phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về ngƣời có công với cách mang. Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện chính sách ƣu đãi vật chất cho ngƣời có công trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Chƣơng 3: Một số giải pháp để thực hiện nâng cao đời sống vật chất cho ngƣời có công trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. 8 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1.
Một số vấn đề về ngƣời có công.1 Khái niệm và đặc điểm của Người có công. Khái niệm: Ngƣời có công thì mặc dù Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có công đƣợc thực hiện từ lâu, nhƣng cho tới nay chƣa có một văn bản pháp luật nào nêu rõ khái niệm ngƣời có công. Tuy nhiên, căn cứ các tiêu chuẩn đối với từng đối tƣợng là ngƣời có công mà Nhà nƣớc ta đã quy định, có thể nêu khái niệm ngƣời có công theo 2 nghĩa sau: Theo nghĩa rộng: “Ngƣời có công là những ngƣời không phân biệt tôn giáo, tín ngƣỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng trí tuệ, có ngƣời hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp của dân tộc. Họ là ngƣời có thành tích đóng góp hoặc những cống hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích của dân tộc đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền công nhận theo qui định của pháp luật ”.
Theo nghĩa hẹp: “Ngƣời có công là những ngƣời không phân biệt tôn giáo, tín ngƣỡng, dân tộc, nam nữ,… có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, đƣợc các cơ quan tổ chức có thẩm quyền công nhận theo qui định của pháp luật ”. - Đặc điểm của ngƣời có công: + Ngƣời có công bao gồm ngƣời tham gia hoặc giúp đỡ Cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp cho sự nghiệp Cách mạng. + Ngƣời có công là ngƣời có thành tích đóng góp hoặc cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc, những đóng góp, cống hiến của họ có thể là 9 z trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc và cũng có thể là trong cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc.2 Vai trò của Người có công. Trong tình hình hiện nay, khi đất nƣớc đã bƣớc vào thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế.
Bên cạnh những ƣu điểm, những cái đƣợc thì trong nƣớc mặt tiêu cực của xã hội đang tiềm ẩn, nẩy sinh nhiều vấn đề xã hội hết sức bức xúc, các thế lực thù địch vẫn không ngừng chống phá Cách mạng Việt Nam bằng các thủ đoạn diễn biến hoà bình thì vai trò của ngƣời có công càng có ý nghĩa lớn lao đó là. - Ngƣời có công là cái nôi, là chỗ dựa tinh thần vào việc tuyên truyền, giáo dục sâu sắc ý thức, đạo đức đối với thế hệ con cháu về lòng kính trọng sự hy sinh vô bờ bến, tinh thần đoàn kết dân tộc cao đẹp, chịu nhiều gian khổ vẫn một lòng thuỷ chung với cách mạng của thế hệ cha ông để bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa. - Ngƣời có công còn là thƣớc đo, còn là tinh thần lao động cần cù, sáng tạo trong lao động, trong học tập, trong sự nghiệp phát triển kinh tế. Nhiều ngƣời có công bị tàn tật nhƣng họ vẫn vƣơn lên làm kinh tế giỏi “ Thƣơng binh tàn nhƣng không phế ” đấy là những minh chứng cho thế hệ con cháu thấy “ Không có việc gì khó …”.
Để cùng chung sức, chung lòng bảo vệ vài xây dựng Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.3 Phân loại đối tượng người có công và các chính sách ưu đãi vật chất cho người có công với cách mạng. + Phân loại đối tƣợng ngƣời có công. Pháp lệnh 04/2012/UBTVQH13 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội qui định tại khoản 1 điều 2 của Pháp lệnh ngƣời có công bao gồm: "a) Ngƣời hoạt động cách mạng trƣớc ngày 01 tháng 01năm 1945; b) Ngƣời hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi 10 z nghĩa tháng Tám năm 1945; c) Liệt sĩ; d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng; đ) Anh hùng Lực lƣợng vũ trang nhân dân; e) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; g) Thƣơng binh, ngƣời hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh; h) Bệnh binh; i) Ngƣời hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; k) Ngƣời hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiếnbị địch bắt tù, đày; l) Ngƣời hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; m) Ngƣời có công giúp đỡ cách mạng.” + Các chính sách đối với ngƣời có công. Ngƣời có công với cách mạng và thân nhân đƣợc Nhà nƣớc, xã hội quan tâm chăm sóc, giúp đỡ và tuỳ từng đối tƣợng đƣợc hƣởng các chế độ ƣu đãi sau đây: 1.
Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần; 2. Bảo hiểm y tế; 3. Điều dƣỡng phục hồi sức khỏe; 4. Nhà nƣớc có chính sách hỗ trợ ngƣời có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ có khó khăn về nhà ở và huy động sự tham gia của xã hội, gia đình ngƣời có công với cách mạng; 5.
Đƣợc ƣu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; đƣợc hỗ trợ để theo học tại cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học; + Bên cạnh đó tùy từng đối tƣợng, mức độ thƣơng tật Nhà nƣớc có những chính sách riêng dành cho mỗi đối tƣợng: Ví dụ (Thƣơng binh, bệnh binh 11 z hạng 1;2 khi mất nếu vết thƣơng cuc tái phát đƣợc công nhận liệt sỹ, thân nhân đƣợc hƣởng tuất; Thƣơng bênh binh hạng 1 đƣợc chăm sóc sức khỏe 1 năm 1 lần. Ý nghĩa, yêu cầu của việc thực hiện đãi ngộ vật chất đối với ngƣời có công với cách mạng. Ý nghĩa, yêu cầu của việc thực hiện đãi ngộ vật chất đối với người có công. + Đảm bảo sự công bằng Xã hội.
Sự hy sinh về ngƣời và vật chất của ngƣời có công vì sự nghiệp bảo vệ, xây dựng tổ quốc là rất lớn lao không gì có thể bù đắp đƣợc, đó là lòng yêu nƣớc, yêu chế độ hàng triệu ngƣời con ƣu tú đã ngã lại trên chiến trƣờng, hoặc mang trên mình những vết thƣơng thực thể. Vì vậy Nhà nƣớc thế hệ sau phải "Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng" (Hồ Chí Minh) chăm lo tốt nhất về vật chất, tinh thần cho ngƣời có công Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về công bằng xã hội vào hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam, Ngƣời đã đƣa ra một quan niệm khái quát về công bằng xã hội trong chủ nghĩa xã hội: “chủ nghĩa xã hội là gì ? là mọi ngƣời đƣợc ăn no, mặc ấm, sung sƣớng, tự do. Nhƣng, nếu muốn tách riêng ra một mình mà ngồi ăn no, mặc ấm ngƣời khác mặc kệ, thế là không tốt. Mình muốn ăn no, mặc ấm, cũng cần làm sao cho tất cả mọi ngƣời đƣợc ăn no, mặc ấm” [ 12, tr.682] Năm 1966, khi cuộc kháng chiến cống Mỹ cứu nƣớc bƣớc vào giai đoạn quyết liệt, nhân dân miền Bắc phải chịu nhiều thiếu thốn, khó khăn trong cuộc sống để dồn sức ngƣời sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, Ngƣời luôn chú ý đến vấn đề thực hiện công bằng xã hội cho mọi ngƣời dân Việt Nam “Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng”.
12 z Trên lập trƣờng của Chủ nghiã Mác- Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định mục tiêu xây dựng đất nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay là “dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, vững bƣớc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu đó chứa đựng nội dung vừa phát triển kinh tế-xã hội, vừa thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội cho nhân dân lao động. Công bằng xã hội luôn luôn biến đổi phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Trong hoàn cảnh của chúng ta hiện nay cần khẳng định rằng phân phối theo lao động trƣớc sau vẫn là tiêu chí quan trọng bậc nhất của công bằng.
Tiêu chí này xuyên suốt cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là hình thức phân phối chủ yếu trong điều kiện hiện nay của nƣớc ta. Lao động không chỉ là lao động hiện tại mà còn là những lao động quá khứ đã tích luỹ vào trong vốn, tài sản, tƣ liệu sản xuất. thực hiện phân phối theo hình thức này sẽ gắn kết đƣợc kết quả lao động với lợi ích của ngƣời lao động, nhờ vậy ngƣời lao động sẽ có động lực trong quá trình sản xuất, giúp họ có thu nhập cao. Quan điểm này đƣợc Đảng ta khẳng định: “Cơ chế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế” [9, tr.
Để thực hiện đƣợc tốt hình thức phân phối nầy đòi hỏi ngƣời lao động phải có sức khoẻ và tri thức. Do đó nhà nƣớc phải tạo mọi điều kiện cho ngƣời lao động có điều kiện chăm lo sức khoẻ và học tập thông qua hệ thống y tế và giáo dục đào tạo, có nghĩa là: tăng cƣờng đầu tƣ cho y tế và giáo dục, để nâng cao sức khoẻ và trí tuệ cho ngƣời lao động là điều kiện cần thiết để thực hiện triệt để phân phối theo lao động. Nếu trƣớc đây chúng ta coi phân phối theo lao động là tiêu chí duy nhất của sự công bằng thì ngày nay trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trƣờng, trƣớc nhu cầu bức bách phải thu hút vốn đầu tƣ để có điều kiện mở rộng và đẩy mạnh sản xuất thì ngoài phân phối theo lao động chúng ta còn phải coi trọng hình thức: “.phân phối theo mức 13 z đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh. Các nguồn lực khác ở đây đƣợc hiểu là vốn, tài sản, công cụ sản xuất.
đƣợc gọi chung là tài sản đóng góp vào quá trình sản xuất. Tuỳ theo mức đóng góp mà đƣợc hƣởng phần thu nhập tƣơng ứng. Hình thức phân phối này cho phép thu hút, huy động moị nguồn lực của các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình sản xuất. Ngoài phân phối theo lao động và theo nguồn vốn, để đảm bảo công bằng xã hội trong quá trình phân phối còn phải tính đến nhiều cống hiến khác cho xã hội.