phần mở đầu, kết luận, phụ lục và các tài liệu tham khảo, và 3 chương: Chƣơng 1: Nước Đại Việt trong thời Trần (thế kỉ XIII) Chƣơng 2: Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông (1258 - 1288) Chƣơng 3: Những nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược và bài học kinh nghiệm. 3 Downloaded by EBOOKBKMT VMTC (nguyenphihung1009@gmail.com) lOMoARcPSD|2935381 CHƢƠNG 1 NƢỚC ĐẠI VIỆT TRONG THỜI TRẦN (THẾ KỈ XIII) 1. Về vấn đề chính trị, quân sự, ngoại giao 1. Tổ chức chính quyền, lập pháp Họ Trần ra sức củng cố và phát triển nhà nước phong kiến tập quyền.
Tầng lớp quý tộc đóng vai trò đặc biệt quan trọng, tạo nên cái thế như Trần Thánh Tông thường nói: “ Thiên hạ là của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông nên cùng anh em trong họ hưởng phú quý. Tuy bên ngoài là cả thiên hạ phụng sự một người, nhưng bên trong ta cùng các khanh là đồng bào ruột thịt, lo cùng lo, vui cùng vui. Các khanh nên lấy câu nói ấy mà truyền cho con cháu để nhớ lâu đừng quên. Thế là phúc muôn năm của tông miếu xã tắc vậy”[7, tr177] làm điểm tựa vững chắc, đáng tin cậy để xây dựng chính quyền.
Để đảm bảo vững chắc vị trí và khả năng nắm chính quyền trong tay vua, tránh những vụ tranh ngôi trong nội bộ hoàng tộc và cũng để cho vua trẻ điều khiển vững vàng hơn, nhà Trần áp dụng chế độ thái thượng hoàng. Vua cha chỉ làm việc một số năm rồi truyền ngôi cho con, còn bản thân lui về Tức Mặc (thuộc thành phố Nam Định) giữ tư cách cố vấn. Chế độ này được thực hiện trong suốt triều đại nhà Trần. Họ Trần xây dựng Tức Mặc như kinh đô thứ hai, cũng có một số cơ quan văn phòng, giáo dục và kinh tế.
Quyền hành của thái thượng hoàng rất lớn, không chỉ có quyền chỉ định người con kế vị mà khi cần có thể truất bỏ ngôi vua. Chế độ thái thượng hoàng góp phần hạn chế sự độc đoán của nhà vua đương quyền, góp phần củng cố chính quyền quý tộc Trần. Sự liên kết dòng họ nắm chính quyền như một nguyên tắc mà các vua Trần cố gắng thực hiện. Tất cả những chức vị quan trọng trong bộ máy nhà nước đều do tôn thất họ Trần nắm giữ.
Các vương hầu họ Trần, ngoài việc nắm giữ những chức vị trọng yếu ở triều đình, còn được phân phong đi trấn trị các nơi. Vương hầu có quyền lực lớn ở vùng mình trấn trị. Các vương hầu còn được pfhong thái ấp và có phủ đệ riêng. Một đặc quyền khác của vương hầu quý tộc là được chiêu mộ quân đội riêng.
Tất cả những điều đó biểu hiện rằng nhà nước phong kiến thời Trần vẫn còn mang những yếu tố phân tán, nhưng những yếu tố này hoàn toàn bị hạn chế. 4 Downloaded by EBOOKBKMT VMTC (nguyenphihung1009@gmail.com) lOMoARcPSD|2935381 Giữa quý tộc và nhà vua không có mâu thuẫn sâu sắc, trái lại, thế lực tập đoàn nhà Trần càng làm tăng cường thêm sức mạnh của vương triều Trần. Nhà nước có thể huy động quân đội vương hầu lúc cần thiết. Ngô Sĩ Liên đã từng nhận xét: “ Năm Nguyên Phong (niên hiệu đời Trần Thái Tông- T.), giặc Nguyên sang cướp, vương hầu đều đem gia đồng và hương binh, thổ hào sung vào đội quân cần vương; việc biến năm Đạo Định, vương hầu lại đem thôn lại đem dân thôn trang sắm sửa nghi trượng để đón vua mới.
Như thế thì chế độ nhà Trần cũng làm tăng thêm sức mạnh của cái thế “duy thành”“ [8, tr35]. Đúng như lời Ngô Sĩ Liên, tập đoàn quý tộc tôn thất họ Trần quả là bức tường thành bảo vệ ngai vàng vua Trần. Ngoài ra để quyền lợi dòng họ thêm vững vàng, lâu bền, ngoài chế độ kế thừa quyền lợi và quan chức theo họ, nhà Trần còn áp dụng lối kết hôn đồng tộc (người trong họ không được lấy vợ khác họ) ý đồ của các vua Trần là muốn khép kín, không muốn tạo dựng một tập đoàn quý tộc khác ngoài dòng họ của mình. Tuy tầng lớp nắm địa vị cao nhất trong bộ máy nhà nước là quý tộc Trần.
Nhưng bên dưới là cả một bộ máy quan liêu phức tạp từ trung ương tới địa phương thu nhận người thuộc các tầng lớp (là thổ hào, sĩ phu…). Các vua đầu nhà Trần đều ra sức tìm đủ mọi biện pháp để chấn chỉnh bộ máy hành chính địa phương vốn đã gần như bị tê liệt hoàn toàn vào cuối thời Lý. Ở Trung ương gồm các tể tướng, á tướng, tri mật viện sự và hành khiển ở môn hạ sảnh có nhiệm vụ chỉ đạo các quan văn võ do tôn thất họ Trần nắm giữ, bên dưới còn có một tập đoàn quan liêu đông đảo chia làm hai ban văn- võ. Ở triều đình có Thượng thư sảnh gồm sáu bộ: lại, lễ, hộ, binh, hình, công quản lí các công việc: tổ chức bộ máy hành chính, ngoại giao, tín ngưỡng, kinh tế, quân sự, pháp luật và xây dựng cơ bản.
Nhà Trần cũng rất chú ý việc tăng cường các cơ quan thanh tra, giám sát và tòa án. Ngoài các cơ quan trên, nhà Trần còn đặt các cơ quan phụ trách riêng một số công việc như Quốc sử viện biên soạn quốc sử (người phụ trách đầu tiên là bảng nhãn Lê Văn Hưu), Quốc tử viện (còn gọi là Quốc tử giám) giảng dạy các hoàng tử, vương hầu ở Thăng Long và Tức Mặc, Thái y viện trong coi thuốc men, chữa bệnh trong hoàng cung và tông 5 Downloaded by EBOOKBKMT VMTC (nguyenphihung1009@gmail.com) lOMoARcPSD|2935381 nhân phủ theo dõi các hoàng tộc. Nhà Trần đã chia lại các đơn vị hành chính. Năm 1242, đổi 24 lộ thời Lý làm 12 lộ, dưới phủ lộ là các châu, huyện, xã.
Trên hình thức, bộ máy hành chính của nhà Trần không khác bao nhiêu so với thời Lý, nhưng trong thực tế thì có quy cũ và chặt chẽ hơn nhiều. Về phương thức tuyển chọn quan lại, bên cạnh chế độ nhiệm tử vốn đã thịnh hành từ trước. Thời Trần, việc tuyển chọn quan lại bằng khoa cử phát triển hơn thời Lý. Năm 1232, mở khoa thi thái học sinh đầu tiên.
Từ đó về sau, trong vòng mười năm lại mở một khoa. Ngoài ra, để tuyển nhân viên tùy thuộc trong các cơ quan, nhà Trần còn mở các kì thi lại viên. Những người dự thi phải thảo các giấy tờ hành chính, gọi là bạ đầu. Cũng có khi thi bằng phép viết, phép tính.
Chế độ đẳng cấp trong hệ thống quan lại nhà Trần cũng thể hiện rất rõ, những quan lại nào thuộc tầng lớp quý tộc thì được hưởng mọi đặc quyền, đặc lợi, nhưng những quan khác thì chỉ hưởng được một vài chế độ đãi ngộ nhất định mà thôi. Khác với thời Lý, tất cả quan lại thời Trần đều có lương. Lương bổng của quan lại gồm hai khoản, đó là tiền bạc và đất đai. Nhà Trần đã ban cấp nhiều đất đai cho quan liêu và quý tộc, chế độ ban cấp này đã dẫn tới sự mở rộng hình thái điền trang - thái ấp.
Để thăng thưởng và xử phạt quan lại, nhà Trần đã cho áp dụng việc khảo công xét thành tích quan lại để thăng thưởng cũng được quy định cụ thể: Cứ 15 năm xét duyệt một lần, 10 năm thăng tước một tước một cấp và 15 năm thăng chức một bậc, chức quan nào khuyết thì người chánh kiêm chức người phó, nếu chánh phó đều khuyết thì viên chức trên quản lí luôn chờ khi đủ niên hạn sẽ bổ sung. Nhà sử học Phan Huy Chú đã nhận xét về bộ máy quan liêu thời Trần là “ các chức quan trong (ở trung ương), quan ngoài (ở địa phương) lớn nhỏ đều có hệ thống”[8,tr37]. Phương thức nhiệm tử, khoa cử và thủ sĩ đã góp phần quy định bản chất thành phần của chính quyền nhà Trần, một chính quyền mà chủ yếu và chủ chốt là quý tộc họ Trần và sĩ phu Nho học tham gia. Năm 1230, Trần Thái Tông ban hành bộ Quốc triều thông chế (20 quyển) quy định về tổ chức chính quyền.
Sau đó, qua vài lần sửa chữa và bổ sung, nhà Trần lại ban hành bộ Quốc triều hình luật. Cơ quan luật pháp thời Trần cũng được tăng 6 Downloaded by EBOOKBKMT VMTC (nguyenphihung1009@gmail.com) lOMoARcPSD|2935381 cường và hoàn thiện hơn. Ở triều đình có thẩm hình viện chuyên xét xử ngục tụng. Cuối thế kỉ XIII, nhà Trần lại ban hành bộ Quốc triều hình luật và lập viên đăng văn kiểm pháp (gọi tắt là viện kiểm pháp) lấy các đại thần phụ trách.
Việc tuyển chọn quan chức phụ trách hình án lấy tiêu chuẩn thanh liêm, thẳng thắng. Pháp luật thời Trần bảo vệ chính quyền chuyên chế phong kiến, bảo vệ đặc quyền đặc lợi của quý tộc, bảo vệ trật tự đẳng cấp phong kiến, phân biệt rõ rệt quý tộc quan liêu với nhân dân, phân biệt dân tự do với tầng lớp cuối cùng của xã hội là nô tỳ. Pháp luật thời Trần còn phản ánh sự phát triển của tư hữu ruộng đất và bảo vệ quyền lợi vay lãi. Tổ chức quân đội Ngoài việc tổ chức bộ máy nhà nước chặt chẽ để củng cố chính quyền phong kiến tập trung, nhà Trần ngay từ đầu, đã ra sức xây dựng một đội quân hùng mạnh.
Quân chủ lực gồm cấm quân và quân các lộ. Cấm quân cũng tức là quân cấm vệ, là lực lượng vũ trang thường trực, có nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Đế, bảo vệ kinh thành và triều đình trung ương. Cấm quân luôn luôn được tuyển chọn chặt chẽ và kĩ càng. Với thời chiến, tổng số cấm quân có lúc lên đến 10 vạn.
Quân các lộ là lực lượng vũ trang địa phương, có nhiệm vụ bảo vệ chính quyền và trật tự xã hội ở các địa phương. Quân các lộ ở đồng bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là phiên binh. Năm 1239, Trần Thái Tông đã hạ chiếu tuyển trai tráng sung vào quân đội, chia làm ba bậc thượng, trung và hạ. Năm 1241, lại tuyển những người có sức mạnh, am hiểu võ nghệ sung làm thượng đô túc vệ.
Nhưng đến năm 1246 thì quân đội nhà Trần mới tổ chức thật chu đáo, thời điểm quan trọng đánh dấu một bước tiến trong công cuộc xây dựng quân đội, đặc biệt là cấm quân. Mùa xuân năm đó, tuyển những người khỏe mạnh sung vào quân Tứ Thiên, Tứ Thánh, Tứ Thần. Mỗi quân hiệu túc vệ được tuyển chọn trong dân đinh một số lộ nhất định. Còn một số khác sung vào cấm quân trong cấm vệ.
Hạng thứ ba gọi là đoàn đội trạo nhi, tức là đội chèo thuyền, thủy thủ của thuyền trận.