CHƯƠNG 1 TU TUONG HO CHi MINH VE VAN DE DAN TOC 1. CO SO HINH THANH TU TUONG HO CHi MINH VE VAN DE DAN TOC 1. Cơ sở lý luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn để dân tộc là do sự kết hợp của nhiều nhân tố tạo nên như: Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt nam, quê hương, gia đình, tỉnh hoa văn hóa nhân loại và những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề dân tộc, thuộc địa. Bên cạnh đó, nhân tố chủ quan cũng quyết định một phần rất quan trọng hình thành nên tư tưởng của Người.
tố này giúp cho chúng ta hiểu được bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc nói riêng. Truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam Trước hết đó là, chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó là dòng lưu chảy xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt. Với vị trí địa lý đặc biệt của mình, Việt Nam là quốc gia thường xuyên bị hiểm họa xâm lăng từ phong kiến phương Bắc.
Sử sách kể lại rằng từ đời nhà Tần- Hán Trung Hoa đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt. đưa những người bị dày xuống ở với người Việt. Để giữ gìn nền độc lập của dân tộc mình Nhà nước cổ ra đời (Văn lang- Âu Lạc) đứng ra đề tổ chức tập hợp lực lượng, chỉ huy dân tộc để đánh giặc ngoại xâm. Điển hình ngay từ thể kỷ III.CN chúng ta đã đánh tan 50 vạn quân Tần sang xâm lược.
Sau khi An Dương Vương mắt cảnh giác để mắt nước vào tay Triệu Đà năm 179 TCN. Nước ta chịu sự đô hộ kéo dài hơn nghìn năm (từ năm 179 đến năm 938), chủ yếu chịu sự đô hộ của nhà Hán và nhà Đường. Trong khoảng thời gian đen tối ấy, dân tộc Việt Nam phải chịu đựng rất nhiều đau thương, đồng thời có nguy cơ bị đồng hóa bởi nhà Hán, Đường. Nhưng nhân dân Việt Nam không chịu khuất phục, tỉnh thần đối kháng thường trực và bắt khuất đã bộc lộ mạnh mẽ qua các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43), Triệu Thị Trinh (246), Lý Bôn (544-548), Triệu Quang Phục ( 548-571), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (791), cha con họ Khúc.
Nghìn năm Bắc thuộc chúng ta đã đô biết bao nhiêu xương máu của con cháu người Việt, thua keo này ta bày keo khác, dân tộc ta quyết giành lại được độc lập dân tộc mới thôi. Khoảng dau thé ky thir X, triều đại nhà Đường sụp đô, tiếp theo đó là thời kỳ độc lập tự chủ của nước ta. Năm 905, Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa giành thắng lợi, tự xưng Tiết độ xứ, xây dựng độc lập. Chiến thắng của Ngô Quyển năm 938 đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng đã đánh bại âm mưu đồng hóa của phong kiến phương Bắc, khẳng định quyền độc lập tự chủ của nước ta, chấm dứt thời kỳ nghìn năm bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta.
Trong thời kỳ Bắc thuộc ý thức về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia của người Việt không bao giờ mắt đi, và càng không bao giờ bị đồng hóa mặt khác còn giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc. Như vậy, chính chủ nghĩa yêu nước là dòng lưu chảy xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam, đứng đầu bảng giá trị văn hóa của dân tộc Việt. Thứ hai, khi nói về truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh thường đề cao truyền thống rương thân, tương ái, tình thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn két. Truyền thống này được đúc kết cùng với sự ra đời của dân tộc.
khi lịch sử chưa thành văn, tư tưởng của con người thường được gửi gắm qua các câu truyện thần thoại của dân tộc ta. Truyền thuyết về Họ Hồng Bảng kể rằng vua đầu tiên của họ Hồng Bảng tên là Lộc Tục, cháu bồn đời của Viêm Để (vua xứ nóng), họ Thần Nông. Lộc Tục lấy con gái của vua Hồ Động Dinh là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ và sinh ra bọc trăng trứng, trăm trứng nở thành trăm con trai, nhắc nhở đồng bảo ta nhớ về cội nguồn, vì thế trong cuộc sống phải yêu thương nhau, đoàn kết với nhau vì dân tộc Việt Nam là một giống, một nôi, một mẹ sinh ra.
Khi để cao truyền thống nhân ái, ca dao Việt Nam nhắc nhở chúng ta rằng “Nhiều điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau: cùng” hay “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ có”; truyền thông tốt đẹp ấy thể hiện trong phạm vi làng là cơ sở tạo nên tính đồng nhất “ bán anh em xa, mua lang riéng gan”. Việc chống giặc ngoại xâm đòi hỏi phải có tỉnh thần đoàn kết toàn dân và lòng yêu nước cũng là một nguyên nhân làm cho dân tộc ta có được những truyền thống quý báu đó. Truyền thống này cũng được thể hiện khi phong kiến phương Bắc đã nhiều lần đồng hóa dân tộc Việt nhưng cuối cùng cũng thất bại, điển hình là thời kỳ Bắc thuộc họ đã dùng tiếng nói để đồng hóa, mắt tiếng nói dân tộc là mắt hết.
Ở thời kỳ này tuy người Việt học tiếng Hán nhưng cứ đọc theo tiếng Việt, chính vì thé sau này người Việt căn cứ vào chữ Hán để tao ra chit Nom là chữ quốc ngữ đầu tiên của mình. Người Việt đã gìn giữ những truyền thông tốt đẹp đó ngay cả những lúc khó khăn, hoạn nạn, họ cũng không đánh mắt chính cội nguồn, tổ tiên của chính mình. Hồ Chí Minh đã kế thừa những truyền thống tốt đẹp ấy, Người đã phát huy sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa và nhắn mạnh rằng cần phải đồng tình; đồng sức; đồng lòng; đồng minh thì có thể chiến thắng tắt cả mọi kẻ thù nguy hiểm nhất 'Thứ ba, dân tộc Việt Nam là dân tộc trọng đạo lý làm người đề cao trách nhiệm, bổn phận của cá nhân đối với gia đình, làng nước, tổ quốc, coi đó là những chuẩn mực cao nhất của nhân cách con người, văn hóa dạy cho người dân không quyên được cội nguồn, đất tổ của mình. Người Việt Nam có một 10 tín ngưỡng đặc biệt là thờ tư bắt tử (bốn người không chết): Tản Viên, Thánh Gióng, Chữ Đồng Tử và Liễu Hạnh.
Tân Viên (Tuyển thuyết Sơn Tĩnh- Thúy Tỉnh) và Thánh Gióng với truyền thuyết Thánh Gióng là biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết của một cộng đồng cư dân nông nghiệp để, một mặt, ứng phó với môi trường tự nhiên là chống lũ lụt và, mặt khác ứng phó với môi trường xã hội là chống giặc. ngoại xâm, sự phối hợp thần thánh ấy đã dựng nên Đất Nước. Có đất nước rồi, được cuộc sống yên ôn rồi, con người Việt Nam không. mơ ước gì hơn là xây dựng một cuộc sống phòn vinh về vật chất và hạnh phúc về tỉnh thần.
Chứ Đẳng Tứ- người nông dân nghèo với hai bản tay trắng, đã cùng vợ xây dựng cơ nghiệp với phố xá xằm uất, mang vàng ra biển buôn bán với thương lái nước ngoài- chính là biểu tượng cho ước mơ thứ nhất. Liéu Hạnh người con gái quê ở xã Vân Cát ( huyện Vũ Bản, Nam Định) tương truyền là công chúa con Trời, ba lần từ bỏ cuộc sống đầy đủ trên thiên đường, xin vua cha cho xuống trần gian sống cuộc đời của người phụ nữ bình dị với khát vọng về tự do, hạnh phúc- chính là biểu tượng ước vọng thứ hai. Ước vọng thiêng liêng ấy đã tạo nên Con người. Như vậy tục thờ Tứ bát nử là một giá trị tỉnh than rat đẹp của dân tộc ta Đó là tỉnh hoa được chắt lọc qua suốt chiều dài lịch sử biểu tượng cho sức mạnh liên kết của công đồng để làm ruộng và đánh giặc, cho khát vọng xây dựng một cuộc sống vật chat phén vinh và tỉnh thần hạnh phúc.
“Thứ 4, dân tộc Việt Nam có truyền thống lạc quan yêu đời. Điều đó được thể hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội. Từ những câu truyện dân gian như: “Cái ông mắt ngựa”, đến những câu ca dao như “ chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”; điều đó cho thấy trong mọi hoàn cảnh, dù là hoàn cảnh khó khăn nhất, nhưng nếu có tỉnh thần lạc quan, tỉn tưởng vào bản thân của chính mình thì nhất định sẽ chiến thắng. Hồ Chí Minh là hiện thân của truyền thống.
i lạc quan đó, luôn tin tưởng vào chính mình, vào tương lai nhất định cái tốt đẹp sẽ đến với đắt nước và dân tộc của mình. Thứ 5, với vị trí đặc biệt của mình, Việt Nam là giao điểm của các luồng văn hóa, chúng ta tiếp giáp với những nước có nền văn minh lâu đời như: Trung Quốc; Ấn Độ; dân tộc ta biết học hỏi và không ngừng mở rộng đón nhận tỉnh hoa của các nền văn hóa lớn trên thế giới. Việc giao lưu với Trung Hoa dẫn đến người Việt dùng chữ Hán làm văn tự, nhưng cải biến chữ Hán thành chữ Nôm là một sản phẩm của cuộc giao lưu đó. Chữ Nôm được dùng trong sáng tác văn chương và được đề cao dưới triều đại nhà Hồ và triều đại Tây Sơn.
Vua Quang Trung đã sử dụng chữ Nôm là văn tự chính để đề ra các chiếu chỉ của mình và nhà vua cũng có ý định tô chức dịch các sách vở kinh điển từ Hán sang Nôm. Như vậy, mặc dù giao lưu văn hóa, nhưng người Việt biết cách cải biến nó cho phù hợp với hoàn cảnh của chính mình. Trong cuộc sống đời thường. ngay cả những khái niệm vay mượn đơn độc, nhưng khi du nhập vào Việt Nam cũng được cải biến như: ở Trung Quốc thần mai mỗi là ông Tơ Hồng thì khi vào Việt Nam biến thành Ông Tơ- Bà Nguyệt.
Người Ấn Độ chỉ có Phật ông thì vào Việt Nam xuất hiện thêm Phật Ông ~ Phat Bà. Ở mỗi thời kỳ phát triển, văn hóa Việt Nam đều đón nhận những luồng văn hóa mới, người Việt Nam + tiếp nhận và ải biến cho phù hợp với hoàn cảnh của mình, tuy thế vẫn giữ được những truyền thống, bản sắ: la văn hóa 'Việt. Chính vì thế, dù bị phong kiến phương Bắc nghìn năm đô hộ, nhưng họ vẫn không thể đồng hóa được dân tộc Việt Nam. Tắt cả những đặc trưng làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam được đề cập trên đã thấm vào tâm hồn, nhân cách của Hồ Chí Minh.