Nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương cptpp đến xuất khẩu hàng thủy sản của việt nam sang các thị trường trọng điểm

Nghiên cứu tác động của CPTPP đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam, đặc biệt là thị trường trọng điểm, nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững.

Trường đại học

Trường Đại học Thương Mại

Chuyên ngành

Nghiên cứu khoa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên

2025

120
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Hiệp định CPTPP và ý nghĩa đối với xuất khẩu thủy sản

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là một thỏa thuận thương mại đa phương bộ lạc giữa 11 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Hiệp định này có tác động quan trọng đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam, đặc biệt là giảm thuế quan và tìm cơ hội tiếp cận thị trường mới. Thủy sản là một trong những ngành hàng chủ lực của Việt Nam, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu nông sản. Sự hưởng lợi từ CPTPP đã giúp các doanh nghiệp thủy sản tiếp cận các thị trường trọng điểm như Nhật Bản, Canada và Australia với điều kiện thương mại thuận lợi hơn.

1.1. Khái niệm và nội dung cơ bản của CPTPP

CPTPP là hiệp định thương mại kế thừa từ TPP, bao gồm các cam kết về giảm thuế quan, nới lỏng hạn ngạch nhập khẩu. Hiệp định đề cập cụ thể đến quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn chất lượng và điều kiện an toàn thực phẩm. Các thành viên cam kết tạo môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng cho các ngành sản xuất xuất khẩu.

1.2. Vai trò của thủy sản trong kinh tế Việt Nam

Ngành thủy sản Việt Nam đóng vai trò then chốt trong xuất khẩu nông sản, với kim ngạch hàng năm lên đến hàng tỷ USD. CPTPP tạo điều kiện để doanh nghiệp thủy sản tiếp cận các thị trường phát triển, nâng cao giá trị hàng xuất khẩu và tạo việc làm cho hàng triệu lao động trong ngành.

II. Tác động tích cực của CPTPP đến xuất khẩu thủy sản

CPTPP đã mang lại những tác động tích cực đáng kể đến ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Sự giảm thuế quan theo lịch trình của hiệp định giúp các sản phẩm thủy sản Việt Nam trở nên cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế. Các thị trường trọng điểm như Nhật Bản, Canada, Chile và Mexico đã mở cửa hơn cho hàng thủy sản Việt Nam, dẫn đến tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 2015-2023. Ngoài ra, quy tắc xuất xứ trong CPTPP tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng khu vực, nâng cao tính liên kết kinh tế.

2.1. Giảm thuế quan và lợi thế cạnh tranh

Theo CPTPP, thuế suất thủy sản Việt Nam vào các thị trường thành viên được giảm đáng kể, từ 15-30% xuống còn 0-5% trong giai đoạn thực hiện. Điều này giúp nâng cao khả năng cạnh tranh so với các nước khác, đặc biệt là Thái Lan và Ấn Độ.

2.2. Mở rộng thị trường và tăng kim ngạch xuất khẩu

Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang các thị trường CPTPP đã tăng trưởng nhất quán, từ khoảng 3-4 tỷ USD năm 2014 lên 5-6 tỷ USD năm 2023. Đặc biệt, thị trường Nhật Bản đã tăng tổng trị giá nhập khẩu từ Việt Nam lên hơn 30%.

III. Thách thức và rào cản trong thực thi CPTPP

Mặc dù CPTPP mang lại nhiều lợi ích, ngành thủy sản Việt Nam vẫn phải đối mặt với những thách thức lớn. Quy tắc xuất xứ khắt khe của hiệp định yêu cầu tỷ lệ giá trị gia tăng tối thiểu, khiến doanh nghiệp nhỏ gặp khó khăn tuân thủ. Tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của các nước phát triển rất cao, đòi hỏi doanh nghiệp đầu tư nâng cấp hệ thống kiểm soát chất lượng. Ngoài ra, cạnh tranh từ các nước khác trong CPTPP như Thái Lan cũng tạo áp lực lớn lên các doanh nghiệp Việt Nam. Chi phí tuân thủ tiêu chuẩnvốn đầu tư cơ sở hạ tầng cũng là rào cản lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

3.1. Rào cản kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng

Tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của Mỹ, Canada và Nhật Bản vô cùng khắt khe, yêu cầu truy xuất nguồn gốc sản phẩm hoàn toàn. Các doanh nghiệp Việt Nam cần đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống kiểm soát chất lượng để đáp ứng yêu cầu này.

3.2. Áp lực cạnh tranh từ các nước thành viên

Thái Lan, Indonesia và các nước ASEAN khác cũng là thành viên CPTPP, tạo áp lực cạnh tranh trực tiếp. Các nước này có lợi thế về chi phí lao độngquy mô sản xuất, khiến doanh nghiệp Việt phải tìm giải pháp khác biệt để duy trì lợi thế cạnh tranh.

IV. Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản trong bối cảnh CPTPP

Để tối đa hóa tác động tích cực của CPTPP đến xuất khẩu thủy sản, Việt Nam cần thực hiện các giải pháp toàn diện. Chính phủ nên tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tuân thủ tiêu chuẩn, cấp chứng chỉ xuất khẩuxây dựng thương hiệu quốc gia. Cải cách hành chính để giảm thủ tục xuất khẩuyếu tố quan trọng. Các doanh nghiệp cần đầu tư nghiên phát triển để nâng cao chất lượng sản phẩm, áp dụng công nghệ hiện đại trong chế biến, và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Hợp tác liên doanh quốc tế cũng sẽ giúp tiếp cận công nghệthị trường mới.

4.1. Vai trò của Chính phủ trong hỗ trợ doanh nghiệp

Chính phủ cần xây dựng chính sách ưu tiên cho ngành thủy sản, bao gồm hỗ trợ tài chính, tập huấn kỹ thuật về tiêu chuẩn quốc tế, và xây dựng vùng sản xuất chuyên biệt. Cải cách thủ tục thương mạigiảm rào cản hành chínhưu tiên hàng đầu.

4.2. Chiến lược phát triển của doanh nghiệp thủy sản

Doanh nghiệp cần tập trung vào sản phẩm chuyên biệt như cá tra nguyên con, tôm sú chất lượng cao, và đầu tư vào truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Xây dựng thương hiệutiếp cận trực tiếp khách hàng qua thương mại điện tử sẽ tăng giá trị sản phẩmgiảm phụ thuộc vào trung gian.

09/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài Febriani cùng cộng sự (2024) tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) tới hoạt động xuất khẩu cao su của Indonesia. Hiệp định này có hiệu lực từ tháng 1 năm 2010 nhằm mục đích tăng cường hợp tác kinh tế và xóa bỏ rào cản thương mại. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu cao su của Indonesia đã giảm đáng kể sau khi hiệp định được thực thi.

Nghiên cứu này đã sử dụng mô hình lực hấp dẫn (Gravity model) và phương pháp RCTA để phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới sự suy giảm giá trị xuất khẩu cao su của Indonesia. Kết quả cho thấy rằng tăng trưởng GDP thực của ASEAN - Trung Quốc có tác động tiêu cực đến giá trị xuất khẩu cao su của Indonesia, trong khi các yếu tố khác như tỷ giá hối đoái và giá hàng hóa cũng đóng một vai trò quan trọng. Sự suy giảm sức cạnh tranh xuất khẩu cao su của Indonesia không chỉ do việc thực hiện hiệp định thương mại tự do ASEAN- Trung Quốc (ACFTA) mà còn do các yếu tố nội tại như năng suất thấp và thiếu đầu tư. Từ đó, tác giả đã các khuyến nghị được đưa ra để điều chỉnh giá hàng hóa nhằm cải thiện sức cạnh tranh xuất khẩu cao su của Indonesia.

Bài nghiên cứu của Anwar Shah cùng cộng sự (2020) đã tiến hành đánh giá tác động của hiệp định thương mại tự do Pakistan - Trung Quốc đến việc tạo lập và chuyển hướng xuất khẩu. Nghiên cứu này cho thấy kim ngạch xuất khẩu sau FTA của Pakistan với Trung Quốc là 6,1 triệu đô la Mỹ mỗi năm, chiếm 0,02 phần trăm tổng kim ngạch xuất khẩu trung bình hàng năm của Pakistan. Kết quả nghiên cứu cho thấy ngành thực phẩm và đồ uống là ngành thành công trong việc tạo ra kim ngạch xuất khẩu, trong khi một nửa các ngành công nghiệp dệt may của Pakistan không thể tạo ra bất kỳ kim ngạch xuất khẩu mới nào sang Trung Quốc. Dựa trên những phát hiện này có thể nói rằng các hiệp định thương mại tự do là một biện pháp hữu ích để đạt được tăng trưởng kinh tế nhờ xuất khẩu thúc đẩy.

Tuy nhiên, FTA không phải lúc nào cũng dẫn đến tăng trưởng nhờ xuất khẩu cao hơn. Pakistan cần cải cách liên quan đến chính sách thúc đẩy xuất khẩu vì các ngành được trợ cấp cao đã thất bại. Sasawalai Tonsakunthaweeteam (2024) đã có bài nghiên cứu phân tích tác động của hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc đối với thương mại nhựa, cao su, tập trung vào việc tạo ra thương mại và chuyển hưởng xuất khẩu. Tác giả đã thu thập dữ liệu của 11 quốc gia trong khối và 23 quốc gia ngoài khối từ năm 1990 đến 16 năm 2021, được phân tích bằng STATA17.

Bài nghiên cứu đã sử dụng mô hình trọng lực và kết quả chứng minh rằng hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc thiết lập việc tạo ra thương mại và chuyển hướng xuất khẩu. Nó đã có tác động tích cực đến giá trị xuất khẩu nhựa và cao su của Thái Lan trong 30 năm qua, nhưng xét về mặt tạo ra thương mại thì ít hơn chuyển hướng xuất khẩu. Điều này có nghĩa là xuất khẩu nhựa và cao su sang các quốc gia ngoài khối sẽ thu được nhiều lợi ích hơn so với giao dịch với các quốc gia thành viên theo hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc. Tuy nhiên, hoạt động thương mại theo hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc có thể tiếp tục, nhưng khối lượng xuất khẩu nhựa và cao su sẽ giảm.

Theo các phát hiện, có thể cho rằng chính phủ Thái Lan phải có lợi thế so sánh về sản phẩm và khả năng cạnh tranh mạnh mẽ. Trong khi đó, hiệp định thương mại tự do ASEAN- Trung Quốc không chỉ tập trung vào thuế quan thương mại mà còn cải thiện thủ tục hải quan để giảm chi phí thương mại. Priyanka Khati và Chanwhan Kim (2022) với công trình nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ thương mại và xuất khẩu giữa Ấn Độ và ASEAN và xem xét mức độ mà hiệp định thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA) ảnh hưởng hiệu quả tới mối quan hệ này. Ngoài ra, nghiên cứu này nhằm xác định những yếu tố nào khác ảnh hưởng đến mối quan hệ thương mại và xuất khẩu giữa hai khu vực và những thay đổi nào trong tương lai là cần thiết để làm cho quan hệ đối tác này có lợi cho cả hai bên.

Để hoàn thành mục tiêu này, tác giả đã sử dụng mô hình lực hấp dẫn cho dữ liệu bảng từ năm 2000-2019. Phân tích thực nghiệm kết luận rằng việc áp dụng hiệp định thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ đã làm tăng đáng kể thương mại; tuy nhiên, không có tác động đáng kể đến việc tăng xuất khẩu. Nghiên cứu đã xác định phi thuế quan gia tăng là một trong những biến số quan trọng cản trở việc hiện thực hóa tiềm năng xuất khẩu của Ấn Độ sang ASEAN. Để tăng xuất khẩu thì Ấn Độ cần nhấn mạnh vào việc xây dựng mối quan hệ chặt chẽ và sâu rộng hơn với các quốc gia trong ASEAN đang chứng kiến tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn, chẳng hạn như Campuchia, Malaysia, Philippines và Việt Nam.

Bài nghiên cứu của Young-Kul Won (2022) đã phân tích hiệp định thương mại tự do giữa Hàn Quốc và ASEAN có thực sự làm thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng của Hàn Quốc. Đầu tiên, tác giả tính toán các tác động thúc đẩy xuất khẩu của FTA Hàn Quốc-ASEAN cũng như các FTA khác của Hàn Quốc bằng phương pháp chênh lệch 17 trong chênh lệch (DID), sau đó tiến hành cả phân tích hồi quy bảng tĩnh và động dựa trên mô hình trọng lực tăng cường, sử dụng dữ liệu có liên quan trong giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2018. Đầu tiên, kết quả DID cho thấy FTA Hàn Quốc-ASEAN đã tăng xuất khẩu 9,1%, lớn hơn nhiều so với FTA với Trung Quốc (-7,2%), Ấn Độ (- 9,1%) và EU (1,2%), nhưng thấp hơn FTA với Hoa Kỳ (10,4%) và EFTA (26,2%). Thứ hai, tuy nhiên, cả kết quả hồi quy dữ liệu bảng tĩnh và động đều không hỗ trợ các hiệu ứng thúc đẩy xuất khẩu của FTA Hàn Quốc-ASEAN, bất kể phương pháp ước tính và loại hình xuất khẩu nào.

Cuối cùng, bản thân các thành viên ASEAN đóng vai trò có ý nghĩa thống kê trong việc thúc đẩy xuất khẩu của Hàn Quốc sang các thành viên, ngụ ý rằng Hàn Quốc sẽ xuất khẩu nhiều hơn sang các thành viên ASEAN so với mức bình thường được quy định bởi phương trình trọng lực ngay cả khi không có FTA. Ý nghĩa nghiên cứu - FTA của Hàn Quốc với ASEAN cũng như các FTA khác của nước này không có khả năng làm tăng xuất khẩu của nước này theo cách có ý nghĩa thống kê. Điều này đặc biệt đúng đối với các FTA của nước này với các nước đang phát triển. Do đó, chính phủ Hàn Quốc cần tiếp tục cải thiện nội dung của các FTA hiện có với các nước đang phát triển để tăng cường khả năng tiếp cận thị trường của các sản phẩm Hàn Quốc.

Bài nghiên cứu của Seong - Hyuk Hwang và Jongin Kim (2023) đo lường định lượng tác động của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đối với xuất khẩu của Nhật Bản sang các nước thành viên và tìm ra các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến xuất khẩu của Nhật Bản. Trong nghiên cứu này, tác giả đã áp dụng mô hình trọng lực Durbin không gian để xem xét sự phụ thuộc không gian và hiệu ứng lan tỏa của dòng thương mại giữa Nhật Bản và các nước thành viên trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021. Mặc dù Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) không trực tiếp làm tăng xuất khẩu của Nhật Bản, nhưng nó có hiệu ứng lan tỏa gián tiếp do thương mại giữa các nước thành viên trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) khác tăng lên, làm giảm xuất khẩu của Nhật Bản. Các yếu tố có tác động trực tiếp hơn đến xuất khẩu của Nhật Bản sang các nước thành viên của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) hiện là tổng sản phẩm quốc nội của cả hai nước, khoảng cách giữa các nước và tỷ giá hối đoái.

Trong đó, tác động trực tiếp của tỷ giá 18 hối đoái là đáng kể nhất, vì đồng yên Nhật mất giá làm tăng khả năng cạnh tranh về giá của các sản phẩm của Nhật Bản, dẫn đến tăng xuất khẩu. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước Bài nghiên cứu của Ngô Thị Tuyết Mai và Đỗ Thị Trang (2022) đánh giá tác động của Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (UKVFTA) đến xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Vương quốc Anh (Anh). Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp phân tích định lượng thông qua phương pháp SMART với nguồn dữ liệu từ Ngân hàng thế giới World Bank và kịch bản thuế quan nhập khẩu cắt giảm về 0% khi Hiệp định có hiệu lực. Kết quả nghiên cứu cho thấy UKVFTA có tác động thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang thị trường Anh, đặc biệt là 10 nhóm mặt hàng may mặc xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (chiếm tới 69,8% tổng tác động tạo lập thương mại và 71,9% tác động chuyển hướng thương mại).

Đây cũng là những mặt hàng Việt Nam có lợi thế so sánh và mang tính bổ sung trong cơ cấu thương mại của Anh. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang Anh còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ (khoảng 2,4%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Anh. Tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan từ Hiệp định còn thấp (chiếm 17,2% tổng giá trị xuất khẩu hàng may mặc sang Anh). Hơn nữa, hàng may mặc Việt Nam xuất khẩu sang Anh chủ yếu dưới hình thức gia công thuê, nên giá trị gia tăng còn thấp.

Huỳnh Thị Diệu Linh và Hoàng Thanh Hiền (2019) có bài nghiên cứu đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do với xuất nhập khẩu Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ