Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Lực lượng vũ trang giáo phái ở Nam Bộ (1945 – 1957) của nghiên cứu sinh Phạm Văn Phương, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số 62 22 03 13), được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hồ Sơn Đài. Luận án thuộc hướng tiếp cận lịch sử quân sự - chính trị, sử dụng phương pháp định tính và phê bình sử liệu chuyên ngành.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nam Bộ là địa bàn chiến lược trọng điểm trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Thời kỳ 1945 – 1954, nơi đây là trọng điểm bình định của thực dân Pháp nhằm cung cấp hậu cần cho chiến tranh trên toàn Đông Dương. Sau Hiệp định Genève (1954), Nam Bộ trở thành nơi Mỹ triển khai các chiến lược quân sự nhằm lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Trên chiến trường Nam Bộ, sự chi phối của các yếu tố tự nhiên, xã hội và địa lý quân sự đã dẫn đến sự xuất hiện của các lực lượng vũ trang (LLVT) mang tính chất đặc thù, trong đó có LLVT giáo phái gồm các đơn vị của Cao Đài Tây Ninh, Phật giáo Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo và Bình Xuyên.
Theo tác giả, hoạt động của các lực lượng này tác động sâu sắc đến cục diện chiến trường. Do tính chất phức tạp về nguồn gốc, xu hướng chính trị và quá trình phân hóa, các công trình nghiên cứu lịch sử trước đây ở trong và ngoài nước thường chỉ đề cập khái quát hoặc phản ánh cục bộ, rời rạc theo từng sự kiện/địa phương. Một số công trình ngoài nước còn có những nhận định chủ quan về mối quan hệ giữa lực lượng kháng chiến với các giáo phái cũng như nguyên nhân các giáo phái hợp tác với Pháp. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và khách quan về quá trình hình thành, tổ chức, hoạt động, phân hóa và tan rã của LLVT giáo phái là yêu cầu khoa học cấp thiết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Phục dựng bức tranh toàn diện về LLVT giáo phái ở Nam Bộ gồm Cao Đài Tây Ninh, Phật giáo Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo và Bình Xuyên trên các mặt: tổ chức, hoạt động, tác động của lực lượng này, góp phần làm rõ tính đặc thù trong cuộc kháng chiến chống xâm lược tại chiến trường Nam Bộ.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích đặc điểm địa lý, bối cảnh lịch sử ở Nam Bộ dẫn đến sự ra đời và hoạt động của LLVT giáo phái trước và sau Cách mạng Tháng Tám.
- Làm rõ cơ cấu tổ chức, hoạt động, tác động của LLVT giáo phái trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
- Phân tích âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm trong việc lôi kéo các giáo phái chống lại kháng chiến, sự phân hóa của LLVT giáo phái trong quá trình kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Nam Bộ.
- Tìm hiểu chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Lao động Việt Nam) về vấn đề đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc, xây dựng lực lượng vũ trang giai đoạn đầu của hai cuộc kháng chiến và quá trình vận dụng, chuyển hóa một bộ phận LLVT giáo phái tham gia kháng chiến chống ngoại xâm ở Nam Bộ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bốn lực lượng vũ trang giáo phái tại Nam Bộ:
- LLVT Cao Đài Tây Ninh: Chỉ khảo sát chi phái Cao Đài Tây Ninh vì đây là chi phái duy nhất tổ chức quân đội riêng biệt có cơ cấu, biên chế quy củ; các chi phái khác không lập quân đội riêng hoặc nhanh chóng sáp nhập vào LLVT cách mạng.
- LLVT Hòa Hảo: Lực lượng thành lập theo chỉ thị của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ trước năm 1945, sau năm 1947 phân hóa thành nhiều nhóm cát cứ quân phiệt dưới quyền các thủ lĩnh Trần Văn Soái, Lê Quang Vinh, Nguyễn Giác Ngộ, Lâm Thành Nguyên.
- LLVT Thiên Chúa giáo (UMDC): Đơn vị Tự vệ Lưu động của người Thiên Chúa giáo (Unités Mobiles de Défense des Chrétientés), do sĩ quan Pháp gốc Việt Jean Leroy thành lập và chỉ huy tại Bến Tre (hoạt động 1947 – 1953).
- LLVT Bình Xuyên: Lực lượng hình thành từ các nhóm giang hồ vùng Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, ban đầu do Dương Văn Dương thống nhất theo kháng chiến, về sau Lê Văn Viễn ly khai hợp tác với Pháp. Luận án đưa Bình Xuyên vào phạm trù nghiên cứu vì đương thời chính quyền Pháp, Mỹ, Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa đều xếp Bình Xuyên chung nhóm LLVT giáo phái trong quy chế phụ lực quân, và các nhóm này đã cùng liên minh trong Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia (1955).
- Phạm vi không gian: Địa bàn Nam Bộ (từ Đồng Nai đến mũi Cà Mau).
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1945 đến năm 1957. Mốc 1945 đánh dấu thời điểm các nhóm bán vũ trang chuyển thành các tổ chức quân sự có biên chế, phiên hiệu, bộ máy chỉ huy chính thức. Mốc 1957 là thời điểm các tổ chức LLVT giáo phái cơ bản giải thể, sáp nhập vào quân đội Việt Nam Cộng hòa hoặc chuyển hóa thành các đơn vị vũ trang cách mạng; Xứ ủy Nam Bộ cũng chấm dứt chủ trương duy trì danh nghĩa vũ trang giáo phái.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả phân chia các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan thành hai nhóm chính:
TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
| Nhóm công trình |
Đại diện tiêu biểu |
Đóng góp và hạn chế của các công trình đi trước |
| Lịch sử kháng chiến Nam Bộ (Trong nước) |
Trần Hải Phụng (1994), Bộ Tư lệnh QK7, QK8, QK9, HĐCĐBS Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2012), Hồ Sơn Đài (2015). |
Cung cấp bối cảnh chiến trường, đường lối chỉ đạo của Đảng, chủ trương binh - địch vận và giáo phái vận; tuy nhiên chỉ đề cập đến LLVT giáo phái tại các thời điểm cụ thể, chưa thành hệ thống chuyên biệt. |
| Lịch sử và tư liệu chính trị (Nước ngoài) |
Phillippe Devillers (1952, 1993), A. Savani (1955), E. Lansdale (1991), V.N. Kolotov (1999), J. Chapman (2013), E. Miller (2013). |
Nêu rõ toan tính của thực dân Pháp và can thiệp của Mỹ, chính sách của Ngô Đình Diệm đối với giáo phái; song một số công trình có nhận định thiếu khách quan về nguồn gốc tôn giáo và mối quan hệ với kháng chiến. |
| Nghiên cứu chuyên biệt về từng giáo phái |
Lê Thành Dân (1962), Trần Văn Rạng (1974), Lâm Quang Láng (2007), Hồ Sơn Đài và nnk (1991), Hồi ký Jean Leroy (1977). |
Mô tả cơ cấu tổ chức nội bộ, hồi ức của nhân chứng; tuy nhiên đa phần viết riêng lẻ cho từng tôn giáo, một số mang tính thiên kiến cá nhân hoặc hồi ký chưa được đối chiếu phê bình sử liệu đầy đủ. |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
Các công trình trước đây chưa khảo sát đồng thời cả 4 lực lượng trong một khung phân tích thống nhất; thiếu nguồn tư liệu đối chiếu về lực lượng UMDC Thiên Chúa giáo và tiến trình phân hóa nội bộ của từng phái; chưa làm rõ mối quan hệ giữa chính sách của các thế lực ngoại bang (Pháp, Mỹ) với chủ trương giáo phái vận của Đảng Lao động Việt Nam trong suốt khung thời gian 1945 – 1957.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và hệ khái niệm
- Thế giới quan và phương pháp luận: Luận án dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Lao động Việt Nam) về chiến tranh nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và công tác tôn giáo vận.
- Khái niệm "Lực lượng vũ trang giáo phái": Được xác định trong ngữ cảnh lịch sử cụ thể ở Nam Bộ thời kỳ 1945 – 1957, dùng để chỉ các tổ chức vũ trang có nguồn gốc tôn giáo (Cao Đài, Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo) và tổ chức bán vũ trang xã hội liên kết chính trị (Bình Xuyên) cùng hưởng quy chế phụ lực quân của Pháp và sau đó liên minh chính trị - quân sự đối trọng với chính quyền Ngô Đình Diệm.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình ra đời, biến chuyển tổ chức, hoạt động tác chiến và sự phân hóa, giải thể của từng LLVT giáo phái theo trình tự không gian và thời gian từ trước 1945 đến năm 1957.
- Phương pháp logic: Khái quát các quy luật biến đổi, bản chất chính trị, đặc điểm quân sự và tác động nhiều mặt của LLVT giáo phái đối với cục diện chiến trường Nam Bộ.
- Phương pháp phê bình sử liệu: So sánh, đối chiếu chéo giữa các nguồn tư liệu lưu trữ của chính quyền cách mạng, hồ sơ quân sự của Pháp, tài liệu giải mật của các cơ quan chính phủ Mỹ và hồi ký của các nhân chứng thuộc các xu hướng chính trị đối lập nhau để xác định tính xác thực của các sự kiện lịch sử.
- Phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh lịch sử và phân loại dữ liệu.
Nguồn tư liệu sử dụng
- Tư liệu lưu trữ cách mạng: Các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo tổng kết của Trung ương Cục miền Nam, Xứ ủy Nam Bộ, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ, tài liệu tại Phòng Khoa học Quân sự Quân khu 7, Quân khu 9 và Ban Tuyên giáo các tỉnh ủy Nam Bộ.
- Tư liệu lưu trữ của Pháp, Mỹ và chính quyền Sài Gòn: Hồ sơ lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP.HCM), Thư viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ, tài liệu giải mật từ Bộ Ngoại giao Mỹ (Department of State), Cục Tình báo Trung ương (CIA), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Mỹ (NARA), Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân (JCS) và Trung tâm Lịch sử Quân sự Quân đội Mỹ (U.S. Army Center of Military History).
- Văn kiện, ấn phẩm nghiên cứu và báo chí đương thời: Các tập văn kiện Đảng, tạp chí chuyên ngành lịch sử, các ấn phẩm xuất bản tại Sài Gòn trước 1975.
- Hồi ký và lời kể nhân chứng: Hồi ký của Jean Leroy, Lê Thành Dân, Vương Kim, Lê Tiền Giang, Lê Minh Đào, Nhị Lang, Thái Lân...
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tập trung khảo cứu, phân tích và hệ thống hóa các nhóm công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả phân tích những kết quả đã đạt được từ các công trình lịch sử chiến tranh Nam Bộ, lịch sử Đảng bộ địa phương, các khảo cứu chuyên sâu về đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Công giáo và Bình Xuyên. Trên cơ sở đó, chương 1 chỉ rõ những nội dung chưa được nghiên cứu toàn diện hoặc còn có ý kiến đánh giá trái chiều, từ đó xác lập các luận điểm, nhiệm vụ khoa học mà luận án tập trung làm rõ.
Chương 2: Bối cảnh và sự ra đời lực lượng vũ trang giáo phái ở Nam Bộ trước năm 1945
- Đặc điểm địa lý và bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội:
- Địa lý tự nhiên và cư dân: Nam Bộ có địa hình đồng bằng xen lẫn rừng núi (chiến khu D, Dương Minh Châu) và rừng ngập mặn, kênh rạch chằng chịt (Đồng Tháp Mười, Rừng Sác). Đầu kháng chiến chống Pháp, dân số Nam Bộ khoảng 5 triệu người, gồm người Việt (chủ yếu là lưu dân Ngũ Quảng từ thế kỷ XVII), người Khmer (khoảng 270.000 người), người Hoa (khoảng 650.000 người, tập trung ở Chợ Lớn), các dân tộc thiểu số bản địa (khoảng 75.000 người) và kiều dân Pháp.
- Chính trị và kinh tế: Nam Bộ là thuộc địa trực trị của Pháp, chia thành 20 tỉnh và 3 thành phố. Nền nông nghiệp mang tính chất hàng hóa nhưng duy trì chế độ bóc lột tá điền nặng nề: khoảng 80% diện tích đất canh tác (khoảng 1.000.000 ha) tập trung trong tay đại địa chủ; tá điền canh tác 5–10 ha bị thu tô đến 80% hoa lợi, phải vay nợ lãi suất từ 30% đến 200%/năm. Sự phân hóa xã hội sâu sắc làm nảy sinh tầng lớp dân nghèo lang bạt, các băng nhóm giang hồ vùng ven đô thị.
- Tư tưởng và tôn giáo: Phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX lần lượt thất bại; Nho giáo và Phật giáo truyền thống suy thoái, không đáp ứng được khủng hoảng tinh thần của quần chúng. Bối cảnh bế tắc xã hội là mảnh đất làm nảy sinh các tôn giáo mới như Cao Đài (1926) và Phật giáo Hòa Hảo (1939).
- Quá trình hình thành các tổ chức tiền thân của LLVT giáo phái:
- Đạo Cao Đài và Nội ứng Nghĩa binh: Đạo Cao Đài ra đời từ các nhóm cầu cơ năm 1926 tại Tây Ninh, phát triển nhanh chóng đạt trên 1 triệu tín đồ thời chống Pháp (chiếm 20% dân số Nam Bộ). Khi Pháp đàn áp, bắt Hộ pháp Phạm Công Tắc lưu đày Madagascar (1941), chức sắc Trần Quang Vinh đã liên lạc với Nhật Bản (thông qua hãng Dainan Koosi và sĩ quan Matsushita, Kimura) lập ra lực lượng xưởng đóng tàu và tổ chức Nội ứng Nghĩa binh làm phụ lực cho quân đội Nhật.
- Phật giáo Hòa Hảo và Đội Bảo An: Do Huỳnh Phú Sổ sáng lập năm 1939 tại An Giang, phát triển mạnh ở miền Tây Nam Bộ. Nhằm bảo vệ an ninh trật tự và đối phó với sự đàn áp của chính quyền thuộc địa, Huỳnh Phú Sổ thành lập các Đội Bảo An, sau nâng lên thành các tổ chức quân sự tự vệ.
- Thiên Chúa giáo và nhân vật Jean Leroy: Sự thâm nhập của đạo Thiên Chúa gắn với các biến động chính trị; tại Bến Tre, sĩ quan Jean Leroy tập hợp thanh niên Công giáo hình thành các nhóm tự vệ vũ trang ban đầu.
- Nhóm tiền thân của Bình Xuyên: Các nhóm giang hồ hảo hán tại vùng ven nam Sài Gòn – Chợ Lớn (Tân Quy, Tân Thuận, Nhà Bè, Bình Xuyên) liên kết lại dưới sự chỉ huy của Dương Văn Dương.
Chương 3: Lực lượng vũ trang giáo phái trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)
- Giai đoạn 1945 – 1946:
- Sau Cách mạng Tháng Tám, các nhóm vũ trang giáo phái ban đầu cùng tham gia Mặt trận Quốc gia Thống nhất và đứng về phía kháng chiến chống Pháp tái xâm lược.
- Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ tổ chức các đơn vị vũ trang tập trung, thành lập các phân khu quân sự và các chi đội Vệ quốc đoàn (trong đó có các chi đội Bình Xuyên của Dương Văn Dương, lực lượng Cao Đài của Trần Quang Vinh, lực lượng Hòa Hảo).
- Cuối năm 1945 - đầu 1946, do sự phức tạp về động cơ chính trị và sự lôi kéo của Pháp, mâu thuẫn bắt đầu bộc lộ; một bộ phận chỉ huy giáo phái dao động.
- Giai đoạn 1947 – 1954:
- Chính sách của Pháp: Thực hiện âm mưu "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", Pháp ký các hiệp ước quân sự riêng rẽ với các chức sắc chỉ huy giáo phái, công nhận các khu tự trị, trang bị vũ khí, trả lương và xếp các đội quân giáo phái thành lực lượng bổ túc quân (forces supplétives).
- Tình hình phân hóa và hoạt động:
- Cao Đài Tây Ninh: Ký thỏa ước hợp tác với Pháp (1947), phát triển quân đội kiểm soát khu vực Tây Ninh, Gia Định; năm 1951 xuất hiện nhóm Cao Đài Liên Minh do Trình Minh Thế ly khai Tòa thánh lập căn cứ riêng.
- Hòa Hảo: Sau sự kiện Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ mất tích (1947), lực lượng vũ trang Hòa Hảo phân rã thành các xứ quân phong kiến cát cứ dưới trướng Trần Văn Soái (Năm Lửa), Lê Quang Vinh (Ba Cụt), Nguyễn Giác Ngộ, Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), vừa đánh thuê cho Pháp vừa xung đột lẫn nhau.
- Thiên Chúa giáo: Jean Leroy phát triển các đơn vị UMDC, kiểm soát gần như toàn bộ tỉnh Bến Tre, lập phòng tuyến ngăn chặn lực lượng cách mạng Khu 8, hoạt động độc dữ đến khi bị giải thể năm 1953 do mâu thuẫn quyền lực với chính quyền Quốc gia Việt Nam.
- Bình Xuyên: Sau khi Dương Văn Dương tử trận, Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) nắm quyền, ly khai kháng chiến (1948) về hợp tác với Pháp, kiểm soát hệ thống an ninh, sòng bạc Đại Thế Giới, lò mổ và đường dây thuốc phiện Sài Gòn – Chợ Lớn.
- Tác động: LLVT giáo phái gây khó khăn lớn cho phong trào kháng chiến của nhân dân Nam Bộ, chia cắt các chiến khu và vùng tự do; tuy nhiên nội bộ các giáo phái cũng phân hóa liên tục, một bộ phận tín đồ và binh sĩ tiến bộ vẫn duy trì cơ sở và ngả theo Việt Minh.
TIẾN TRÌNH PHÂN HÓA VÀ BIẾN ĐỔI (1945 - 1957)
Chương 4: Lực lượng vũ trang giáo phái ở Nam Bộ sau Hiệp định Genève (1954 – 1957)
- Bối cảnh và chính sách của các bên:
- Hiệp định Genève được ký kết, quân đội và cán bộ kháng chiến tập kết ra Bắc. Miền Nam không còn quân đội và chính quyền công khai của cách mạng.
- Mỹ hậu thuẫn Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại, lập chế độ Việt Nam Cộng hòa, tiến hành loại bỏ ảnh hưởng của Pháp và thanh trừng các LLVT giáo phái để tập trung quyền lực độc tài.
- Quá trình đàn áp và làm tan rã LLVT giáo phái:
- Tháng 3-1955, các giáo phái lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia nhằm gây áp lực với Ngô Đình Diệm.
- Ngô Đình Diệm dùng viện trợ Mỹ mua chuộc các tướng lĩnh Cao Đài (Nguyễn Thành Phương), sau đó mở chiến dịch quân sự tấn công Bình Xuyên (chiến dịch Hoàng Diệu), đánh đuổi tàn quân Bảy Viễn vào Rừng Sác.
- Quân đội Sài Gòn mở các chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, Thoại Ngọc Hầu tiêu diệt các căn cứ quân sự của Hòa Hảo ở miền Tây, bắt và xử tử Lê Quang Vinh (Ba Cụt) năm 1956.
- Chủ trương giáo phái vận của Đảng và sự chuyển hóa lực lượng:
- Xứ ủy Nam Bộ và các Tỉnh ủy thực hiện chủ trương "giáo phái vận", tranh thủ mâu thuẫn giữa giáo phái với Diệm để vận động các chỉ huy yêu nước và binh sĩ tiến bộ mang vũ khí về hợp tác với cách mạng.
- Một bộ phận binh sĩ Cao Đài, Bình Xuyên, Hòa Hảo ly khai chế độ Diệm đã rút vào căn cứ, chuyển hóa thành các đơn vị vũ trang cách mạng tiền thân, đóng vai trò nòng cốt bảo vệ cơ sở Đảng trước phong trào "tố cộng, diệt cộng". Đến năm 1957, các tổ chức vũ trang mang danh nghĩa giáo phái chính thức chấm dứt tồn tại.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về nguồn tư liệu: Luận án đã khai thác, xử lý và công bố một hệ thống tư liệu lịch sử phong phú, đa dạng từ các kho lưu trữ Trung ương, Quân khu 7, Quân khu 9 và các tài liệu giải mật của chính phủ Mỹ (Bộ Ngoại giao, CIA, NARA), kết hợp với các nguồn sử liệu đạo và hồi ký của những nhân chứng thuộc nhiều phe phái khác nhau.
- Về nhận thức lịch sử quân sự: Làm rõ tiến trình vận động lịch sử khách quan của 4 LLVT giáo phái tại Nam Bộ từ nguồn gốc xã hội, cơ cấu tổ chức, biên chế trang bị đến hoạt động thực tế trên chiến trường; chứng minh LLVT giáo phái là một thực thể quân sự - xã hội đặc thù sinh ra từ hoàn cảnh lịch sử phức tạp của miền Nam.
- Bổ sung các khoảng trống học thuật:
- Luận án phục dựng toàn diện sự ra đời và quá trình tồn tại của lực lượng vũ trang Thiên Chúa giáo (UMDC) của Jean Leroy – mảng đề tài trước đây ít được khảo cứu độc lập.
- Phân tích rõ nét sự phân hóa nội bộ của từng giáo phái (như hiện tượng Trình Minh Thế trong Cao Đài, sự cát cứ của các thủ lĩnh Hòa Hảo, sự đối lập giữa bộ phận Bình Xuyên kháng chiến và Bình Xuyên phản bội).
- Làm rõ cơ sở lý luận, phương châm và kết quả thực hiện công tác "giáo phái vận" của Đảng Lao động Việt Nam trong việc tập hợp quần chúng có đạo và cảm hóa, chuyển hóa một bộ phận lực lượng vũ trang giáo phái thành lực lượng vũ trang cách mạng.
- Về mặt ứng dụng: Cung cấp tài liệu tham khảo có độ tin cậy cho công tác nghiên cứu lịch sử chiến tranh Việt Nam, lịch sử Nam Bộ kháng chiến, đồng thời hỗ trợ công tác giảng dạy lịch sử tại các trường đại học và học viện nghiên cứu chuyên ngành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về nguồn tài liệu lưu trữ quân sự nguyên bản của một số giáo phái bị thất lạc qua các biến cố chiến tranh (đặc biệt là các văn bản hành chính nội bộ của lực lượng UMDC và các nhóm vũ trang Hòa Hảo phân tán), việc tái hiện một số chi tiết hoạt động tác chiến cục bộ tại cấp cơ sở phải dựa vào nguồn tư liệu hồi ký, vốn đòi hỏi sự đối chiếu cẩn trọng.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh về phong trào tự vệ Công giáo giữa Nam Bộ với các vùng tự vệ Công giáo ở Bắc Bộ (như Phát Diệm, Bùi Chu); khảo cứu sâu hơn về tâm lý xã hội và đức tin tôn giáo của người nông dân Nam Bộ trong sự chi phối đối với hành vi quân sự - chính trị của binh sĩ giáo phái giai đoạn sau năm 1957.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu lịch sử: Cung cấp khung phân tích đa chiều, tài liệu tham khảo xác thực về lịch sử quân sự Nam Bộ thời kỳ 1945 – 1957, đặc biệt là phương pháp tiếp cận phê bình sử liệu đối với các đối tượng nghiên cứu tôn giáo - chính trị phức tạp.
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Bổ sung tư liệu giảng dạy cho các chuyên đề lịch sử Việt Nam hiện đại, lịch sử kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lịch sử LLVT nhân dân Việt Nam.
- Đối với người làm công tác tôn giáo và chính sách: Cung cấp bài học lịch sử về công tác tôn giáo vận, chính sách đại đoàn kết dân tộc, phương thức nhận diện và giải quyết các mâu thuẫn xã hội trong bối cảnh các thế lực bên ngoài tìm cách lợi dụng vấn đề tôn giáo.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao lực lượng vũ trang Bình Xuyên không xuất phát từ một tôn giáo nhưng vẫn được luận án xếp vào nhóm "lực lượng vũ trang giáo phái"?
Trả lời: Trong cuộc chiến tranh xâm lược Nam Bộ giai đoạn 1945 – 1957, thuật ngữ "lực lượng vũ trang giáo phái" được chính quyền Pháp, Mỹ, Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa sử dụng chung cho cả 4 nhóm (Cao Đài, Hòa Hảo, UMDC, Bình Xuyên). Thực dân Pháp xếp cả 4 nhóm vào lực lượng bổ túc/phụ lực quân (forces supplétives). Đến tháng 3-1955, Bình Xuyên cùng Cao Đài và Hòa Hảo thành lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia để liên minh chống lại Ngô Đình Diệm.
2. Tại sao luận án xác định giới hạn thời gian từ năm 1945 đến năm 1957?
Trả lời: Trước năm 1945, các nhóm vũ trang mới ở dạng bán vũ trang tự phát; từ năm 1945, các nhóm này mới chính thức có tổ chức, biên chế, phiên hiệu và bộ máy chỉ huy hoàn chỉnh. Đến năm 1957, các tổ chức LLVT giáo phái cơ bản giải thể: một bộ phận sáp nhập vào quân đội Sài Gòn, một bộ phận bị tiêu diệt, bộ phận còn lại chuyển hóa thành LLVT cách mạng; Xứ ủy Nam Bộ cũng chủ trương không duy trì danh nghĩa vũ trang giáo phái nữa.
3. Lực lượng vũ trang Thiên Chúa giáo (UMDC) do ai lập ra và hoạt động ở đâu?
Trả lời: Lực lượng này có tên là Đơn vị Tự vệ Lưu động của người Thiên Chúa giáo (Unités Mobiles de Défense des Chrétientés - UMDC), do sĩ quan quân đội Pháp gốc Việt Jean Leroy thành lập và chỉ huy từ năm 1947 đến năm 1953, hoạt động tập trung trên địa bàn tỉnh Bến Tre (phát tích từ huyện Bình Đại) và khu vực lân cận thuộc Khu 8.
4. Nội bộ lực lượng vũ trang Hòa Hảo sau năm 1947 có đặc điểm gì nổi bật?
Trả lời: Sau khi Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ mất tích (1947), Phật giáo Hòa Hảo không có tổ chức giáo hội tập trung và không có người lãnh đạo thống nhất. Lực lượng vũ trang Hòa Hảo phân liệt thành nhiều nhóm mang tính chất cát cứ quân phiệt dưới sự chỉ huy độc lập của các thủ lĩnh: Trần Văn Soái (Năm Lửa), Lê Quang Vinh (Ba Cụt), Nguyễn Giác Ngộ, Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán).
5. Luận án đã sử dụng những nguồn tư liệu giải mật nào của Mỹ?
Trả lời: Tác giả khai thác các hồ sơ được công bố trên website của Bộ Ngoại giao Mỹ (United States Department of State), Cục Tình báo Trung ương (CIA), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Mỹ (National Archives), Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân (Joint Chiefs of Staff) và Trung tâm Lịch sử Quân sự Quân đội Mỹ (U.S. Army Center of Military History).
Kết luận
Luận án Lực lượng vũ trang giáo phái ở Nam Bộ (1945 – 1957) của tác giả Phạm Văn Phương là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo, phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống tiến trình hình thành, tổ chức, hoạt động, phân hóa và tan rã của 4 lực lượng vũ trang giáo phái (Cao Đài Tây Ninh, Hòa Hảo, UMDC Thiên Chúa giáo và Bình Xuyên). Dựa trên phương pháp lịch sử và phê bình sử liệu đa chiều, công trình đã làm sáng tỏ âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng thời phân tích quá trình vận dụng đường lối giáo phái vận của Đảng Lao động Việt Nam để chuyển hóa một bộ phận lực lượng này sang hàng ngũ cách mạng. Luận án đóng góp nguồn sử liệu có giá trị và góc nhìn khách quan đối với một mảng lịch sử quân sự - chính trị đặc thù của chiến trường Nam Bộ trong thế kỷ XX.