng chi ngân sách địa phương (393,3 tỷ đồng). Mặc dù tỷ lệ nghèo có xu hướng giảm qua các năm, kết quả này chưa thực sự bền vững do số hộ cận nghèo phát sinh lớn, tâm lý trông chờ ỷ lại vào hỗ trợ của Nhà nước còn phổ biến và mức thu nhập của các hộ mới thoát nghèo vẫn nằm sát ngưỡng chuẩn nghèo.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp với đề tài nghiên cứu về giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều tại huyện Phú Bình được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản và lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng. Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp giai đoạn 2014-2016 và dữ liệu sơ cấp điều tra năm 2017 trên địa bàn 21 đơn vị hành chính của huyện. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân từ 1,0% đến 1,5% mỗi năm một cách thực chất và bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa Lý thuyết Năng lực và Phúc lợi của Amartya Sen cùng Khung Sinh kế Bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - SLF) do Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) ban hành. Theo Amartya Sen, nghèo đói không đơn thuần là sự thiếu hụt về thu nhập hay chi tiêu bằng tiền mặt, mà bản chất là sự tước đoạt các năng lực cơ bản (capability deprivation) khiến con người mất đi quyền tự do lựa chọn và cơ hội tham gia bình đẳng vào đời sống xã hội. Tiếp cận này đặt nền tảng cho việc đo lường nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI), trong đó tình trạng nghèo được xem xét dưới góc độ thiếu hụt đồng thời nhiều nhu cầu cơ bản.
Khung sinh kế bền vững phân tích khả năng thoát nghèo của hộ gia đình dựa trên 5 nguồn vốn sinh kế thiết yếu: vốn con người (trình độ học vấn, kỹ năng, sức khỏe), vốn tự nhiên (đất sản xuất, nguồn nước), vốn vật chất (nhà ở, tư liệu sản xuất, hạ tầng), vốn tài chính (tiền tích lũy, khả năng tiếp cận tín dụng) và vốn xã hội (mối quan hệ họ hàng, cộng đồng, hội đoàn). Kết quả sinh kế (thoát nghèo hay tái nghèo) chịu sự chi phối mạnh mẽ của môi trường thể chế chính sách và mức độ tổn thương trước các cú sốc rủi ro như thiên tai hay dịch bệnh.
Tại Việt Nam, Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 gồm tiêu chí thu nhập (700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị) kết hợp với 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt thuộc 5 dịch vụ xã hội cơ bản: y tế (tiếp cận dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế), giáo dục (trình độ người lớn, tình trạng đi học của trẻ em), nhà ở (chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân), nước sạch và vệ sinh (nguồn nước sinh hoạt, hố xí hợp vệ sinh), và thông tin (sử dụng dịch vụ viễn thông, tài sản tiếp cận thông tin). Thang đo tổng hợp gồm 100 điểm, mỗi dịch vụ chiếm 20 điểm và mỗi chỉ số thành phần chiếm 10 điểm, phản ánh sự bình đẳng về quyền tiếp cận an sinh xã hội theo Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết số 15-NQ/TW.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng quy trình kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm đảm bảo tính chuẩn xác và độ bao phủ thông tin:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập chuỗi số liệu từ năm 2014 đến năm 2016 từ Niên giám thống kê huyện Phú Bình, báo cáo kinh tế - xã hội của UBND huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Chi cục Thống kê huyện và các văn bản pháp quy liên quan.
- Dữ liệu sơ cấp và cỡ mẫu: Khảo sát trực tiếp 120 hộ gia đình tại 3 địa bàn đại diện trong năm 2017, bao gồm thị trấn Hương Sơn (40 hộ, đại diện vùng đô thị hóa và trung tâm dịch vụ), xã Điềm Thụy (40 hộ, đại diện vùng phát triển công nghiệp ven khu công nghiệp), và xã Thanh Ninh (40 hộ, đại diện vùng thuần nông trung du).
- Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên. Mẫu khảo sát 120 hộ được phân bổ theo 3 nhóm đối tượng thực tế gồm: 22 hộ nghèo (chiếm 18,33%), 18 hộ cận nghèo (chiếm 15,0%) và 80 hộ không nghèo (chiếm 66,67%). Phương pháp chọn mẫu phân tầng giúp phản ánh đúng bức tranh phân hóa mức sống và đặc thù sinh kế theo từng vùng sinh thái nông nghiệp của huyện.
- Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (bảng phân tổ tần số, tính toán giá trị tuyệt đối và tỷ lệ phần trăm), phương pháp so sánh đối chiếu giữa nghèo đơn chiều và đa chiều, kết hợp phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) qua phỏng vấn sâu cán bộ xã và thảo luận nhóm tập trung người dân. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp vừa lượng hóa chính xác 10 chỉ số thiếu hụt, vừa giải thích sâu sắc nguyên nhân định tính và nguyện vọng thực tế của người nghèo.
- Timeline nghiên cứu: Đề tài được triển khai từ tháng 8/2016 đến tháng 8/2017, với đợt điều tra thực địa tập trung hoàn thành trong nửa đầu năm 2017.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích số liệu thứ cấp và kết quả điều tra thực địa 120 hộ dân tại huyện Phú Bình mang lại những phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, quy mô kinh tế huyện Phú Bình còn phụ thuộc lớn vào sản xuất nông nghiệp với diện tích đất nông nghiệp chiếm 21.186 ha trên tổng số 25.220 ha diện tích tự nhiên năm 2016. Mặc dù giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng trưởng ổn định (đạt 1.966 tỷ đồng theo giá so sánh 2010 vào năm 2016), tỷ trọng thu ngân sách địa phương vẫn ở mức thấp, chỉ đạt 63,4 tỷ đồng năm 2016, tạo áp lực lớn cho nguồn lực đầu tư an sinh xã hội tại chỗ.
Thứ hai, kết quả rà soát hộ nghèo đa chiều cho thấy sự thiếu hụt nghiêm trọng tập trung vào hai chiều cơ bản là Y tế và Nhà ở. Trong số 22 hộ nghèo được điều tra, có tới 45,5% hộ thiếu hụt chỉ số bảo hiểm y tế hoặc gặp rào cản chi phí khi tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh tại các cơ sở chuyên khoa. Về chiều nhà ở, có 54,5% hộ nghèo đang sinh sống trong nhà thiếu kiên cố hoặc có diện tích bình quân đầu người dưới 8m2/người, cao gấp 3,6 lần so với nhóm hộ cận nghèo (chỉ ở mức 15,0%).
Thứ ba, sự thiếu hụt về giáo dục và thông tin duy trì ở mức đáng lo ngại. Tỷ lệ người lớn trong độ tuổi lao động của nhóm hộ nghèo chưa tốt nghiệp trung học cơ sở chiếm 40,9%, hạn chế khả năng tìm kiếm việc làm tại các khu công nghiệp trên địa bàn. Bên cạnh đó, có 36,4% hộ nghèo thiếu hụt tài sản tiếp cận thông tin hoặc không sử dụng dịch vụ viễn thông internet, làm giảm cơ hội tiếp cận kiến thức thị trường và kỹ thuật nông nghiệp tiến bộ.
Thứ tư, về nguyên nhân nghèo đói, số liệu tổng hợp chỉ ra rằng thiếu vốn sản xuất là nguyên nhân hàng đầu (chiếm 68,2% trong nhóm hộ nghèo), tiếp đến là thiếu kỹ thuật canh tác (chiếm 50,0%), thiếu đất sản xuất chất lượng cao (chiếm 40,9%) và gánh nặng thành viên ốm đau dài ngày hoặc đông con phụ thuộc (chiếm 36,4%).
Thảo luận kết quả
Thực trạng nghèo đa chiều tại huyện Phú Bình bắt nguồn từ sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố nội lực sinh kế và môi trường tự nhiên. Đặc điểm thổ nhưỡng của huyện phần lớn là đất xám bạc màu, nghèo dinh dưỡng với độ mùn thấp chỉ từ 0,5% đến 0,7% và độ pH chua từ 4 đến 5, dẫn đến năng suất cây trồng thấp nếu không có nguồn vốn đầu tư phân bón và cải tạo đất thỏa đáng. Khi người dân thiếu vốn tự có và khó tiếp cận các kênh tín dụng chính thức, họ rơi vào vòng luẩn quẩn: năng suất thấp - thu nhập bấp bênh - không thể tích lũy để cải thiện nhà ở và chăm sóc y tế.
Khi so sánh với kinh nghiệm thực tiễn từ các tỉnh lân cận, bức tranh giảm nghèo tại Phú Bình bộc lộ rõ điểm nghẽn về tính liên kết chuỗi. Tại tỉnh Hòa Bình, các mô hình liên kết trồng mía nguyên liệu quy mô 223 ha với 965 hộ tham gia đã mang lại doanh thu bình quân trên 90 triệu đồng/ha, giúp người dân thoát nghèo bền vững. Tại tỉnh Bắc Giang, việc huy động gần 2.400 tỷ đồng nguồn lực lồng ghép với các mô hình kinh tế đồi rừng đã tạo việc làm ổn định. Trong khi đó, tại Phú Bình, mặc dù hạ tầng công nghiệp phát triển nhanh với các dự án lớn như Khu công nghiệp Điềm Thụy và tổ hợp Yên Bình, sự kết nối giữa đào tạo lao động nông thôn tại chỗ với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp vẫn còn lỏng lẻo.
Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu khảo sát có thể được biểu diễn hiệu quả thông qua biểu đồ radar (mạng nhện) gồm 5 trục biểu thị tỷ lệ thiếu hụt của 5 chiều dịch vụ xã hội, kết hợp bảng ma trận phân tầng điểm thiếu hụt (từ 10 đến 50 điểm). Mô hình hóa này giúp các nhà quản lý thấy rõ rằng giảm nghèo không chỉ là nâng mức thu nhập vượt qua ngưỡng 700.000 đồng/tháng, mà cốt lõi là lấp đầy các khoảng trống về bảo hiểm y tế, nhà ở kiên cố và trình độ nghề nghiệp cho người dân.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm thực hiện mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 1,0% đến 1,5%/năm và đảm bảo tính bền vững trong giai đoạn 2017-2020, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả vốn tín dụng chính sách gắn với chuyển giao kỹ thuật: Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phú Bình phối hợp cùng Hội Nông dân và Hội Phụ nữ triển khai gói tín dụng ưu đãi với mức vay nâng từ 30 triệu đồng lên 50 triệu đồng/hộ nghèo, phấn đấu 100% hộ nghèo có nhu cầu và đủ điều kiện đều được tiếp cận vốn vay trước quý 4 năm 2018. Đồng thời, Trung tâm Khuyến nông huyện tổ chức tối thiểu 40 lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh cây trồng, chăn nuôi an toàn sinh học mỗi năm, hướng tới mục tiêu nâng thu nhập bình quân của nhóm hộ vay vốn tăng 12% đến 15%/năm trong giai đoạn 2018-2020.
- Nâng cấp hạ tầng y tế cơ sở và bao phủ bảo hiểm y tế toàn diện: UBND huyện Phú Bình chỉ đạo Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bảo hiểm Xã hội huyện đảm bảo cấp phát 100% thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho người thuộc hộ nghèo và hỗ trợ tối thiểu 70% đến 85% mức đóng cho hộ cận nghèo ngay từ đầu năm tài chính. Bố trí nguồn vốn đầu tư công nâng cấp trang thiết bị cho 21 trạm y tế xã và 2 bệnh viện tuyến huyện, phấn đấu giảm tỷ lệ thiếu hụt dịch vụ khám chữa bệnh xuống dưới 10% trước năm 2020.
- Hỗ trợ cải thiện điều kiện nhà ở và công trình nước sạch - vệ sinh: Lồng ghép nguồn vốn Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới và Quỹ Ngày vì người nghèo để hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở cho 100% hộ nghèo đang ở nhà đơn sơ, đảm bảo diện tích nhà ở tối thiểu đạt trên 10m2/người. Phòng Kinh tế và Hạ tầng triển khai các dự án cấp nước sạch tập trung tại 7 xã miền núi và vùng nước máng, đặt mục tiêu đến năm 2020 đạt trên 95% hộ dân nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh và trên 85% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh.
- Đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu của các khu công nghiệp trên địa bàn: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phú Bình chủ trì ký kết thỏa thuận hợp tác đào tạo nghề với Ban quản lý Khu công nghiệp Điềm Thụy và các doanh nghiệp may mặc, điện tử. Đặt chỉ tiêu đào tạo nghề ngắn hạn cho 1.500 đến 2.000 lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo mỗi năm trong giai đoạn 2018-2020, tạo điều kiện chuyển dịch từ 20% đến 25% lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp - dịch vụ với mức lương ổn định từ 5 đến 7 triệu đồng/tháng.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao, là tài liệu tham khảo hữu ích cho 4 nhóm đối tượng chính:
- Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách an sinh xã hội: Lãnh đạo UBND cấp huyện, cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Chi cục Thống kê có thể ứng dụng trực tiếp quy trình rà soát 10 chỉ số thiếu hụt đa chiều để phân loại đối tượng thụ hưởng chính xác, tránh dàn trải ngân sách và đo lường chính xác nguy cơ tái nghèo trên địa bàn 21 xã, thị trấn.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành kinh tế: Các nhà nghiên cứu thuộc khối ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Chính sách công và Xã hội học có thể sử dụng khung lý thuyết tích hợp và bộ công cụ điều tra 120 mẫu thực địa làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về an sinh xã hội vùng trung du Bắc Bộ.
- Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị tài trợ phát triển: Các tổ chức phát triển cộng đồng (NGOs), các quỹ tín dụng vi mô có thể sử dụng bức tranh thiếu hụt chi tiết về y tế, nước sạch và nhà ở tại Phú Bình để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế phi nông nghiệp và cải thiện vệ sinh môi trường trúng đích.
- Ban chỉ đạo Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới: Các nhà quản lý chương trình nông thôn mới cấp huyện và xã có thể áp dụng các giải pháp liên kết đào tạo nghề tại khu công nghiệp Điềm Thụy để giải quyết tiêu chí số 10 về thu nhập và tiêu chí số 11 về hộ nghèo một cách bền vững.
Câu hỏi thường gặp
Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 khác biệt căn bản như thế nào so với chuẩn nghèo đơn chiều?
Chuẩn nghèo đơn chiều trước đây chỉ căn cứ vào mức thu nhập bình quân đầu người bằng tiền (dưới 400.000 đồng/tháng ở nông thôn giai đoạn 2011-2015), dễ bỏ sót các nhu cầu sống tối thiểu. Chuẩn nghèo đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg kết hợp tiêu chí thu nhập (700.000 đồng ở nông thôn) với mức độ thiếu hụt 10 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản. Hộ có thu nhập trên 700.000 đồng nhưng thiếu hụt từ 3 chỉ số trở lên vẫn được xác định là hộ nghèo.
Tại sao Y tế và Nhà ở lại là hai chiều thiếu hụt nghiêm trọng nhất của hộ nghèo tại Phú Bình?
Kết quả khảo sát 120 hộ cho thấy 45,5% hộ nghèo thiếu hụt bảo hiểm y tế và 54,5% thiếu hụt chất lượng/diện tích nhà ở. Nguyên nhân do chi phí xây dựng nhà kiên cố vượt quá năng lực tích lũy của hộ thuần nông, trong khi nhận thức về việc tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện còn hạn chế, khiến các cú sốc bệnh tật dễ đẩy hộ gia đình vào tình trạng kiệt quệ tài chính.
Phương pháp chọn mẫu 120 hộ tại 3 địa bàn có bảo đảm tính đại diện khoa học cho toàn huyện?
Quy mô mẫu 120 hộ được chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên tại thị trấn Hương Sơn (trung tâm đô thị), xã Điềm Thụy (vùng phát triển công nghiệp) và xã Thanh Ninh (vùng thuần nông), chia thành 22 hộ nghèo, 18 hộ cận nghèo và 80 hộ không nghèo. Cơ cấu này phản ánh đầy đủ các đặc thù sinh thái nông nghiệp, trình độ phát triển và mức độ phân hóa thu nhập của toàn bộ 21 xã, thị trấn trong huyện.
Sự phát triển của các khu công nghiệp trên địa bàn tác động ra sao đến bài toán giảm nghèo tại Phú Bình?
Sự hiện diện của Khu công nghiệp Điềm Thụy và tuyến đường nối cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên mở ra cơ hội việc làm lớn. Tuy nhiên, do 40,9% lao động hộ nghèo chưa tốt nghiệp THCS và thiếu kỹ năng công nghiệp, họ gặp khó khăn trong việc tuyển dụng trực tiếp nếu không có các chương trình đào tạo nghề ngắn hạn chuyển tiếp từ chính quyền.
Giải pháp nào mang tính quyết định để ngăn chặn nguy cơ tái nghèo sau khi vượt qua ngưỡng thu nhập?
Giải pháp đột phá là chuyển đổi từ hỗ trợ cho không sang chính sách hỗ trợ có điều kiện gắn với sinh kế tự thân. Việc cấp bù lãi suất tín dụng ưu đãi kết hợp bắt buộc đào tạo kỹ thuật thâm canh và đào tạo nghề công nghiệp sẽ giúp hộ nghèo xây dựng nguồn vốn con người và tài sản tích lũy vững chắc, đủ sức chống chịu trước các rủi ro kinh tế.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa thành công khung lý luận về giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều, áp dụng chuẩn mực 5 dịch vụ xã hội cơ bản và 10 chỉ số đo lường theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg vào thực tiễn địa phương trung du.
- Nghiên cứu lượng hóa thực trạng nghèo tại huyện Phú Bình thông qua khảo sát 120 hộ, chỉ rõ tỷ lệ thiếu hụt cao nhất nằm ở chiều Y tế (45,5%) và Nhà ở (54,5%), phản ánh tính chất đa chiều vượt ra ngoài yếu tố thu nhập đơn thuần.
- Xác định rõ 4 rào cản nội lực chính của người nghèo địa phương gồm: thiếu vốn sản xuất (68,2%), thiếu kỹ thuật (50,0%), đất đai nghèo dinh dưỡng (độ mùn 0,5% - 0,7%) và gánh nặng ốm đau bệnh tật.
- Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi kết hợp chặt chẽ giữa tín dụng ưu đãi, bao phủ bảo hiểm y tế, cải thiện nhà ở - nước sạch và đào tạo nghề gắn với khu công nghiệp Điềm Thụy.
- Đóng góp luận cứ khoa học và bộ cơ sở dữ liệu thực chứng tin cậy phục vụ công tác điều hành an sinh xã hội của huyện Phú Bình và tỉnh Thái Nguyên nhằm đạt mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo 1,0% đến 1,5% mỗi năm.
Công trình tạo tiền đề chuyển đổi căn bản tư duy quản lý giảm nghèo từ hỗ trợ thụ động sang đầu tư nâng cao năng lực sinh kế chủ động cho người dân. Trong lộ trình tiếp theo giai đoạn 2018-2020, địa phương cần đẩy mạnh số hóa cơ sở dữ liệu rà soát hộ nghèo đa chiều hàng năm và mở rộng các mô hình liên kết đào tạo nghề giữa trường nghề với doanh nghiệp FDI. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và học viên quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu nghiên cứu này để làm tài liệu tham khảo chuyên sâu và phát triển các mô hình giảm nghèo thực chứng cho các địa bàn tương đồng.