Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1. Người có công với cách mạng và chính sách ưu đãi người có công với cách mạng 1. Khái niệm, đặc điểm người có công với cách mạng 1. Khái niệm người có công với cách mạng Hiện nay căn cứ pháp lý để thực hiện chính sách ưu đãi NCC với cách mạng quy định tại Khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 04/2012/UBTVQH13 “Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: - Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; - Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945; - Liệt sỹ; - Bà mẹ Việt Nam anh hùng; - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; - Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; - Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; - Bệnh binh; - Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; - Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; - Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; - NCC giúp đỡ cách mạng.
Theo quan điểm tác giả, NCC với cách mạng là những người được thụ hưởng chế độ ưu đãi đối với NCC với cách mạng, được điều chỉnh bởi Pháp lệnh về NCC 8 Luan van với cách mạng hiện hành. Họ là những người bình thường, làm việc đại nghĩa, có công lao lớn đối với đất nước, đó là nghĩa vụ không bao giờ kể công và không đòi hỏi cộng đồng phải báo nghĩa. Họ là những người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Trên các cơ sở trên và tác giả nghiên cứu có thể khái niệm NCC theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: Theo nghĩa rộng: NCC là người bình thường, làm việc đại nghĩa, có công lao lớn đối với đất nước, đó là nghĩa vụ không bao giờ kể công và không đòi hỏi cộng đồng phải báo nghĩa.13] Theo nghĩa hẹp: NCC là những người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đặc điểm người có công với cách mạng Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta nói chung, NCC cách mạng nói riêng, họ luôn phải gồng mình chống lại giặc ngoại xâm và thiên tai khắc nghiệt, lập nên biết bao chiến công hiển hách, những trang sử vẻ vang của dân tộc, những NCC với Cách mạng luôn tự hào và được tôn trọng trong mọi tầng lớp xã hội. Mặc dù NCC với Cách mạng vĩnh viễn mất đi tuổi thanh xuân, tất cả những người con, người cha, người mẹ, người anh, người em, mất đi một phần thân thể, xương máu, nhiễm chất độc hóa học, không được tham gia lao động như bao nhiêu người khác, và thậm chí mất đi thiên chức làm cha, làm mẹ, làm ông, làm bà, trở thành người già neo đơn không có người thân để chăm sóc, phụng dưỡng lúc tuổi già. Với những mất mát, hy sinh đó họ luôn có tinh thần yêu nước nồng nàn, luôn trung thành với lý tưởng cách mạng mà Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đã chọn. Những đặc điểm trên giúp cho NCC với cách mạng, các thương binh, bệnh binh xoa dịu bớt đi nỗi đau da thịt hành hạ thân thể trong những lúc giao mùa và biến đổi khí hậu.
9 Luan van Đối với các gia đình thương binh, gia đình liệt sỹ và gia đình NCC với cách mạng luôn có những đặc điểm khác nhau: Người mãi mãi mất đi tình thương, người không tham gia lao động, nhà thì chưa được kiên cố, người thì không có đủ thu nhập để sống, người thì không có người chăm sóc. Mỗi giai đoạn lịch sử thì họ có những khó khăn khác nhau. Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng 1.1 Khái niệm chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Chính sách ưu đãi NCC với cách mạng là đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước căn cứ nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ cách mạng, dựa trên cơ sở là sự phát triển KT - XH của nước ta nhằm ghi nhận công lao, đóng góp, sự hy sinh cao cả NCC với Cách mạng. Phản ánh được sự đặc biệt quan tâm đầy trách nhiệm của nhà nước, của cộng đồng toàn thể xã hội, của thế hệ đi sau đối với thế hệ đi trước của ông cha ta, thể hiện qua các văn bản pháp luật và các cơ sở pháp lý ưu đãi cho NCC với Cách mạng theo từng giai đoạn lịch sử.
Để góp phần ổn định chính trị xã hội, đồng thời cũng thể hiện sự ghi nhận và biết ơn của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với NCC và gia đình NCC với cách mạng đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện thể chế hóa chính sách ưu đãi cho NCC với cách mạng ngày một tốt hơn. Tóm lại, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những NCC đối với đất nước nhằm mục đích ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của họ; đồng thời đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống vật chất, tinh thần đối với NCC với Cách mạng và gia đình của họ. Chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với người có công với cách mạng Nhằm bù đắp lại phần nào về đời sống vật chất, tinh thần đối với NCC với Cách mạng và gia đình của họ, Đảng, Nhà nước không ngừng ban hành văn bản, hoàn thiện hệ thống pháp luật ưu đãi. Có thể phân chia theo các giai đoạn như sau: Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954: Giai đoạn này tiêu biểu nhất là ngay trong cuộc chiến chống thực dân Pháp, thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 16/02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL “Quy 10 Luan van định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”.
Đây được xem là Pháp lệnh đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sỹ đối với cuộc chiến tranh vệ quốc và lấy ngày 27/7/1947 làm Ngày Thương binh - Liệt sỹ toàn quốc - Ngày toàn dân cùng thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, là dịp để đồng bào “tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh”. Trong lá thư đầu tiên Hồ Chí Minh viết nhân dịp 27/7, theo lời của Người: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh.” Người cũng nhấn mạnh trong thư: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào.Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt” [26, tr.
Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy. Vì nghĩa cử và sự hy sinh cao cả của thương binh, liệt sỹ và NCC với Cách mạng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: “Đối với những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng?”[27,tr. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản, chính sách có liên quan đến quy định về vấn đề thương binh, tử sỹ,… và những ưu đãi cho họ. Đồng thời Đảng và Nhà nước cũng khuyến khích, động viên toàn dân nổi lên phong trào giúp đỡ, chăm sóc đối tượng này.
Giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1975: Đây là giai đoạn chiến tranh ác liệt của quân và dân ta, nhưng Đảng và Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện chính sách ưu đãi NCC, thương binh, liệt sỹ và gia đình họ. Đã ban hành nhiều văn bản ưu đãi nổi bậc nhất là Nghị định số 161/CP, ngày 30/10/1964 kèm theo bản Điều lệ tạm thời về chế độ đãi ngộ với quân nhân, thanh niên xung kích và quy định chế độ thương tật mới là 08 hạng, mức khởi điểm là 21%. Đây cũng là những văn bản góp phần to lớn vào việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội, củng cố và tăng cường tiềm lực trong kháng chiến. 11 Luan van Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1986: Đây là giai đoạn đất nước vừa được thống nhất, trong điều kiện đất nước còn rất nhiều khó khăn về kinh tế, an ninh - chính trị luôn bất ổn, chịu sự chống phá quyết liệt của các thế lịch thù địch - bại chiến.
Nhưng Nhà nước đã ban hành hàng trăm văn bản liên quan đến việc ưu đãi NCC với cách mạng, đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội, từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn này chú ý nhất là Nghị định số 236/HĐBT, ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng bổ sung, xóa bỏ sự khác biệt trong các quy định ưu đãi trong lịch sử để lại. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1994: Đây là giai đoạn đất nước ta phát triển, tiến bộ vựơt bậc. Hệ thống văn bản, các Nghị định, Thông tư thi hành chính sách trên lĩnh vực ưu đãi NCC với cách mạng cũng tiến bộ theo hướng hoàn thiện hơn, cụ thể nhất là Quyết định số 79/HĐBT, ngày 05/7/1989, Quyết định số 08/HĐBT ngày 05/01/1990, Nghị định số 27/CP, ngày 23/4/1993, và nổi bật nhất là 02 văn bản vào ngày 29/8/1994, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là Pháp lệnh ưu đãi NCC đối với cách mạng, liệt sỹ, thương binh, người hoạt động kháng chiến, NCC giúp đỡ cách mạng, Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.