Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài George McTurnan Kahin and John Wilson Lewis (1967), The US in Vietnam (Mỹ ở Việt Nam) [219]. Cuốn sách đã tái hiện một cách chi tiết quá trình Mỹ can thiệp vào cuộc chiến tranh Việt Nam; đồng thời, chỉ rõ âm mưu, thủ đoạn và mục đích của nhà cầm quyền Mỹ khi quyết định sử dụng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam.
Nghiên cứu về quá trình chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của nhân dân miền Bắc Việt Nam, các tác giả nhận thấy: “những cuộc ném bom của Mỹ không làm nao núng và khủng bố tinh thần dân chúng mà đã kích thích và hun đúc họ. Ngay từ lúc quả bom đầu tiên rơi xuống miền Bắc Việt Nam, đất nước này đã kết lại thành một khối không gì lay chuyển được” [219, tr. Từ đó, các tác giả đưa ra dự báo: nếu Mỹ tiếp tục mở rộng chiến tranh ra miền Bắc sẽ vấp phải cuộc phản công liên tục của một quân đội chính quy, quả cảm và một quốc gia toàn du kích, buộc Mỹ cuối cùng phải rút lui. Cuốn sách đã phơi bày sự thật về cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc Việt Nam của đế quốc Mỹ được chuẩn bị, bắt đầu và lan rộng như thế nào; về những luận điệu tuyên truyền lừa bịp, gian dối, “giả nhân, giả nghĩa” của giới cầm quyền Mỹ, đó là: “Mỹ đang giữ gìn hòa bình ở châu Á và sẽ tôn trọng Hiệp định Giơnevơ.
“vụ Vịnh Bắc Bộ” là “sự tấn công vô duyên của những người cộng sản”. những đợt “tạm ngừng” ném bom nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là do Mỹ mong muốn tìm con đường đi tới hòa bình” [156, tr. John M Van Dyke (1972), North Vietnam's strategy for survival (Chiến lược của Bắc Việt Nam vì sự sống sót) [217]. Nội dung cuốn sách đã phác họa chi tiết và luận giải một cách sâu sắc vì sao nhân dân Bắc Việt Nam có thể sống sót và chịu đựng được hàng nghìn tấn bom, đạn mà Mỹ đã thả xuống 13 miền Bắc Việt Nam trong những năm 1965 - 1968.
Để trả lời cho câu hỏi trên, tác giả đã đi sâu phân tích và chỉ rõ: chính sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, cùng những nỗ lực của quân và dân miền Bắc trong lao động, sản xuất, đã giúp nhân dân miền Bắc vượt qua những khó khăn, thử thách; đồng thời, chi viện đắc lực sức người, sức của cho miền Nam. Cuốn sách phản ánh xung quanh vấn đề Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh Việt Nam và quá trình sử dụng không quân, hải quân leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam; đồng thời làm rõ: vì sao đến năm 1973, Mỹ mới rút quân khỏi miền Nam Việt Nam mà không phải năm 1969 (sau khi Mỹ đã thất bại trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1965 - 1968). Theo luận giải của các tác giả, sở dĩ chính quyền R.Nixon luôn “cố chấp” kéo dài cuộc chiến là do quân đội Mỹ và đồng minh đang bị “mắc kẹt” ở miền Nam Việt Nam. Để cứu vãn sự sụp đổ của quân ngụy ở miền Nam Việt Nam, chính quyền R.Nixon đã huy động một lực lượng lớn máy bay, tàu chiến ồ ạt đánh phá miền Bắc Việt Nam.
Với tuyên bố thực hiện cái gọi là “hành động quân sự có tính chất quyết định”, chính quyền Mỹ hy vọng sẽ giành được thắng lợi quyết định trên chiến trường, buộc Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải nhượng bộ theo những điều khoản có lợi cho Mỹ trên bàn đàm phán ở Paris hoặc chí ít là một cuộc “rút lui trong danh dự”. Đúng như những gì R.Nixon tuyên bố: “Thà thất bại trong cuộc bầu cử Tổng thống còn hơn thua trong cuộc chiến này” [220, tr. Nội dung của cuốn sách đã chỉ rõ âm mưu của các đời Tổng thống Mỹ trong thời kỳ tham chiến ở Việt Nam. “Các tướng lĩnh được giao bảo vệ đất nước này nói rằng nếu chúng ta không chặn đứng cộng sản ở Việt Nam, chúng sẽ chiếm toàn châu Á và sau đến lượt chúng ta.12-13]; đồng thời, tác giả luận giải vì sao chính quyền Mỹ đưa không quân và hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam.
Để minh chứng cho luận điểm này, A.Amter Joseph đã cung cấp cho độc giả những chứng cứ của “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” và sự vu cáo của chính quyền B.Johnson về việc tàu hải quân Việt Nam tiến công tàu Maddox của Hoa Kỳ lần thứ hai ở 14 ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ. Chủ trương của R.Nixon trước khi nhậm chức “Nối lại các cuộc tiến công không quân chống Bắc Việt Nam; rải mìn cảng Hải Phòng đồng thời đe dọa xâm chiếm Bắc Việt Nam; đuổi theo các đơn vị vào Lào và Campuchia, tìm cách tiêu diệt các đất thánh của họ và cắt đứt các đường tiếp tế” [157, tr. Cuốn sách còn “phơi bày” những luận điệu dối trá của B.Nixon nhằm lừa bịp nhân dân Mỹ, Quốc hội Mỹ và dư luận thế giới về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam; những “nước cờ” trong quan hệ ngoại giao nước lớn mà chính quyền Mỹ tiến hành với Liên Xô, Trung Quốc. Bài viết đã khẳng định sức mạnh của hệ thống phòng không Việt Nam vào thời điểm năm 1972: “Sau một thời gian xây dựng, Bắc Việt Nam đã có hệ thống phòng không thích hợp mạnh nhất thế giới.
Quy mô và sức mạnh của hệ thống phòng không này mạnh đến mức nhiều người tin rằng, các máy bay ném bom hạng nặng B-52, “át chủ bài” lực lượng tiến công từ xa của Mỹ khó mà sống sót” [2, tr. Từ đó, tác giả chỉ ra 3 nguyên nhân dẫn đến B-52 của Mỹ bị tiêu diệt trên bầu trời Hà Nội: “Một là, radar của Bắc Việt Nam có thể vô hiệu hóa các biện pháp đối phó điện tử của B-52. Hai là, diện tích phản xạ hiệu dụng của B-52 quá lớn. Ba là, tốc độ gió quá lớn làm giảm tốc độ của máy bay” [2, tr.
Cuốn sách đi sâu phân tích làm rõ những thất bại của Mỹ, hậu quả đối với nước Mỹ khi ngày càng sa lầy vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam; đồng thời chỉ rõ nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là do: trong suốt cuộc kháng chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thường xuyên củng cố và tăng cường sức mạnh của miền Bắc; sức mạnh đoàn kết, truyền thống đoàn kết và ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam, cũng như sự can đảm, tài trí của quân và dân Việt Nam khi phải đối đầu với sức mạnh quân sự của Mỹ. Không chỉ đưa ra những nhận định đánh giá toàn diện, cẩn trọng về vai trò của miền Bắc đối với miền Nam Việt Nam. Tác giả, còn chỉ rõ: trong quá trình chống chiến tranh phá hoại, miền Bắc Việt Nam không chỉ tránh được sự huỷ diệt của bom B-52, mà còn bảo vệ vững chắc tuyến vận tải cung cấp sức người, sức của từ Bắc vào Nam; thất bại của Mỹ trong nỗ lực cắt đứt viện trợ của Bắc Việt 15 cho quân giải phóng ở miền Nam Việt Nam. Nội dung của cuốn sách còn đề cập về phong trào phản đối chiến tranh của nhà cầm quyền Mỹ ở Việt Nam; đồng thời, phân tích những tác động của nó tới cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam.
Từ đó, tác giả đưa ra những quan điểm khách quan, đánh giá, nhận định về những quyết định sai lầm của chính quyền Mỹ khi tiến hành chiến tranh ở Việt Nam. Cuốn sách không chỉ cung cấp cho độc giả những tài liệu mật về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam thời R.Nixon, mà còn phân tích làm rõ chính sách của chính quyền R.Nixon về chiến tranh Việt Nam; những lật lọng, nuốt lời hứa của R.Nixon với nhân dân và Quốc hội Mỹ khi trở thành Tổng thống. “Sẵn sàng đàm phán một sự rút khỏi Nam Việt Nam trong danh dự mà ông ta nói rõ là hầu như bất cứ điều kiện gì, trừ việc trao lại cho những người Cộng sản Bắc Việt hàng triệu người đã được các vị tiền nhiệm của ông ta dìu dắt để họ tin cậy vào nước Mỹ” [159, tr. Nhưng trên thực tế, R.Nixon đã đưa chiến tranh ở Việt Nam lên mức độ tàn khốc, ác liệt hơn, khi quyết định huy động lực lượng lớn không quân, hải quân tham chiến ở miền Nam, leo thang đánh phá miền Bắc bằng chiến dịch Linebacker I và Linebacker II, để thực hiện mục đích không để: “Hà Nội giật đổ Hoa Kỳ, chúng ta sẽ nghiền nát chúng” [159, tr.
Nội dung của cuốn sách đã mô tả một cách chi tiết từ việc Tổng thống Mỹ B.Johnson lợi dụng “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” như lời xin lỗi để ra lệnh cho các cuộc đột kích trên không đánh các mục tiêu bờ biển ở miền Bắc Việt Nam. Cho đến việc chính quyền Mỹ quyết định sử dụng chất độc da cam và máy bay chiến lược B-52 trong chiến tranh Việt Nam. Cuốn sách còn cung cấp cho độc giả những số liệu minh chứng cho những tổn thất, những thất bại mà quân đội Mỹ phải gánh chịu trong chiến tranh Việt Nam. “Trong suốt cuộc chiến tại Việt Nam, 46.370 quân nhân Mỹ đã chết trên chiến trường… Tháng 6, năm 1974, Bộ Quốc phòng của Mỹ đã ước tính tổng thiệt hại của cuộc chiến khoảng 145 tỷ đô la theo mức giá của năm 1974” [67, tr.
Song, đây là đánh giá của học giả người Mỹ nên khó tránh khỏi những điều chưa đồng thuận với cách đánh giá của người Việt Nam trên một số điểm. 16 Chiến tranh Việt Nam là thế đó (1965-1973) (2008) [71]. Với độ dày 757 trang, tác phẩm là tập hợp của 29 bài viết của các chuyên gia quân sự Liên Xô trực tiếp giúp đỡ Việt Nam trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Nội dung của các bài viết đi sâu phân tích làm rõ: cái giá phải trả cho những quyết định sai lầm của giới cầm quyền Mỹ khi quyết định leo thang bắn phá miền Bắc Việt Nam; tính chất ác liệt của các trận không kích mà không quân Mỹ gây ra cho miền Bắc Việt Nam; tinh thần chiến đấu, lao động sản xuất của quân và dân miền Bắc Việt Nam sau mỗi trận không kích của không quân Mỹ.
Trong đó có bài “Cải tiến về mặt tác chiến bộ khí tài tên lửa phòng không XA-75 (Đvina) trong quá trình chiến đấu” của Trung tướng Vôrôbiép M.