Đặt vấn đề Đối với tất cả các nước trên thế giới, đói nghèo luôn là vấn đề được xã hội quan tâm. Ở các nước phát triển, dù có mức sống cao song vẫn luôn tồn tại tình trạng phân hóa giàu nghèo. Còn ở những nước đang phát triển với thu nhập trung bình và thấp, trong đó bao gồm Việt Nam, thì một bộ phận không nhỏ dân cư vẫn sống ở mức nghèo khổ, đặc biệt còn có những người sống trong hoàn cảnh rất khó khăn vẫn phải chịu tình trạng thiếu đói, không đủ ăn trong khi đây là nhu cầu thiết yếu của con người. Mức độ đói nghèo cũng có sự chênh lệch khác nhau giữa các vùng miền trong cả nước do những đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội.
Trong đó, đói nghèo ở các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa trầm trọng hơn các khu vực miền xuôi. Tình trạng đó đã gây ảnh hưởng rất xấu tới chất lượng cuộc sống nhân dân vùng núi. Trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm, nhiều chủ trương chính sách tích cực giúp xóa đói giảm nghèo (XĐGN) cho vùng núi và đã đạt những kết quả nhất định. Song trên thực tế, tình hình đói nghèo nơi đây vẫn còn khá nghiêm trọng bởi những chính sách này chưa thật sự hoàn thiện và phù hợp với tình hình địa phương, và do đó sự tác động của những chính sách này tới việc khắc phục đói nghèo miền núi chưa thật sự hiệu quả.
XĐGN cũng như chữa bệnh, điều cốt lõi là phải tìm ra được đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói? Trong đó, nguyên nhân nào là nguyên nhân chính? Từ đó đưa ra được những giải pháp đúng đắn nhất, hiệu quả nhất nhằm giúp người dân xoá nghèo. Tổng Cọt là một xã vùng sâu, vùng xa của huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Là một xã gồm 3 thành phần dân tộc sinh sống (Nùng, Tày và Kinh), mấy năm trước đây sản xuất kinh tế của người dân mang tính tự cung, tự cấp, không có cơ hội tiếp cận thông tin, cơ sở hạ tầng nghèo nàn như: Giao thông đi lại khó khăn, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu, đời sống của người dân nơi đây còn nghèo nàn, được sự giúp đỡ quan tâm của n các cấp ban ngành của Đảng và Nhà Nước thì những năm qua xã Tổng Cọt đã tổ chức và thực hiện rất nhiều những chương trình theo chủ chương chính sách của Nhà Nước trong việc hỗ trợ và giúp đỡ người nghèo nhằm giảm tỷ lệ nghèo đói nơi đây. Tổng Cọt đã từng bước khắc phục được những khó khăn, đặc biệt là hệ thống giao thông đi lại được bằng xe máy, xe ô tô đi được đến trung tâm xã và các xóm, có các công trình thủy lợi nhỏ phục vụ tưới tiêu sản xuất nông nghiệp, xây dựng kiên cố được các trường học, có điện lưới ở các xóm trung tâm., và đời sống của người dân ngày một được cải thiện.
Một vấn đề quan trọng đặt ra là: Mặc dù đã có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước và sự nỗ lực của chính quyền địa phương nhưng tỷ lệ nghèo của người dân trong xã vẫn cao, năm 2013 chiếm 60,93% tỉ lệ hộ nghèo, kinh tế tăng trưởng chậm, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng kém. Từ thực tế trên việc tìm hiểu, xác định nguyên nhân nghèo đói của người dân trên địa bàn xã có thể đề ra những đề xuất và các giải pháp trong việc XĐGN tại địa phương là hết sức cần thiết. Chính vì lí do đó tôi đã quyết định chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình đó là: “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại xã Tổng Cọt, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng”, với mong muốn có cái nhìn tổng thể về thực trạng nghèo của cộng đồng người dân tại xã Tổng Cọt, từ đó tìm ra các nguyên nhân dẫn tới nghèo và đề xuất một số giải pháp góp phần giảm nghèo cho địa phương trong giai đoạn tiếp theo. Mục đích nghiên cứu Đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và những yếu tố chính ảnh hưởng đến nghèo của các hộ nông dân và đưa ra những giải pháp giảm nghèo cải thiện đời sống nhân dân trong xã.
Mục tiêu nghiên cứu - Điều tra sơ bộ và phân tích thực trạng nghèo tại địa bàn ngiên cứu - Những nguyên nhân dẫn tới nghèo tại địa bàn nghiên cứu. - Tìm hiểu về các chương trình xóa đói giảm nghèo đã thực hiện tại địa phương, những kết quả đạt được và hạn chế trong các chính sách giảm nghèo. n - Đề xuất được các giải pháp giảm nghèo phù hợp và thật sự thiết thực với các hộ gia đình nghèo tại địa phương nhằm góp phần giảm tỷ lệ nghèo và xây dựng địa phương ngày càng phát triển. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Nghiên cứu đề tài là cơ hội để cho sinh viên thực hành những kiến thức đã học, áp dụng kiến thức vào thực tế, là khung chương trình mà bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra có tính chất tất yếu giúp sinh viên nâng cao kiến thức và kinh nghiệm thực tế. Nghiên cứu đề tài được xem như bài học thực tế đầu tiên giúp cho sinh viên làm quen khi bắt tay vào thực tế, nó là cơ hội nhưng cũng đầy thách thức mà sinh viên phải đối mặt và trải qua trước khi ra trường và bắt tay vào công việc, nghề nghiệp của mình sau này. Nghiên cứu đề tài đòi hỏi sinh viên phải vận dụng nhiều kiến thức đã học để đưa vào thực tế, các thủ thuật về xác suất thống kê, kỹ năng đặt câu hỏi khai thác thông tin, các phương pháp PRA, khả năng phân tích xử lý số liệu, khả năng nhận định theo các nguyên lý phát triển nông thôn, sự tổng hợp và đưa ra lý luận từ những vấn đề thực tiễn. Đây là đề tài nghiên cứu có tính chất cấp thiết và quan trọng hàng đầu trong các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của thế giới cũng như Việt Nam.
Bởi trong các vấn đề của xã hội thì nghèo đói được xem là gốc dễ dẫn tới nhiều những vấn đề khác của cuộc sống. Nó là một mắt xích trong vòng luẩn quẩn của các vấn đề xã hội. Đây cũng là nguồn tài liệu bổ xung cho kho thư viện phục vụ cho công tác nghiên cứu học tập của các bạn sinh viên khóa sau cũng như công tác giảng dạy của các thầy các cô. Và cũng là cơ sở cho việc hình thành, thực hiện những ý tưởng khoa học sau này.
Ý nghĩa thực tiễn Đề tài sẽ góp phần vào việc đánh giá thực trạng đói nghèo tại địa phương, những nguyên nhân nghèo đói, hiệu quả của các chính sách, chương trình triển khai tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của bà con địa phương Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là cơ sở giúp chính quyền và ban ngành đoàn thể trong xã đưa ra được những biện pháp giảm nghèo có hiệu quả hơn. n PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2. Một số quan điểm về đói, nghèo Quan điểm về nghèo đói hay nhận dạng nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định đói nghèo vẫn là mức thu nhập hay mức chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế giáo dục, đi lại và giao tiếp xã hội.
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương tiện. Một cách hiểu khác: nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo, những ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm củ thể của từng địa phương hay từng quốc gia. Ngân hàng phát triển châu á (ADB) đưa ra: + Nghèo tuyệt đối là việc không thỏa mãn nhu cầu tối thiểu để nhằm duy trì cuộc sống của con người. + Nghèo tương đối là tình trạng không đạt tới mức sống tối thiểu tại một thời điểm nào đó.
Khái niệm về hộ đói: hộ đói là một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa thường xuyên phải vay nợ và thiếu khả năng trả nợ. Khái niệm về hộ nghèo: hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng,xét trên mọi phương tiện. Ngoài ra còn có khái niệm xã nghèo và vùng nghèo Xã nghèo là xã có những đặc trưng như sau: - Tỷ lệ hộ nghèo cao hơn 40% số hộ của xã. - Không có hoặc thiếu rất nhiều công trình cơ sơ hạ tầng như: điện sinh hoạt, Đường giao thông, trường học, trạm y tế và nước sinh hoạt.
n - Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao. Khái niệm vùng nghèo là chỉ địa bàn tương đối rộng có thể là một số xã liền kề nhau hoặc một vùng dân cư nằm ở vị trí rất khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận lợi. Hộ nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia Bảng 2.1: Chuẩn mực xác định nghèo đói giai đoạn 2005 - 2010 và 2010-2015 của Bộ Lao động-TB&XH Thu nhập bình quân Chỉ tiêu Địa bàn người/tháng 2005 - 2010 2010 – 2015 - Nông thôn 200.000 Nghèo - Thành thị 260.000 Đói Không áp dụng Không áp dụng (Nguồn: Chuẩn mực xác định nghèo đói của Bộ Lao động - TB&XH) Theo chuẩn mới áp dụng cho giai đoạn 2005-2010 thì nước ta có 3,9 triệu hộ nghèo chiếm 22% dân số cả nước.khi đó hộ nghèo ở nông thôn miền núi sẽ là 45,9 %, nông thôn đồng bằng là 23,2 % khu vực thành thị là 12,2% Năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo của nước ta giảm xuống còn 12% mục tiêu của nước ta vào năm 2012 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 9-10% tránh tình trạng tái nghèo. Đây là thách thức lớn của đảng và nhà nước ta.