Luận văn thạc sĩ giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên

Luận văn thạc sĩ đề xuất giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, nhằm cải thiện đời sống người dân.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

88
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giảm nghèo bền vững và nghèo đa chiều

Giảm nghèo bền vững là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Nghèo đa chiều không chỉ dừng lại ở thiếu hụt thu nhập mà còn bao gồm sự thiếu thốn trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, nhà ở, và tiếp cận thông tin. Tại huyện Phú Bình, Thái Nguyên, việc áp dụng tiêu chí nghèo đa chiều giúp đánh giá toàn diện hơn tình trạng nghèo đói, từ đó đề xuất các giải pháp giảm nghèo hiệu quả và bền vững.

1.1. Khái niệm và tiêu chí nghèo đa chiều

Nghèo đa chiều được hiểu là tình trạng thiếu hụt nhiều mặt trong đời sống, bao gồm giáo dục, y tế, nhà ở, và tiếp cận thông tin. Theo QĐ 59/2015/QĐ-TTg, các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều bao gồm: giáo dục, y tế, điều kiện sống, và tiếp cận thông tin. Việc áp dụng tiêu chí nghèo đa chiều tại huyện Phú Bình giúp xác định chính xác hơn các hộ nghèo, từ đó đưa ra các chính sách giảm nghèo phù hợp.

1.2. Thực trạng nghèo đa chiều tại Phú Bình

Tại huyện Phú Bình, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí nghèo đa chiều còn cao, đặc biệt ở các vùng nông thôn và miền núi. Các hộ nghèo thường thiếu hụt trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, và điều kiện sống. Việc đánh giá nghèo đa chiều giúp nhận diện rõ hơn các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, từ đó đề xuất các giải pháp giảm nghèo hiệu quả.

II. Giải pháp giảm nghèo bền vững tại Phú Bình

Để thực hiện giảm nghèo bền vững tại huyện Phú Bình, cần tập trung vào các giải pháp giảm nghèo toàn diện, bao gồm tăng cường sinh kế, hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Các chính sách giảm nghèo cần được thực hiện đồng bộ và có sự tham gia của cộng đồng nghèo.

2.1. Tăng cường sinh kế và hỗ trợ phát triển

Một trong những giải pháp giảm nghèo hiệu quả là tăng cường sinh kế cho các hộ nghèo thông qua đào tạo nghề, hỗ trợ vốn, và phát triển các mô hình kinh tế phù hợp. Tại huyện Phú Bình, việc hỗ trợ phát triển các ngành nghề truyền thống và nông nghiệp công nghệ cao giúp tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân.

2.2. Nâng cao chất lượng giáo dục và y tế

Giáo dục và đào tạo là yếu tố then chốt trong giảm nghèo bền vững. Tại huyện Phú Bình, cần đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và miền núi. Đồng thời, cải thiện hệ thống y tế và sức khỏe giúp người dân tiếp cận tốt hơn các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, từ đó giảm thiểu các rủi ro về bệnh tật và nâng cao chất lượng cuộc sống.

III. Phát triển kinh tế địa phương và cơ sở hạ tầng

Phát triển kinh tế địa phương và cải thiện cơ sở hạ tầng là những yếu tố quan trọng trong giảm nghèo bền vững. Tại huyện Phú Bình, việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng như đường giao thông, hệ thống điện, và nước sạch giúp cải thiện điều kiện sống và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế.

3.1. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng

Cải thiện cơ sở hạ tầng là yếu tố then chốt trong giảm nghèo bền vững. Tại huyện Phú Bình, việc đầu tư vào hệ thống đường giao thông, điện, và nước sạch giúp người dân tiếp cận tốt hơn các dịch vụ cơ bản, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế địa phương.

3.2. Phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn

Để thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, cần tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn như nông nghiệp công nghệ cao, du lịch, và thủ công mỹ nghệ. Tại huyện Phú Bình, việc phát triển các ngành này không chỉ tạo việc làm mà còn góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm nghèo Việt Nam thừa nhận quan điểm về đói nghèo của Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Kok - Thái Lan vào tháng 9/1993. Khái niệm đói nghèo được thể hiện như sau: “Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà các nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”. (Nguyễn Thị Bình và cs, 2006) Nói một cách cụ thể hơn, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống ở mức tối thiểu, không thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người.

Nhu cầu cơ bản ở đây chính là cái thiết yếu, cái tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người. Nhu cầu ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp, v.v… “Đói là một bộ phận của những người nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu như: cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thu nhập không duy trì cuộc sống”. (Nguyễn Thị Bình và cs, 2006) “Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống. Trên thực tế một bộ phận lớn dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu ăn”.

“Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương”. (Nguyễn Thị Bình và cs, 2006) Nghèo còn được nhận diện ở bốn khía cạnh là không gian, thời gian, môi trường và giới. Về thời gian: Phần lớn người nghèo có mức sống dưới mức được xác định như một chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận trong một thời gian dài (cũng cần phải bổ sung vào số người này những người nghèo tình thế do thất nghiệp do thiên tai, rủi do hay do con người gây ra). (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) 5 Về giới: Phần lớn người nghèo ở các nước đều là phụ nữ.

Mặc dù trong gia đình, nam giới là chủ nhưng phụ nữ vẫn phải gánh chịu nhiều hơn gánh nặng của nghèo. (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) Về không gian: Nghèo diễn ra chủ yếu ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, v.v… Dù nền kinh tế có phát triển đến thế nào chăng nữa, dân cư ở các vùng kể trên vẫn dễ bị rơi vào nghèo. (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) Về môi trường: Hầu hết những người nghèo đều phải sống trong môi trường khắc nhiệt và xuống cấp nghiêm trọng, bởi vì những người nghèo không đủ khả năng và điều kiện gìn giữ, đảm bảo và cải thiện môi trường sống. (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) Tóm lại: Những quan niệm về nghèo đói do các cách tiếp cận khác nhau nên có những ý kiến khác nhau, nghèo là một khái niệm tương đối và có tính biến đổi.

Các chỉ số xác định giới hạn nghèo không phải là cứng nhắc và bất biến. Nó biến đổi tùy theo sự chênh lệch, sự khác biệt giữa các vùng, miền, quốc gia. Chuẩn mực xác định nghèo đói 1. Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới Để đánh giá nghèo đói Liên hợp quốc (UNDP) dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong thời gian nhất định.

Nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư. Phương pháp tính là: Đem chia dân số của 1 nước, 1 châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: rất giàu, giàu, trung bình, nghèo, rất nghèo. Theo cách tính này vào những năm 1990 thì 20% dân số giàu nhất chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% người nghèo nhất chỉ chiếm 1,4% thu nhập toàn thế giới. Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD.

6 Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại: + Trên 25.000USD/người/năm là nước cực giàu.000UDS/người/năm là nước giàu.000USD/người/năm là nước khá giàu.000USD/người/năm là nước trung bình. + Từ 500 đến dưới 2.500USD/người/năm là nước nghèo. + Dưới 500USD/người/năm là nước cực nghèo. Theo quan điểm chung của nhiều nước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội.

Do đặc điểm của nền KT - XH và sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc gia. Ở một số nước có thu nhập cao, chuẩn nghèo được xác định là 14USD/người/ngày. Trong khi đó chuẩn nghèo của Malaixia là 28USD/người/tháng, Srilanca là 17USD/người/tháng, v.v… Ở Việt Nam, GDP bình quân khoảng 600USD/người/năm, nên so diện chung của thế giới nước ta là nước nghèo khó. Do đó, không thể lấy mức nghèo của WB để xác định nghèo của Việt Nam.

Xác định tiêu chí chuẩn nghèo của Việt Nam: - Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc gia. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực của chương trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kì. Lúc đầu, nghèo được xác định dựa trên các chỉ tiêu nhu cầu, sau đó chuyển sang chỉ tiêu thu nhập, kết quả là đã 5 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau (bảng 1. Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia) Chuẩn nghèo đói Mức thu nhập bình Phân loại nghèo đói qua các giai đoạn quân/người/tháng 1993 - 1995 Đói (KV nông thôn) Dưới 8 KG (Mức thu nhập Đói (KV thành thị) Dưới 13 KG quy ra gạo) Nghèo (KV nông thôn) Dưới 15 KG Nghèo (KV thành thị) Dưới 20 KG 1996 - 2000 (Mức Đói (tính cho mọi KV) Dưới 13 KG (45.000 đồng) thu nhập quy ra Nghèo (KV nông thôn, miền Dưới 15 KG (55.000 đồng) gạo tương đương núi, hải đảo) với số tiền) Nghèo (KV nông thôn, đồng Dưới 20 KG (70.000 đồng) bằng trung du) Nghèo (KV thành thị) Dưới 25 KG (90.000 đồng) 2001 - 2005 (Mức Nghèo (KV nông thôn, miền Dưới 80.000 đồng thu nhập tính núi hải đảo) bằng tiền) Nghèo (KV nông thôn, đồng Dưới 100.000 đồng bằng trung du) Nghèo (KV thành thị) Dưới 150.000 đồng thu nhập tính Nghèo (KV thành thị) Dưới 260.000 đồng bằng tiền) 2011 - 2015 (Mức Nghèo (KV thành thị) Dưới 500.000 đồng thu nhập tính Cận nghèo (KV thành thị) Từ 501.000 đồng bằng tiền) Nghèo (KV nông thôn) Dưới 400.000 đồng Cận nghèo (KV nông thôn) Từ 401.000 đồng Nguồn: Bộ LĐ-TB và XH, chương tình mục tiêu quốc gia về XĐGN (2016) Đầu năm 1998, cả nước có 2,65 triệu hộ với khoảng 14 triệu dân nghèo đói, chiếm 17,7% dân số.000 hộ thường xuyên nghèo đói; có 1.498 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 40% trở lên và 1.168 xã thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu (điện, 8 đường, trường, trạm xá, chợ, nước sạch, v.v…), 2/3 số xã nghèo là các xã miền núi, khoảng 1,2 triệu người ở 978 xã cần được định canh, định cư và 15 vạn đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn cần được hỗ trợ phát triển.

Đến cuối năm 2000, tỷ lệ hộ nghèo ở thành thị còn 6% và nông thôn 11,2%. Đầu năm 2001 khi thay đổi chuẩn nghèo đói, nước ta còn khoảng 2,8 triệu hộ nghèo (chiếm 17,11%) đến cuối năm 2005 còn khoảng 1,6 triệu hộ nghèo, chiếm khoảng 9,5%. Khái niệm nghèo đa chiều Xuất phát từ quan niệm: Nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Vì vậy nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.

Cho đến nay, khái niệm về nghèo đói chưa hề có sự thay đổi, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức, tuy nhiên nhiều quan niệm về nghèo đói hiện đang được các quốc gia thừa nhận. Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.

Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008). Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận." 9 Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh tế): để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn. Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Vì vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.

(Bộ Lao động TB&XH, 2015) Nghèo đa chiều (multidimensional poverty): Đã ra đời trong đó xác định rõ nghèo không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoạt khác mà nghèo đói còn được gây ra bởi các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng tiếp cận với các dịch vụ về: sức khỏe, giáo dục và mức sống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều tại huyện Phú Bình, Thái Nguyên" trình bày các phương pháp và chiến lược nhằm giảm nghèo một cách bền vững, tập trung vào việc đánh giá và cải thiện các tiêu chí nghèo đa chiều. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp các chính sách xã hội, kinh tế và môi trường để tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ cho người dân thoát nghèo. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các giải pháp này, không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các chính sách hỗ trợ và phát triển kinh tế xã hội, hãy tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách đãi ngộ vật chất đối với người có công với cách mạng ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, nơi đề cập đến các chính sách đãi ngộ cho người có công, hay Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, cung cấp cái nhìn sâu sắc về bảo hiểm xã hội tự nguyện. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các giải pháp phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam.