Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông của nhà Trần (từ 1258 đến 1288)" do tác giả Lê Sỹ Nguyên Hoàng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Đại tá, Thạc sĩ Hà Mạnh Hùng tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (năm 2017), thuộc chuyên ngành Giáo dục Quốc phòng và An ninh.
Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả trình bày rằng trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn phải đối đầu với các thế lực xâm lược có ưu thế vượt trội về quy mô quân sự và tiềm lực kinh tế. Vào thế kỷ XIII, dưới triều đại nhà Trần, Đại Việt đã trải qua thử thách cam go kéo dài 30 năm (1258 – 1288) trước ba cuộc tiến công xâm lược của đế chế Nguyên – Mông hùng mạnh bậc nhất thế giới đương thời. Dưới sự lãnh đạo của vương triều Trần cùng tài năng chỉ huy của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và các tướng lĩnh, quân dân Đại Việt đã ba lần đánh bại quân xâm lược, bảo vệ vững chắc nền độc lập. Nghiên cứu cuộc kháng chiến này không chỉ nhằm làm rõ cuộc đọ sức vật chất mà còn phân tích cuộc đấu tranh trí tuệ giữa hai nền nghệ thuật quân sự, từ đó đúc kết kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng nền quốc phòng hiện nay.
Mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể:
- Nghiên cứu tình hình kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao của nước Đại Việt trong thời Trần ở thế kỉ XIII.
- Nghiên cứu nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông của nhà Trần (1258 – 1288).
- Rút ra những bài học kinh nghiệm từ việc sử dụng các nghệ thuật quân sự của nhà Trần trong kháng chiến chống quân Nguyên – Mông (1258 – 1288) để áp dụng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc giai đoạn hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông của nhà Trần (1258 – 1288).
- Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ nghệ thuật quân sự thể hiện qua 3 lần kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông (vào các năm 1258, 1285 và 1288) của nước Đại Việt thời nhà Trần.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Công trình được xây dựng trên nền tảng lý luận lịch sử quân sự Việt Nam, kết hợp khảo sát các văn bản, thư tịch cổ và các trước tác quân sự, chính trị thời Trần:
- Khung lý luận và nguồn thư tịch: Tác giả khai thác trực tiếp các bộ chính sử và ghi chép cổ như Đại Việt sử ký toàn thư, An Nam chí lược, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, văn bia chùa Hưng Phúc, cùng các trước tác, nhật ký ngoại giao thời Nguyên như An Nam tức sự (Trần Phu), Đảo di chí lược (Uông Đại Uyên). Hệ thống lý luận quân sự thời Trần gắn liền với tư tưởng chỉ đạo chiến lược trong Hịch tướng sĩ và Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn.
- Phương pháp logic: Dùng để phục dựng các điều kiện hình thành, quá trình phát triển của các sự kiện và hiện tượng quân sự, đặt nghệ thuật quân sự trong mối quan hệ tác động qua lại với các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội thời Trần.
- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu tổng quát các sự kiện, hiện tượng lịch sử theo tiến trình thời gian từ năm 1258 đến 1288, loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên để làm sáng tỏ quy luật vận động, bản chất và tính tất yếu của các thắng lợi quân sự.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Thu thập, đối chiếu và phân tích chọn lọc các tài liệu lịch sử, sách báo chuyên khảo về nghệ thuật đánh giặc của nhà Trần để khái quát hóa thành các bài học kinh nghiệm quân sự mang tính quy luật.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Nước Đại Việt trong thời Trần (thế kỉ XIII)
Chương này tập trung tái hiện toàn diện tiềm lực quốc gia của Đại Việt thế kỷ XIII trên các phương diện chính trị, quân sự, ngoại giao và kinh tế, vốn là cơ sở nền tảng bảo đảm cho thắng lợi quân sự.
- Về chính trị, lập pháp và tổ chức bộ máy: Nhà Trần củng cố nhà nước phong kiến tập quyền dựa trên nền tảng quý tộc tôn thất họ Trần. Nhằm tránh tranh đoạt ngôi báu và rèn luyện kinh nghiệm trị nước cho vua trẻ, nhà Trần thiết lập chế độ Thái thượng hoàng (lui về phủ Thiên Trường/Tức Mặc làm cố vấn tối cao). Tôn thất nắm giữ toàn bộ các vị trí xung yếu ở triều đình và các lộ, được ban thái ấp, lập phủ đệ và chiêu mộ quân đội riêng (thế "duy thành"). Triều đình áp dụng chế độ hôn nhân nội tộc nhằm bảo toàn quyền lực dòng họ. Hệ thống quan lại kết hợp nhiệm tử và khoa cử (mở khoa thi Thái học sinh đầu tiên năm 1232; thi lại viên bạ đầu; áp dụng lệ khảo công 15 năm xét một lần). Hệ thống pháp luật hoàn thiện với việc ban hành Quốc triều thông chế (1230, gồm 20 quyển), Quốc triều hình luật, thành lập Thẩm hình viện và Viện đăng văn kiểm pháp. Năm 1242, đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ.
- Về tổ chức quân đội: Quân đội thời Trần gồm quân chính quy thường trực (cấm quân, thời chiến có thể tăng đến 10 vạn người) và lực lượng địa phương tại các lộ (gồm chính binh ở đồng bằng và phiên binh ở miền núi). Năm 1239 chia ngạch tuyển quân làm ba bậc; năm 1246 biên chế quy củ thành quân Tứ Thiên, Tứ Thánh, Tứ Thần và đoàn đội trạo nhi. Quý tộc còn có lực lượng gia binh, gia đồng. Triều đình duy trì chính sách "ngụ binh ư nông", quán triệt phương châm "quân lính cần tinh nhuệ, không cần nhiều", huấn luyện theo Binh thư yếu lược. Lực lượng tác chiến bao gồm 4 binh chủng: bộ binh, thủy binh, tượng binh và kỵ binh (trong đó thủy binh và tượng binh giữ vai trò đặc biệt lợi hại), vũ khí được bổ sung súng ống bên cạnh gươm, giáo, cung nỏ.
- Chính sách đối ngoại và biên viễn: Đối với các dân tộc thiểu số miền núi, thực hiện chính sách "vừa nhu, vừa cương" (gả công chúa kết thân với tù trưởng kết hợp trấn áp nổi loạn), nhờ đó huy động được sự tham gia của các tù trưởng như Hà Đặc, Nguyễn Thế Lộc. Với Chiêm Thành, giữ quan hệ hòa hiếu qua ngoại giao (như sự kiện gả công chúa Huyền Trân năm 1306 lấy hai châu Ô, Lý) và các hoạt động quân sự phòng thủ phía Nam.
- Về kinh tế: Nông nghiệp phát triển mạnh nhờ đặt chức Hà đê sứ (năm 1248 đắp đê quai vạc Đỉnh Nhĩ từ đầu nguồn ra biển), Đồn điền sứ khuyến khích khai hoang lập điền trang ven biển từ năm 1266, đào kênh Trầm - kênh Hào (1231), khơi sâu sông Tô Lịch (1256). Đất tư hữu mở rộng, thuế ruộng tư nộp 3 thăng thóc/mẫu, thuế nhân đinh lũy tiến bằng tiền (1242). Thủ công nghiệp và ngoại thương phát đạt: các xưởng quan xưởng chế tạo vũ khí, đóng chiến thuyền; nghề dệt, gốm, đúc đồng phát triển; thương cảng Vân Đồn và cửa biển Lạch Trường đón thuyền buôn Trung Quốc, Hồi Hột, Giava, Xiêm cập bến; tiền tệ gồm tiền Tỉnh mạch (69 đồng) và Thượng cung (70 đồng).
Chương 2: Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông (1258 - 1288)
Chương 2 trình bày chi tiết diễn biến ba lần kháng chiến chống giặc ngoại xâm cùng hoạt động đấu tranh ngoại giao xen kẽ:
- Cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1257 – 1258): Tướng Mông Cổ Ngột Lương Hợp Thai dẫn hơn 2 vạn kỵ binh Mông Cổ cùng hơn 2 vạn hàng binh Đại Lý đánh vào biên giới. Vua Trần bắt giam sứ giả, chuẩn bị phòng thủ. Ngày 17/1/1258, trận Bình Lệ Nguyên diễn ra quyết liệt; trước thế giặc mạnh, dũng tướng Lê Tần (Lê Phụ Trần) khuyên vua rút lui chiến lược để tránh "dốc hết túi tiền cho một canh bạc". Ngày 18/1/1258 phá cầu Phù Lỗ, sau đó quân dân thực hiện kế sách "vườn không nhà trống" (thanh dã), bà Trần Thị Dung tổ chức sơ tán hoàng gia về vùng sông Hoàng Giang; Thái sư Trần Thủ Độ kiên định tuyên bố: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo". Quân Mông Cổ chiếm Thăng Long trống rỗng, thiếu lương thảo, bị nhân dân làng Cổ Sở lập chiến hào đánh bại khi đi cướp bóc. Ngày 29/1/1258, vua Trần phản công tại Đông Bộ Đầu; tàn quân giặc tháo chạy về Vân Nam lại bị đội quân miền núi của tù trưởng Hà Bổng tập kích tiêu hao ở Quy Hóa.
- Đấu tranh ngoại giao bền bỉ (1258 – 1284):
- Giai đoạn 1 (1258 – 1279): Hốt Tất Liệt bận nội chiến tranh ngôi Hãn với A-ric Bu-ke và đánh Nam Tống. Nhà Trần cự tuyệt 6 yêu sách ngang ngược năm 1267 (vua vào chầu, nộp con tin, kê biên dân số, chịu quân dịch, nộp tô thuế, đặt chức Đa-ru-ga-tri) bằng lý lẽ mềm dẻo nhưng kiên quyết (lấy cớ phong thổ, không quen cưỡi ngựa, voi đi chậm).
- Giai đoạn 2 (1279 – 1285): Nhà Nguyên diệt Nam Tống, cử Sài Thung sang hống hách đe dọa. Năm 1281, Hốt Tất Liệt lập triều đình bù nhìn Trần Di Ái, sai quân hộ tống về nước nhưng bị quân Trần phục kích bắt gọn. Đạo quân Toa Đô đánh Chiêm Thành (1283) bị quân Chiêm cầm chân tại căn cứ núi Nha Hầu, góp phần làm chậm tiến độ đánh Đại Việt.
- Cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285): Hốt Tất Liệt huy động 50 vạn quân do Thoát Hoan và A Lí Hải Nha chỉ huy. Triều đình Trần triệu tập Hội nghị Bình Than (tháng 11/1282) bàn kế giữ nước, Trần Quốc Toản lập đội quân mang cờ "Phá cường địch, báo hoàng ân", Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ, quân sĩ thích hai chữ "Sát Thát" lên tay. Tháng 1/1285, Thượng hoàng triệu tập Hội nghị Diên Hồng, các bô lão đồng thanh hô "Đánh". Khi giặc tràn sang cuối tháng 1/1285, quân Trần lui binh từ Vạn Kiếp, Thăng Long về Thiên Trường, bảo toàn lực lượng trước hai gọng kìm (Thoát Hoan phía Bắc, Toa Đô từ Chiêm Thành tiến ra phía Nam). Đến tháng 5/1285, quân Trần tổng phản công bẻ gãy gọng kìm giặc tại các trận Hàm Tử, Tây Kết, bến Chương Dương, giải phóng Thăng Long. Toa Đô bị chém đầu, Thoát Hoan chui ống đồng trốn về nước.
- Cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288): Trận quyết chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng (ngày 9/4/1288). Trần Quốc Tuấn chỉ đạo đóng bãi cọc gỗ tại các luồng lạch chỉ trong 20 ngày. Khi đoàn thuyền Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp xuôi dòng, quân Trần khiêu chiến rồi giả vờ rút lui nhử địch vào bãi cọc lúc triều rút. Đạo quân Nguyễn Khoái (quân Thánh Dực) chặn đầu tại Ghềnh Cốc; quân thủy bộ từ Tràng Kênh, Hải Đông, Điền Công tiến công; kết hợp bè lửa hỏa công từ Do Lễ, Phục Lễ, Phả Lễ và cánh quân tiếp viện của hai vua Trần từ Hiệp Môn đánh úp phía sau. Toàn bộ đạo thủy binh giặc bị tiêu diệt, thu hơn 400 chiến thuyền, bắt sống Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ; cánh quân bộ của Thoát Hoan rút chạy qua Nội Bàng, Nữ Nhi, Khâu Cấp bị chặn đánh tan tác.
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| TỔNG HỢP DIỄN BIẾN NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ QUA 3 LẦN KHÁNG CHIẾN |
+------+---------------+------------------+------------------------------+---------------------------+
| Lần | Năm | Lực lượng giặc | Biện pháp chiến lược chính | Trận quyết chiến thắng lợi|
+------+---------------+------------------+------------------------------+---------------------------+
| 1 | 1257 - 1258 | Hơn 4 vạn quân | Rút lui chiến lược, thực hiện| Đông Bộ Đầu, tập kích ở |
| | | (Ngột Lương | "vườn không nhà trống", triệt| Quy Hóa (bắt sống sứ giả, |
| | | Hợp Thai) | lương thảo giặc. | đánh tan đạo kỵ binh). |
+------+---------------+------------------+------------------------------+---------------------------+
| 2 | 1285 | 50 vạn quân | Hội nghị Diên Hồng/Bình Than;| Hàm Tử, Chương Dương, |
| | | (Thoát Hoan, | chia cắt 2 gọng kìm, "lấy sức| Tây Kết, giải phóng đô |
| | | Toa Đô) | nhàn thắng sức mỏi", tâm lý. | thành Thăng Long. |
+------+---------------+------------------+------------------------------+---------------------------+
| 3 | 1287 - 1288 | 30 vạn - 50 vạn | Đánh đoàn thuyền lương Vân | Trận thủy chiến Bạch Đằng |
| | | (Thoát Hoan, | Đồn, bãi cọc ngầm, hỏa công, | (tiêu diệt thủy binh địch,|
| | | Ô Mã Nhi) | hợp đồng thủy bộ bẫy giặc. | phục kích ải Nội Bàng). |
+------+---------------+------------------+------------------------------+---------------------------+
Chương 3: Những nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông xâm lược và bài học kinh nghiệm
Chương này khái quát các quy luật và bài học nghệ thuật quân sự đỉnh cao của nhà Trần:
- Nghệ thuật tạo thế trận "Cử quốc nghênh địch" (cả nước đánh giặc): Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nòng cốt là sự hòa hợp nội bộ triều đình ("vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận"), gương mẫu xả thân của quý tộc (Trần Thủ Độ, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản; Trần Quốc Tuấn gạt bỏ thù nhà vì nghĩa lớn). Huy động toàn dân tham gia kháng chiến từ làng xã (làng chiến đấu Cổ Sở), huy động sức lực nô tỳ gia đồng (Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô) đến các đồng bào, tù trưởng miền núi (Hà Bổng, Hà Đặc, Hà Chương, Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh). Quân đội được xây dựng trên nguyên tắc "phụ tử chi binh" (tướng sĩ thương yêu nhau như cha con).
- Nghệ thuật phản công đánh bại gọng kìm vu hồi chiến lược năm 1285:
- Nắm chắc thời cơ "lấy sức nhàn thắng sức mỏi": Nhận định đạo quân Toa Đô hành quân đường xa từ Chiêm Thành ra Bắc vượt núi trèo đèo, thiếu lương ăn, thời tiết mùa hè nắng gắt dẫn đến kiệt quệ, Bộ thống soái nhà Trần chọn đúng thời điểm địch mệt mỏi nhất để tung quân đón đánh tại bến Hàm Tử và Tây Kết.
- Chặn đánh từng bước, chia cắt không cho hai đạo quân hợp binh: Bố trí các cánh quân chốt giữ địa hình hiểm trở từ Nghệ An ra Thanh Hóa, đẩy Toa Đô vào thế cô lập hoàn toàn với đại quân Thoát Hoan, tiêu hao sinh lực trước khi tiêu diệt gọn.
- Kết hợp đánh vào tinh thần với tiến công quân sự: Tại trận Hàm Tử, Trần Nhật Duật cho Triệu Trung mặc trang phục cờ hiệu nhà Tống xung trận khiến giặc ngỡ quân Tống sang cứu; dùng khẩu hiệu "Sát Thát" ly gián người Hoa trong hàng ngũ quân Nguyên; loan tin Thoát Hoan đã tháo chạy làm sụp đổ ý chí của quân Toa Đô, khiến Tổng quản Trương Hiển phải đầu hàng tại trận Tây Kết.
- Nghệ thuật chỉ đạo chiến thuật: Vận dụng linh hoạt hai nguyên tắc "tập trung binh lực ở hướng chủ yếu" và "tiết kiệm binh lực ở hướng thứ yếu" (bố trí 3 vạn quân của Nguyễn Khoái ở biên giới tiêu hao 30 vạn địch, giữ hơn 9 vạn chủ lực cơ động); thực hiện phòng ngự vận động và chủ động rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng thay vì phòng ngự cố thủ trận địa; khai thác triệt để địa hình, con nước thủy triều và chiến thuật hỏa công.
- Những bài học kinh nghiệm cho giai đoạn hiện nay: Vận dụng vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển nghệ thuật quân sự lấy đoản binh thắng trường trận, lấy ít địch nhiều; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả chính: Công trình hệ thống hóa các cứ liệu lịch sử xác thực về ba cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông. Tác giả đã làm rõ các số liệu thực tế: quân số thường trực thời bình chưa đầy 10 vạn, khi có chiến tranh huy động được 40 vạn quân cùng hơn 100 vạn dân binh để đánh bại đạo quân xâm lược từ 3 vạn đến 50 vạn tên; thu giữ hơn 400 chiến thuyền và bắt sống toàn bộ tướng chỉ huy thủy quân giặc (Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ) trong trận Bạch Đằng 1288.
- Giải pháp và bài học đề xuất: Khóa luận đúc kết các bài học kinh nghiệm về nghệ thuật "cử quốc nghênh địch", nghệ thuật chia cắt và đánh sụp tinh thần đối phương, nghệ thuật chọn thời cơ phản công và rút lui chiến lược. Tác giả kiến nghị vận dụng các bài học này vào việc xây dựng khu vực phòng thủ, phát triển thế trận lòng dân và củng cố lực lượng vũ trang nhân dân trong điều kiện tác chiến bảo vệ chủ quyền hiện nay.
- Đóng góp học thuật: Đề tài đã phân tích nghệ thuật quân sự thời Trần dưới góc nhìn chuyên ngành Giáo dục Quốc phòng và An ninh, kết nối các giá trị lịch sử truyền thống với yêu cầu huấn luyện, giáo dục quốc phòng và tư duy tác chiến hiện đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu tập trung vào không gian và thời gian từ năm 1258 đến năm 1288 trong các chiến dịch chống quân Nguyên – Mông, do đó chưa khảo sát sâu nghệ thuật tác chiến của nhà Trần trong các cuộc xung đột với Chiêm Thành ở nửa sau thế kỷ XIV. Nguồn tư liệu chủ yếu dựa trên thư tịch lịch sử truyền thống và các tài liệu khảo cứu trong nước, chưa tiếp cận sâu các nguồn tài liệu phương Tây so sánh về chiến thuật kỵ binh Mông Cổ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh nghệ thuật quân sự thời Trần với các triều đại Lý, Lê sơ; đào sâu nghiên cứu các giải pháp vận dụng nghệ thuật chiến tranh nhân dân thời Trần vào chiến lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo và phòng thủ tác chiến công nghệ cao hiện nay.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Tài liệu trực tiếp phục vụ sinh viên, giảng viên chuyên ngành Giáo dục Quốc phòng và An ninh, ngành Sư phạm Lịch sử, Lịch sử quân sự và học viên tại các học viện, trường sĩ quan quân đội.
- Phần nội dung giá trị:
- Chương 1 cung cấp cái nhìn chi tiết về chế độ "ngụ binh ư nông", chính sách tổ chức quân đội và cơ cấu bộ máy hành chính nhà Trần.
- Chương 3 là phần trọng tâm có giá trị học thuật cao nhất, phân tích sâu sắc nghệ thuật phản công bẻ gãy gọng kìm vu hồi, chiến thuật đánh vào tâm lý địch kết hợp tác chiến quân sự và bài học xây dựng thế trận "cả nước đánh giặc".
Câu hỏi thường gặp
1. Ai là người đã đưa ra lời khuyên vua Trần Thái Tông tạm rút lui tại trận Bình Lệ Nguyên (1258) để bảo toàn lực lượng?
Trả lời: Dũng tướng kiêm mưu sĩ Lê Tần (tức Lê Phụ Trần) đã khuyên vua Trần tạm lánh để tránh nguy cơ "như người dốc hết túi tiền cho một canh bạc". Lời khuyên này đã giúp quân đội nhà Trần rút lui an toàn về Thăng Long và chuẩn bị kế sách "vườn không nhà trống".
2. Chiến thuật tâm lý đánh bại tinh thần đạo quân Toa Đô tại bến Hàm Tử năm 1285 được thực hiện ra sao?
Trả lời: Tướng quân Trần Nhật Duật đã cho tướng Triệu Trung và binh sĩ mặc quân phục, mang cờ hiệu nhà Tống xung trận khiến quân Nguyên kinh sợ vì ngỡ nhà Tống đã khôi phục và phái quân sang chi viện; đồng thời tung thông điệp "Sát Thát" (chỉ giết giặc Mông Cổ, không giết người Hoa) để phân hóa, làm tan rã tinh thần tướng sĩ đối phương.
3. Trong trận quyết chiến Bạch Đằng năm 1288, chiến thuật hỏa công được chuẩn bị từ các địa điểm nào?
Trả lời: Các bè nứa, thuyền nan chất đầy vật liệu dễ cháy được giấu sẵn ở Tràng Kênh và các làng Do Lễ, Phục Lễ, Phả Lễ; khi thuyền giặc bị dồn ứ trước bãi cọc ngầm lúc triều rút, các đội dân binh đã châm lửa thả xuôi dòng lao thẳng vào đội hình thuyền địch.
4. Quy mô quân số của nhà Trần trong thời bình và khi xảy ra chiến tranh được huy động như thế nào?
Trả lời: Thời bình, quân đội thường trực của nhà Trần chưa đầy 10 vạn quân (chủ yếu là cấm quân và quân các lộ); khi xảy ra chiến tranh, triều đình đã huy động thêm 40 vạn quân và hơn 100 vạn dân binh tham gia phục vụ và phối hợp tác chiến.
5. Sáu yêu sách ngang ngược mà Hốt Tất Liệt đòi hỏi nhà Trần năm 1267 gồm những điểm gì?
Trả lời: Sáu yêu sách gồm: (1) Quân trưởng (Hoàng đế nhà Trần) phải sang chầu; (2) Phải nộp con em sang làm con tin; (3) Kê biên dân số nộp cho Nguyên; (4) Phải chịu nộp quân dịch; (5) Phải nộp tô thuế; (6) Phải chấp nhận cho quan Đa-ru-ga-tri của Mông Cổ đến thống trị.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Sỹ Nguyên Hoàng đã tái hiện chân thực và toàn diện bức tranh lịch sử quân sự Đại Việt thời Trần qua ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông (1258 – 1288). Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic chặt chẽ, công trình đã làm nổi bật nghệ thuật tác chiến đỉnh cao, từ nghệ thuật "cử quốc nghênh địch", rút lui chiến lược, kế sách "vườn không nhà trống" cho đến nghệ thuật phản công bẻ gãy gọng kìm vu hồi và quyết chiến tiêu diệt địch trên sông Bạch Đằng. Đây là công trình tổng kết có giá trị khoa học, góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc cho công tác giáo dục quốc phòng, an ninh và sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong thời đại mới.