Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CƠ BẢN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ THANH NIÊN CHẬM TIẾN 1. Lý luận về chính sách hỗ trợ thanh niên chậm tiến 1. Một số khái niệm cơ bản * Khái niệm thanh niên Trong bối cảnh của xã hội tư bản đương thời (cuối thế kỷ XIX), C.Mác đã có nhận định về vai trò, vị trí của TN: “Cần phải giải thoát cho thanh, thiếu niên khỏi sự tác động có tính chất phá hoại của hệ thống hiện đại”.Mác đã gọi TN là cội nguồn sự sống của dân tộc và giai cấp công nhân là bộ xương của mỗi cơ chế dân tộc. Một trong những phát hiện vĩ đại nhất của Mác là học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản hiện đại, một giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến và luôn luôn phát triển cùng với cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật.
Theo Mác, giai cấp vô sản chỉ được hình thành với tư cách một giai cấp khi nó ý thức được địa vị và tương lai của nó: “. Những công nhân tiên tiến nhất hoàn toàn hiểu rõ rằng, tương lai của giai cấp công nhân và do đó tương lai của nhân loại, hoàn toàn phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên” [7, tr.110] mà giai cấp vô sản hiện đại như Mác nói thì thành phần chiếm đa số là TN.Mác và Ăng-ghen luôn luôn gắn TN với giai cấp công nhân và coi đây là lực lượng tiên phong của giai cấp này. Ăng-ghen là người đầu tiên đưa ra các quan niệm như: “đội quân xung kích quyết định của đạo quân vô sản quốc tế”, “đội hậu bị của Đảng” để gắn với TN. Vào năm 1853, khi “Đảng của Mác” đã khẳng định vị trí của mình trên vũ đài lịch sử, trong cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại những đạo luật đặc biệt của Bít-xmắc.
Ăng-ghen viết: “Chính thế hệ trẻ sẽ là nguồn bổ sung dồi dào nhất cho Đảng”. Phát triển sáng tạo những luận điểm của Mác và Ăng-ghen trong điều kiện lịch sử mới, V.Lênin đã coi TN là “nguồn sinh lực chiến đấu của cách mạng”. Ông đã luận giải những nguyên nhân làm xuất hiện phong trào TN, phát hiện ra những đặc điểm của nó và xác định mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa các tổ chức TN với các Đảng Cộng sản. Đánh giá rất cao tiềm năng sáng tạo của tuổi trẻ, Lê-nin không nghi ngờ về khả năng hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ của cách mạng mà các thế hệ trước chưa kịp hoàn thành.
Ngay cuối thế kỷ XIX, ông 13 Luan van đã viết: “Người ta quan sát thấy trong thanh niên công nhân một khát vọng nồng cháy không gì kìm hãm được tới lý tưởng của dân chủ và CNXH” [59, tr. Lê- nin đã sớm nhìn thấy vai trò cách mạng to lớn của TN học sinh, sinh viên. Ông đã thường xuyên nhắc nhở những người bạn chiến đấu của mình rằng phải kiên trì đấu tranh để hợp nhất phong trào học sinh, sinh viên thành một trào lưu chung theo tinh thần của chủ nghĩa Mác cách mạng. Ông cho rằng, thành công của phong trào TN chính là ở chỗ biết gắn liền nhận thức lý luận của chủ nghĩa Mác, tri thức khoa học với sự tham gia trực tiếp của họ vào cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp vô sản.
Đối với Việt Nam, theo Hiến pháp và quy định của pháp luật thì TN là công dân Việt Nam có độ tuổi từ đủ 16 đến 30 tuổi (quy định trong Luật Thanh niên 2005). TN là lực lượng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, tới nay đã có 142/196 quốc gia có chính sách riêng về TN và 43/196 quốc gia đã ban hành Luật TN. Nhằm tạo điều kiện cho TN phát triển và phát huy vai trò xung kích, tình nguyện của TN trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, năm 2005 Quốc hội khóa XI đã ban hành Luật TN với tư cách là văn bản luật chuyên biệt, quy định các vấn đề liên quan đến TN, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng và thực hiện các chính sách cho TN phát triển. Hiến pháp năm 2013, ngoài các quyền và nghĩa vụ của TN Việt Nam được xác định với tư cách là công dân, còn nhấn mạnh: “Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc”.
Việc quy định như vậy cho thấy Nhà nước rất coi trọng vai trò xung kích, đi đầu của TN trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là nguyên tắc hiến định, có ý nghĩa nền tảng để các cơ quan có thẩm quyền xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến TN và công tác TN trong giai đoạn hiện nay và tương lai sau này. Qua gần 15 năm thi hành, Luật TN năm 2005 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác TN thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đã đề ra nhiệm vụ sửa đổi, bổ sung Luật TN năm 2005 cho phù hợp với tình hình nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đối với TN thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Tại Phiên họp ngày 16/6/2020, Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV đã biểu quyết thông qua Luật TN năm 2020 thay thế Luật TN năm 2005 với tỷ lệ số phiếu đạt 91,3% và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021.
14 Luan van * Khái niệm chậm tiến Theo từ điển Tiếng Việt thì “chậm tiến” nghĩa là có trình độ giác ngộ hoặc trình độ phát triển chậm hơn, thấp hơn so với yêu cầu và đà tiến chung. Còn trong luận văn này, “chậm tiến” có nghĩa là nói những việc làm của TN lầm lỡ mắc vào tệ nạn xã hội, TN sa vào các tệ nạn xã hội như: ma túy, cờ bạc, mại dâm, đua xe, trộm cắp,… cần được giáo dục và hỗ trợ để tái hoà nhập cộng đồng. * Khái niệm thanh niên chậm tiến TNCT được hiểu là những đối tượng trong độ tuổi TN, là các TN đã vi phạm pháp luật, TN đang bị giam giữ và chấp hành án phạt tù hay đang được giáo dục tại các trung tâm giáo dục cộng đồng. Họ là đối tượng cần được toàn xã hội quan tâm, giáo dục, giáo dưỡng, được hỗ trợ để không trở thành gánh nặng của gia đình và là nỗi lo chung của toàn xã hội.
Tiếp cận, giáo dục, cảm hóa TNCT là việc làm khó, nhưng các cấp các ngành trong toàn tỉnh đã và đang chung tay hỗ trợ, tuyên truyền và giáo dục; đồng thời, có những chính sách hỗ trợ hiệu quả cho đối tượng TNCT, giúp họ sớm hòa nhập cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. * Khái niệm chính sách Cho đến nay trên thế giới cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi. Từ thực tế chính sách các ngành, các địa phương và các quốc gia cũng như các cuộc thảo luận trên các diễn đàn nghiên cứu chính sách, chúng ta có thể chọn ra một số cách tiếp cận quan trọng nhất để phân tích trước khi đi đến một khái niệm chung nhất về chính sách, cụ thể như: Tiếp cận chính trị học: “Chính sách là tập hợp biện pháp mà một chủ thể quyền lực đưa ra để định hướng xã hội thực hiện mục tiêu chính trị của chủ thể quyền lực”. Tiếp cận xã hội học: “Chính sách là tập hợp biện pháp do chủ thể quản lý đưa ra nhằm tạo lợi thế cho một (hoặc một số) nhóm xã hội giành lợi thế của một (hoặc một số) nhóm xã hội khác, để thúc đẩy việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu xã hội mà chủ thể quyền lực đang hướng tới”.
Tiếp cận nhân học và nhân học xã hội: “Chính sách là phương tiện tác động đến hàng loạt sinh hoạt văn hóa và xã hội của con người từ đây dẫn đến những phản ứng của xã hội đối với chính sách và hơn nữa là những kiến tạo xã hội mới do chính sách dẫn đến”. 15 Luan van Tiếp cận tâm lý học: “Chính sách là tập hợp biện pháp đối xử ưu đãi đối với một nhóm xã hội nhằm kích thích động cơ hoạt động của nhóm này hướng theo việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu của chủ thể quyền lực”. Tiếp cận khoa học pháp lý: “Chính sách là tập hợp biện pháp được thể chế hóa (về mặt pháp lý) để phân biệt đối xử giữa các nhóm xã hội, điều chỉnh động cơ hoạt động của các nhóm hướng theo mục tiêu phát triển xã hội”. Ví dụ: Chính sách xoá đói giảm nghèo; chính sách bảo vệ môi trường (trồng rừng, cấm khai thác rừng),… Tóm lại, Khái niệm tổng quát về chính sách thì Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định.
* Khái niệm Chính sách hỗ trợ thanh niên chậm tiến: Chính sách hỗ trợ thanh niên chậm tiến: là chính sách công, được hiểu là các chính sách hỗ trợ cho các TN chậm tiến (TN lầm lỡ, TN đã vi phạm tệ nạn xã hội) với các chính sách cụ thể giúp các em ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng; cụ thể rõ hơn là các chính sách hỗ trợ đối với những TN đã chấp hành xong án phạt tù; họ được tiếp cận các chính sách hỗ trợ cả về vật chất và tinh thần, được những cán bộ thực hiện chính sách cảm hóa, giáo dục, hỗ trợ tích cực để khi hết thời gian chấp hành xong án phạt tù (hay mãn hạn giáo dưỡng) họ có thể mạnh dạn tự tin trở về địa phương tiếp tục cuộc sống mới tốt đẹp hơn, giúp các em nhận ra giá trị cuộc sống tốt đẹp hơn đang ở tương lai phía trước. * Khái niệm Thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên chậm tiến: theo tác giả hiểu, đó là việc làm và hành động cụ thể nhằm thực hiện các chính sách hỗ trợ cho TN vi phạm pháp luật; việc làm đó được cụ thể hóa bằng việc thực hiện các chủ trương của nhà nước, có sự chỉ đạo, phân công trách nhiệm rõ ràng của từng ban ngành đoàn thể từ trung ương đến địa phương nhằm hỗ trợ cho TNCT trên cả nước.