Tổng quan luận án
Công trình khoa học mang tên “Đảng bộ Quân chủng Phòng không - Không quân lãnh đạo chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1965 - 1968 và năm 1972” do nghiên cứu sinh Nguyễn Trung Thông thực hiện, thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận án giải quyết vấn đề lịch sử quân sự và lịch sử lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam.
Về tính cấp thiết, tác giả luận giải rằng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, các thế hệ luôn phải đối phó với những thế lực xâm lược lớn mạnh hơn gấp nhiều lần. Giai đoạn 1965 - 1968 và năm 1972, khi chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ", đưa quân viễn chinh ồ ạt vào miền Nam, đồng thời sử dụng không quân và hải quân mở cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn đối với miền Bắc nhằm đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá, ngăn chặn sự chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Đứng trước tình thế cam go này, Đảng Lao động Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng xây dựng, kiện toàn lực lượng Quân chủng Phòng không - Không quân (PK - KQ) làm lực lượng nòng cốt trên mặt trận đối không. Hiện nay, trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng về xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó ưu tiên hiện đại hóa Quân chủng PK - KQ và tác chiến điện tử để đối phó với nguy cơ tác chiến đường không bằng vũ khí công nghệ cao, việc nghiên cứu có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Quân chủng PK - KQ trong hai giai đoạn chiến tranh phá hoại khốc liệt nhất mang tính cấp thiết cả về mặt học thuật và thực tiễn.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ: mặc dù đã có nhiều công trình lịch sử, văn học, hồi ký và tổng kết chiến dịch phòng không của các cơ quan, đơn vị, song đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào trực tiếp đi sâu nghiên cứu toàn diện và có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân chủng PK - KQ trong việc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc trong cả hai giai đoạn 1965 - 1968 và năm 1972 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ Quân chủng PK - KQ lãnh đạo chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc giai đoạn 1965 - 1968 và năm 1972; trên cơ sở đó đúc rút những kinh nghiệm lịch sử phục vụ cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Quân chủng PK - KQ trong giai đoạn hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
- Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ Quân chủng PK - KQ lãnh đạo chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc giai đoạn 1965 - 1968 và năm 1972.
- Hệ thống hóa, phân tích làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân chủng PK - KQ về chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc giai đoạn 1965 - 1968 và năm 1972.
- Nhận xét và đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ Quân chủng PK - KQ lãnh đạo chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc giai đoạn 1965 - 1968 và năm 1972.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Quân chủng PK - KQ về chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1965 - 1968 và năm 1972.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ trên các bình diện:
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu chủ trương của Đảng bộ Quân chủng PK - KQ (bao gồm phương hướng, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ và giải pháp) và sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng bộ Quân chủng trên 5 nội dung chủ yếu: kiện toàn tổ chức, biên chế; công tác tư tưởng; tổ chức huấn luyện chiến đấu; hiệp đồng, bảo đảm; hoạt động tác chiến. Tác giả lưu ý việc phân chia 5 nội dung chỉ đạo chỉ mang tính chất tương đối do các yếu tố này luôn có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại trong quá trình tác chiến thực tế.
- Phạm vi không gian: Miền Bắc Việt Nam, được xác định theo giới tuyến ranh giới tạm thời từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc căn cứ theo Hiệp định Giơnevơ năm 1954.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu hai mốc lịch sử gồm giai đoạn 1965 - 1968 và năm 1972. Điểm mở đầu là ngày 07-02-1965, thời điểm đế quốc Mỹ chính thức tuyên bố ném bom đánh phá miền Bắc; mốc kết thúc giai đoạn một là ngày 01-11-1968, khi đế quốc Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc. Giai đoạn hai bắt đầu từ ngày 06-4-1972, khi Tổng thống R. Nixon ra lệnh mở chiến dịch Linebacker I ném bom trở lại miền Bắc, kéo dài qua chiến dịch tập kích đường không chiến lược Linebacker II (từ 18-12-1972 đến đêm 29-12-1972), kết thúc vào 7 giờ sáng ngày 30-12-1972 khi chính quyền Mỹ tuyên bố chấm dứt cuộc tập kích và ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra để quay lại bàn đàm phán Hiệp định Paris. Bên cạnh đó, luận án có đề cập đến một số nội dung trước và sau các mốc thời gian này để đảm bảo tính liên tục và hệ thống của tiến trình lịch sử.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành khảo cứu, tổng quan khối lượng lớn tài liệu khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án, phân chia thành các nhóm công trình nghiên cứu chính:
Nhóm nghiên cứu của các tác giả nước ngoài phản ánh cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc dưới nhiều góc nhìn:
- George McTurnan Kahin và John Wilson Lewis (1967) với công trình The US in Vietnam (Mỹ ở Việt Nam) đã tái hiện quá trình can thiệp của Mỹ, phân tích âm mưu sử dụng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc, đồng thời chỉ ra rằng các cuộc ném bom không làm nao núng tinh thần dân chúng mà ngược lại đã kích thích, hun đúc khối đoàn kết dân tộc Việt Nam.
- John M. Van Dyke (1972) trong cuốn North Vietnam's strategy for survival (Chiến lược của Bắc Việt Nam vì sự sống sót) đã đi sâu phân tích nguyên nhân giúp nhân dân miền Bắc đứng vững trước hàng ngàn tấn bom đạn giai đoạn 1965 - 1968, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và nỗ lực phi thường trong vừa sản xuất vừa chiến đấu chi viện miền Nam.
- A. Amter Joseph phân tích âm mưu của các đời Tổng thống Mỹ, vạch trần việc ngụy tạo “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” dưới thời B. Johnson và những toan tính quân sự, ngoại giao nước lớn của chính quyền R. Nixon nhằm tìm kiếm một lối thoát danh dự nhưng thực chất lại leo thang chiến tranh tàn khốc.
- Tác phẩm tổng hợp Chiến tranh Việt Nam là thế đó (1965 - 1973) xuất bản năm 2008 gồm 29 bài viết của các chuyên gia quân sự Liên Xô từng trực tiếp công tác tại Việt Nam. Đáng chú ý là bài viết của Trung tướng Vôrôbiép M. về quá trình cùng bộ đội PK - KQ Việt Nam cải tiến bộ khí tài tên lửa phòng không XA-75 (Đvina) nhằm khắc phục tình trạng bị đối phương gây nhiễu và sử dụng tên lửa Shrike đánh phá trận địa radar.
- Các tài liệu quân sự nước ngoài cũng chỉ ra tổn thất của phía Mỹ với 46.370 quân nhân tử trận và chi phí chiến tranh ước tính khoảng 145 tỷ USD (theo thời giá năm 1974); đồng thời phân tích nguyên nhân B-52 bị hạ gục năm 1972 do diện tích phản xạ hiệu dụng quá lớn, bị radar Việt Nam bắt được mục tiêu bất chấp thủ đoạn đối phó điện tử và ảnh hưởng của tốc độ gió làm giảm tốc độ bay.
Nhóm nghiên cứu của các tác giả trong nước được tác giả hệ thống thành ba cụm công trình:
- Các công trình nghiên cứu chung về chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại: Bộ sách 2 tập Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1982, 1983) của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam khái quát toàn diện diễn biến và đúc kết 9 bài học kinh nghiệm chỉ đạo; công trình của Bộ Tổng Tham mưu (2001) về lực lượng phòng không địa phương (1954 - 1972) đúc kết 4 bài học kinh nghiệm; luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Chinh (2014) về quân và dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai (1972 - 1973) rút ra 3 kinh nghiệm; bài viết của Thượng tướng Lê Huy Vịnh (2017) khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không".
- Các công trình nghiên cứu tại các vùng, địa phương: Các luận án và đề tài khoa học nghiên cứu sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phương như Đồng Xuân Quách (1996) tại Vĩnh Linh; Ban Chỉ đạo Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long và Bộ Tư lệnh Thủ đô (2002) tại Hà Nội; Mai Xuân Toàn (2017) tại Quảng Bình; Phạm Thị Mai Trang (2021) về Đảng bộ Hải Phòng lãnh đạo bảo đảm giao thông vận tải; Lê Đức Thắng (2023) về Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa; công trình của Nguyễn Thị Huệ Chi (2014) về hoạt động của Hải quân nhân dân Việt Nam tại vùng sông biển miền Bắc.
- Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về Quân chủng PK - KQ: Cuốn tổng kết của Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không (1992) đúc kết 6 bài học kinh nghiệm; cuốn Tổng kết nghệ thuật chiến dịch phòng không trong chiến tranh chống Mỹ (2006) đúc kết 10 bài học; bộ sách Lịch sử Quân chủng Phòng không - Không quân (1963 - 2013) quyển một (2012); Lịch sử Đảng bộ Quân chủng Phòng không - Không quân, tập 1 (1963 - 1977) xuất bản năm 2014; công trình Những trận không chiến trên bầu trời Việt Nam (1965 - 1975) nhìn từ hai phía của Nguyễn Sỹ Hưng và các cộng sự (2013); các công trình tổng kết tác chiến năm 1967 và tổng kết công tác đảng, công tác chính trị của Quân chủng giai đoạn 1965 - 1975 (2016); nghiên cứu của Nguyễn Hữu Chí (2017) về bảo đảm hậu cần năm 1972; hai kỷ yếu hội thảo khoa học quy mô lớn năm 2022 nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" do Bộ Quốc phòng phối hợp cùng các ban ngành tổ chức và của Học viện Chính trị, nổi bật có bài viết của Vũ Tang Bồng trích lời Chính ủy Hoàng Phương về quá trình chuẩn bị 11 phương án đánh B-52 từ năm 1968 và bài viết của Trung tướng Phạm Tuân về bản lĩnh chính trị của phi công tiêm kích.
Về khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình đã công bố cung cấp bức tranh phong phú về cuộc chiến đấu của quân và dân miền Bắc, song các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ khoa học quân sự thuần túy, nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật của từng lực lượng hoặc tổng kết lịch sử đảng bộ địa phương theo địa bàn hành chính. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp, độc lập và có hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân chủng PK - KQ trên cả hai giai đoạn 1965 - 1968 và năm 1972 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, làm rõ sự chuyển hóa từ đường lối của Trung ương Đảng thành chủ trương và sự chỉ đạo thực tiễn của một đảng bộ quân chủng chiến đấu kỹ thuật cao.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, đề tài dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh và quân đội, học thuyết về chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và quan điểm lịch sử cụ thể của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Về cơ sở thực tiễn, luận án dựa vào quá trình Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương cùng với Đảng bộ Quân chủng PK - KQ trực tiếp lãnh đạo cán bộ, chiến sĩ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc trong hai giai đoạn lịch sử cụ thể. Quá trình này được lưu giữ, phản ánh chân thực trong hệ thống văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; hệ thống nghị quyết, chỉ thị của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân chủng PK - KQ; báo cáo tổng kết, biên bản hội nghị của các cơ quan chức năng (Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần) và các đơn vị chiến đấu trực thuộc Quân chủng; kết hợp với các công trình khoa học, tư liệu hồi ức của các nhân chứng lịch sử trong và ngoài nước.
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài áp dụng các phương pháp đặc trưng của khoa học lịch sử:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp chủ đạo, được kết hợp chặt chẽ trong toàn bộ công trình. Phương pháp lịch sử được sử dụng để tái hiện chân thực tiến trình lịch sử, sự biến đổi của bối cảnh chiến trường và quá trình hình thành, bổ sung các chủ trương, chỉ đạo của Đảng bộ Quân chủng từ tháng 02-1965 đến tháng 11-1968 và từ tháng 4 đến tháng 12-1972 theo đúng trình tự thời gian khách quan. Phương pháp logic được sử dụng để khái quát hóa bản chất các sự kiện, xâu chuỗi sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân chủng, phân tích các mối quan hệ nhân quả, chỉ ra các quy luật tác chiến phòng không, từ đó rút ra các ưu điểm, hạn chế và đúc kết những bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn.
- Bên cạnh đó, luận án kết hợp các phương pháp bổ trợ như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê tư liệu và phương pháp tham vấn chuyên gia lịch sử quân sự nhằm xác thực dữ liệu, đối chiếu số liệu tác chiến và đánh giá khách quan các quyết sách lãnh đạo trong những tình huống lịch sử cụ thể.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này dành cho việc hệ thống hóa và khảo cứu toàn diện tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ và sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân chủng PK - KQ. Tác giả phân tích sâu sắc những thành tựu của các công trình đi trước trên ba bình diện: nguồn tư liệu lưu trữ, cách tiếp cận đa ngành và các nội dung cốt lõi đã được làm sáng tỏ. Đồng thời, chương 1 luận chứng xác đáng về khoảng trống nghiên cứu, khẳng định việc đề tài đi sâu làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Quân chủng PK - KQ giai đoạn 1965 - 1968 và năm 1972 là hoàn toàn độc lập, không trùng lặp và xác định rõ 4 nội dung trọng tâm cần giải quyết.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân chủng Phòng không - Không quân về chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc (1965 - 1968)
Nội dung chương 2 làm sáng tỏ các yếu tố tác động, quá trình hình thành chủ trương và sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng bộ Quân chủng PK - KQ trong cuộc đụng đầu lịch sử kéo dài gần 4 năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất:
Về yếu tố tác động:
- Bối cảnh quốc tế: Sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa, tốc độ tăng trưởng công nghiệp Liên Xô đạt 9,3%/năm (so với mức 3,6% của Mỹ), sự viện trợ to lớn về vũ khí, trang bị kỹ thuật của Liên Xô và Trung Quốc cho Việt Nam.
- Bối cảnh trong nước: Chủ trương chiến lược của Đảng thể hiện qua Chỉ thị 81-CT/TW ngày 07-8-1964 của Bộ Chính trị; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (tháng 3-1965); Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (tháng 12-1965); Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh (17-7-1966) khẳng định "Không có gì quý hơn độc lập, tự do"; Nghị quyết số 175-NQ/TW ngày 01-3-1968 của Bộ Chính trị với khẩu hiệu "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Cùng với đó là các chỉ đạo sâu sát của Quân ủy Trung ương qua Nghị quyết số 145/QUTƯ (19-11-1964), Nhận định ngày 25-3-1965 đặt quân đội vào trạng thái thời chiến và Nghị quyết số 03/QUTW (29-5-1968).
- Âm mưu, thủ đoạn của địch: Đế quốc Mỹ tiến hành đánh phá qua 4 giai đoạn leo thang với tính chất và quy mô ác liệt tăng dần. Tác giả tổng hợp số liệu thực tế về cường độ đánh phá của không quân Mỹ giai đoạn 1965 - 1968:
| Giai đoạn / Năm |
Quy mô, số lượt xuất kích của máy bay địch |
Hoạt động của máy bay chiến lược B-52 |
| Năm 1965 |
26.000 lần chiếc đánh phá các mục tiêu giao thông, quân sự |
Chưa ghi nhận đánh phá ra miền Bắc |
| Năm 1966 |
148.000 lần chiếc (cường độ xuất kích gấp trên 4 lần năm 1965) |
90 lần chiếc |
| Năm 1967 |
Leo thang đánh phá các yếu địa lớn: Hà Nội, Hải Phòng, khu công nghiệp |
1.376 lần chiếc (gấp hơn 14 lần năm 1966) |
| Năm 1968 |
Rút về đánh phá tập trung từ vĩ tuyến 20 trở vào; trung bình 120 - 180 lần chiếc/ngày |
Tiếp tục gia tăng cường độ đánh phá các tọa độ lửa Quân khu 4 |
| Tổng kết 1965 - 1968 |
189.708 trận đánh phá, thả trên 700.000 tấn bom đạn xuống miền Bắc |
2.828 lần chiếc B-52 xuất kích đánh phá |
- Thực lực Quân chủng PK - KQ: Thành lập ngày 22-10-1963 theo Quyết định số 50/QĐ của Bộ Quốc phòng, Đảng bộ thành lập ngày 09-01-1964 (Đại tá Phùng Thế Tài làm Tư lệnh, Đại tá Đặng Tính làm Chính ủy). Khi bước vào kháng chiến, Quân chủng có 3 lực lượng gồm: Pháo cao xạ (11 trung đoàn và 2 tiểu đoàn độc lập với 72 đại đội); Radar (3 trung đoàn 290, 291, 292 gồm 18 đại đội trinh sát với 26 máy radar và 3 đại đội quan sát mắt); Không quân (Trung đoàn vận tải 919, Trung đoàn huấn luyện 910 và Trung đoàn tiêm kích 921). Tác giả chỉ rõ bên cạnh tinh thần quyết tâm cao, Quân chủng gặp khó khăn lớn về trang bị lạc hậu, hạn chế số lượng, trình độ kỹ chiến thuật chưa đồng đều và tâm lý e ngại vũ khí kỹ thuật tối tân của đối phương.
Về chủ trương của Đảng bộ Quân chủng:
Được cụ thể hóa qua hàng loạt nghị quyết chuyên đề: Nghị quyết số 35/A1 (23-01-1965), Nghị quyết số 1475/A1 (25-5-1965), Nghị quyết số 503/C3 (12-8-1965), Nghị quyết số 185/ĐU (06-4-1967) và Nghị quyết số 206/ĐU (08-4-1968). Chủ trương tập trung vào 4 mục tiêu yêu cầu cốt lõi: xây dựng ý chí quyết đánh và quyết thắng; nâng cao chất lượng toàn diện của bộ đội; chủ động nghiên cứu nắm chắc quy luật hoạt động của địch; luôn cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết bảo vệ các mục tiêu giao thông và yếu địa Hà Nội, Hải Phòng.
Về sự chỉ đạo:
Đảng ủy chỉ đạo thực hiện phương châm "vừa chiến đấu, vừa xây dựng, có trang bị gì tổ chức đơn vị nấy, trang bị nhập vào đến đâu tổ chức đến đấy"; kiện toàn biên chế cơ quan Bộ Tư lệnh theo hướng tinh gọn, tăng cường cho các đơn vị chiến đấu; bổ sung pháo thủ lên đủ biên chế 7 người/khẩu đội cao xạ; tăng cường công tác tư tưởng xóa bỏ tâm lý hoài nghi, cầu an; chỉ đạo tổ chức lực lượng cơ động đón lõng máy bay địch và phối hợp tác chiến phòng không ba thứ quân.
Chương 3: Sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân chủng Phòng không - Không quân về chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc năm 1972
Chương 3 tái hiện sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân chủng trong bối cảnh cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của chính quyền R. Nixon với hai đỉnh cao là chiến dịch Linebacker I và cuộc tập kích chiến lược đường không Linebacker II (tháng 12-1972):
Về chuẩn bị chiến lược và cải tiến kỹ thuật:
- Luận án cung cấp dữ liệu lịch sử quan trọng: Kế hoạch đánh máy bay B-52 bảo vệ Hà Nội không phải hình thành bị động mà đã được Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân chủng khởi thảo từ ngày 27-02-1968. Qua thực tế chiến trường và nhiều lần điều chỉnh, phương án tác chiến cuối cùng là phương án thứ 11, được Thượng tướng Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng phê chuẩn ngày 24-11-1972.
- Sự cải tiến kỹ thuật tên lửa: Trước tình hình không quân Mỹ sử dụng nhiễu điện tử dày đặc khiến hiệu suất tên lửa bị suy giảm (năm 1965 chỉ tiêu hao 1 - 2 quả tên lửa/máy bay rơi, đến năm 1966 tăng lên 3 - 4 quả, đỉnh điểm ngày 16-12-1967 phóng 29 quả đạn chỉ rơi 2 máy bay và 11 quả bị mất điều khiển), Bộ đội Phòng không cùng chuyên gia quân sự Liên Xô đã cải tiến radar, nâng cấp hệ thống chống nhiễu rãnh đạn và rãnh mục tiêu của đạn Đvina (XA-75). Nhờ đó, trong năm 1972, hiệu suất chiến đấu được nâng cao rõ rệt: toàn lực lượng tên lửa thực hiện 1.155 lần phóng, tiêu hao 2.059 quả đạn, bắn hạ 421 máy bay các loại (mức tiêu hao trung bình đạt 4,9 quả tên lửa cho một mục tiêu).
Chủ trương và chỉ đạo tác chiến chiến dịch:
- Đảng ủy Quân chủng xác định rõ quyết tâm: Hà Nội là chiến trường quyết định nhất, thắng lợi trên bàn đàm phán Paris phụ thuộc vào kết quả tác chiến trên bầu trời Hà Nội; lực lượng nòng cốt tiêu diệt B-52 là Tên lửa và Không quân, trong đó Tên lửa giữ vai trò chủ yếu nhất.
- Đảng ủy ra chỉ thị nghiêm ngặt: Trong điều kiện khí tài tiêu hao và đạn dược có hạn, các đơn vị tên lửa phải tiết kiệm đạn tối đa, tập trung đạn tên lửa chuyên biệt để đánh B-52; phát huy tinh thần "vạch nhiễu tìm thù" của bộ đội radar và trắc thủ tên lửa. Kết quả thực tế sau chiến dịch Linebacker II, các đơn vị vẫn bảo toàn dự trữ đạn chiến đấu, đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích đường không chiến lược, buộc chính quyền Nixon phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra vào sáng 30-12-1972 và chấp nhận ký Hiệp định Paris.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm từ sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân chủng Phòng không - Không quân trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc giai đoạn 1965 - 1968 và năm 1972
Chương 4 tổng kết, đánh giá khoa học và đúc rút bài học lịch sử:
Về nhận xét:
- Ưu điểm: Đảng bộ Quân chủng luôn quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng; sớm nhận định, đánh giá đúng âm mưu của địch; chỉ đạo linh hoạt việc chuyển hướng tổ chức biên chế, phát huy hiệu quả kỹ chiến thuật vũ khí; làm tốt công tác chính trị tư tưởng, xây dựng ý chí quyết đánh, dám đánh và quyết thắng; chỉ đạo chỉ huy tập trung, hiệp đồng chặt chẽ giữa các binh chủng cao xạ, tên lửa, không quân, radar.
- Hạn chế và nguyên nhân: Trong giai đoạn đầu năm 1965, việc bố trí thế trận phòng không có lúc còn phân tán, chưa tập trung bảo vệ vững chắc một số mục tiêu trọng yếu; trình độ xử lý tình huống đánh mục tiêu phản lực bay thấp, cơ động phức tạp của một số phân đội cao xạ còn lúng túng; công tác bảo đảm kỹ thuật, vật tư thay thế chưa theo kịp tốc độ tác chiến căng thẳng; một số cán bộ, chiến sĩ thời gian đầu có biểu hiện dao động, quá e ngại vũ khí kỹ thuật hiện đại của đối phương. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc Quân chủng mới được thành lập, kinh nghiệm chỉ huy tác chiến quy mô lớn với vũ khí hiện đại chưa nhiều trong khi đối phương liên tục thay đổi thủ đoạn kỹ thuật và chiến thuật tác chiến điện tử.
Về kinh nghiệm:
Luận án đúc kết 4 bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc:
- Thường xuyên quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quân sự của Đảng, làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng bản lĩnh kiên định và ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội PK - KQ trong mọi tình huống hiểm nghèo.
- Chủ động nắm chắc âm mưu, quy luật tác chiến của địch, đi trước một bước trong công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược; chủ động xây dựng và hoàn thiện các phương án tác chiến phòng không từ sớm, từ xa.
- Chú trọng xây dựng lực lượng Quân chủng vững mạnh toàn diện, lấy nâng cao chất lượng huấn luyện làm trọng tâm; phát huy vai trò nòng cốt của Quân chủng PK - KQ trong thế trận phòng không ba thứ quân và thế trận chiến tranh nhân dân trên mặt trận đối không.
- Coi trọng công tác bảo đảm kỹ thuật, hậu cần, tích cực nghiên cứu cải tiến vũ khí trang bị kỹ thuật phù hợp với cách đánh của Việt Nam; phát huy trí tuệ tập thể, tính sáng tạo của bộ đội trong làm chủ vũ khí trang bị hiện đại để đánh thắng đối phương có ưu thế vượt trội về công nghệ.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã tự công bố các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn như sau:
- Thứ nhất, cung cấp một hệ thống tư liệu lịch sử phong phú, cập nhật và có độ tin cậy khoa học cao về toàn bộ quá trình Đảng bộ Quân chủng PK - KQ lãnh đạo chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc qua hai giai đoạn 1965 - 1968 và năm 1972.
- Thứ hai, góp phần phục dựng chân thực, làm sâu sắc thêm lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; làm rõ cơ chế Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và đối với một quân chủng kỹ thuật hiện đại như PK - KQ nói riêng.
- Thứ ba, làm sáng tỏ các ưu điểm, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân lịch sử, đúc kết hệ thống bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ Quân chủng.
- Về kiến nghị, giải pháp: Luận án cung cấp các luận cứ khoa học để vận dụng vào công tác xây dựng Quân chủng PK - KQ cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện, đổi mới phương thức tác chiến phòng không, phát triển thế trận phòng không nhân dân bảo vệ vững chắc bầu trời Tổ quốc trong điều kiện đối phương sử dụng vũ khí công nghệ cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế: Công trình giới hạn phạm vi nghiên cứu về mặt không gian trên địa bàn miền Bắc (từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc) và tập trung vào hai mốc thời gian cao điểm (1965 - 1968 và năm 1972). Do đó, sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân chủng đối với các lực lượng PK - KQ trực tiếp tham gia chiến đấu trên chiến trường miền Nam, chiến trường Trung - Hạ Lào và bảo vệ tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn (Đoàn 559) chỉ được đề cập khái quát, chưa đi sâu phân tích toàn diện. Đồng thời, khoảng thời gian Mỹ tạm ngừng ném bom từ cuối năm 1968 đến đầu năm 1972 chủ yếu được trình bày dưới dạng bối cảnh chuyển tiếp.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân chủng PK - KQ trên toàn bộ chiến trường ba nước Đông Dương trong kháng chiến chống Mỹ.
- Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về sự lãnh đạo của Đảng đối với từng lực lượng, binh chủng chuyên ngành (Binh chủng Tên lửa, Binh chủng Không quân tiêm kích, Binh chủng Radar, Binh chủng Pháo cao xạ).
- Khai thác chuyên sâu hơn nữa công tác tác chiến điện tử và cải tiến vũ khí trang bị kỹ thuật dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân chủng trong chiến tranh công nghệ cao.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Quân sự Việt Nam: Luận án cung cấp phương pháp tiếp cận khoa học, hệ thống tư liệu văn kiện nội bộ có độ xác thực cao và góc nhìn chuyên sâu về sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội.
- Đối với giảng viên các học viện, nhà trường quân đội: Công trình là tài liệu phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy các môn học Lịch sử Đảng, Nghệ thuật quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân chủng PK - KQ.
- Đối với cấp ủy, chỉ huy, cán bộ tham mưu tác chiến, chính trị trong Quân chủng PK - KQ và Bộ Quốc phòng: Các kinh nghiệm về xây dựng phương án tác chiến đánh B-52 từ năm 1968, công tác tổ chức lực lượng cơ động, giải quyết tư tưởng bộ đội trước vũ khí công nghệ cao và cải tiến khí tài chống nhiễu có giá trị thực tiễn trực tiếp để nghiên cứu, vận dụng vào việc nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ bầu trời hiện nay.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu tổ chức biên chế ban đầu của Quân chủng Phòng không - Không quân khi thành lập ngày 22-10-1963 gồm những thành phần nào?
Theo Quyết định số 50/QĐ của Bộ Quốc phòng, Quân chủng PK - KQ được thành lập trên cơ sở hợp nhất Bộ Tư lệnh Phòng không và Cục Không quân, gồm 3 lực lượng chính:
- Lực lượng Pháo cao xạ: 11 trung đoàn (220, 230, 240, 250, 260, 210, 280, 234, 218, 224, 228) và 2 tiểu đoàn độc lập (217, 270), với tổng số 72 đại đội pháo.
- Lực lượng Radar: 3 trung đoàn (290, 291, 292), tổng số 18 đại đội trang bị 26 máy radar cùng 3 đại đội quan sát mắt.
- Lực lượng Không quân: Gồm Trung đoàn không quân vận tải 919, Trung đoàn huấn luyện 910 và Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (có 3 đại đội MiG-17 đang huấn luyện ở nước ngoài).
- Khối cơ quan trực thuộc: Cục Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần, Tiểu đoàn thông tin 26 và Tiểu đoàn công binh 93.
2. Quy mô đánh phá của không quân Mỹ và số lượng bom đạn trút xuống miền Bắc giai đoạn 1965 - 1968 được tác giả thống kê cụ thể ra sao?
Trong gần 4 năm tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc (1965 - 1968), không quân Mỹ đã thực hiện tổng cộng 189.708 trận đánh phá vào tất cả các hệ thống mục tiêu, trút xuống trên 700.000 tấn bom đạn. Riêng máy bay ném bom chiến lược B-52: năm 1966 xuất kích 90 lần chiếc; năm 1967 tăng lên 1.376 lần chiếc (gấp hơn 14 lần năm 1966); tổng số lần chiếc B-52 sử dụng trong cả giai đoạn 1965 - 1968 là 2.828 lần chiếc.
3. Quá trình chuẩn bị phương án tác chiến đánh trả máy bay chiến lược B-52 của Quân chủng Phòng không - Không quân được triển khai từ thời điểm nào?
Theo tài liệu lịch sử và chứng thực từ Chính ủy Hoàng Phương, kế hoạch đầu tiên nhằm đánh trả cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội đã được Quân chủng hình thành từ ngày 27-02-1968. Kế hoạch này liên tục được bổ sung qua thực tiễn chiến đấu suốt 4 năm, trải qua nhiều lần hiệu chỉnh và phương án tác chiến hoàn chỉnh cuối cùng là phương án thứ 11, được Thượng tướng Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng chính thức phê chuẩn ngày 24-11-1972 trước khi chiến dịch Linebacker II diễn ra.
4. Hiệu suất tác chiến của hệ thống tên lửa Đvina (XA-75) thay đổi như thế nào sau khi được cải tiến kỹ thuật chống nhiễu?
Năm 1965, bộ đội tên lửa tiêu hao 1 - 2 quả đạn để bắn rơi một máy bay Mỹ. Đến năm 1966, mức tiêu hao tăng lên 3 - 4 quả đạn; đỉnh điểm ngày 16-12-1967 bắn 29 quả đạn chỉ rơi 2 máy bay, có 11 quả bị mất điều khiển. Sau khi được cán bộ kỹ thuật Việt Nam và chuyên gia Liên Xô nghiên cứu cải tiến radar, nâng cấp chống nhiễu rãnh đạn và rãnh mục tiêu, khí tài đã nâng cao rõ rệt độ tin cậy. Năm 1972, toàn lực lượng tên lửa phóng 1.155 lần, tiêu hao 2.059 quả đạn, bắn hạ 421 máy bay Mỹ, đạt mức tiêu hao bình quân 4,9 quả đạn cho một mục tiêu trong điều kiện không quân Mỹ gây nhiễu điện tử ở cấp độ cực kỳ phức tạp.
5. Những nguyên nhân kỹ thuật và tác chiến nào dẫn đến việc pháo đài bay B-52 bị tiêu diệt trên bầu trời Hà Nội năm 1972?
Văn bản luận án dẫn chứng các tài liệu quân sự chỉ ra 3 nguyên nhân cốt lõi:
- Thứ nhất, hệ thống radar của lực lượng phòng không miền Bắc đã cải tiến thành công các biện pháp kỹ thuật chống nhiễu, phân biệt được tín hiệu mục tiêu thật trong dải nhiễu dày đặc của địch.
- Thứ hai, diện tích phản xạ hiệu dụng của máy bay ném bom hạng nặng B-52 quá lớn, tạo điều kiện cho các đài radar trinh sát và dẫn đường bám sát mục tiêu.
- Thứ ba, tốc độ gió trên tầng cao thời điểm đó quá lớn đã làm giảm tốc độ di chuyển thực tế của máy bay B-52, khiến chúng dễ bị hỏa lực tên lửa phòng không đón lõng và tiêu diệt.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Trung Thông là công trình khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân chủng PK - KQ trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc qua hai giai đoạn 1965 - 1968 và năm 1972. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp logic và nguồn tư liệu lưu trữ xác thực, công trình đã làm sáng rõ quá trình chuyển hóa đường lối chiến lược của Đảng thành các chủ trương, biện pháp chỉ đạo cụ thể trên các mặt công tác tư tưởng, tổ chức biên chế, kỹ thuật và tác chiến. Tác giả đã tổng kết khách quan những ưu điểm, chỉ rõ hạn chế, nguyên nhân và đúc kết 4 bài học kinh nghiệm sâu sắc từ thực tiễn lịch sử. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực, cung cấp cơ sở khoa học cho công tác nghiên cứu lịch sử quân sự và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng Quân chủng PK - KQ hiện đại, bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng trời Tổ quốc trong tình hình mới.