Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nghiên cứu giảm nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Huỳnh Đinh Phát, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Đinh Phi Hổ, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế - Luật thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 (Chuyên ngành: Kinh tế học, Mã số: 62.310101).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Vấn đề đo lường nghèo đói trên thế giới đã có sự chuyển dịch căn bản từ phương pháp đơn chiều dựa trên thu nhập sang phương pháp tiếp cận đa chiều, điển hình là phương pháp của Alkire và Foster (2007) được Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) áp dụng để tính toán Chỉ số nghèo đa chiều (MPI) từ năm 2010. Tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015 phê duyệt Đề án tổng thể chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 và Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020.

Tại tỉnh Quảng Ngãi - địa phương thuộc vùng Duyên hải Miền Trung, ngoài sự phát triển của Khu kinh tế Dung Quất, khu vực miền núi và vùng sâu, vùng xa vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Trong giai đoạn 2010 - 2015 đo lường theo thu nhập, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm từ 23,92% xuống 9,22%. Tuy nhiên, khi chuyển sang chuẩn nghèo đa chiều vào năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo tăng vọt lên 13,06%, riêng khu vực miền núi có 25.392 hộ nghèo (tỷ lệ 41,93%), trong đó huyện Tây Trà có tỷ lệ hộ nghèo lên tới 75,08% và huyện Sơn Tây là 55,07%. Đến năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm xuống 6,41%, đạt tốc độ giảm bình quân 1,6%/năm (chưa đạt mục tiêu kế hoạch đề ra là 2,0% - 2,5%/năm). Quảng Ngãi liên tục là một trong ba tỉnh có số hộ nghèo cao nhất vùng Duyên hải Miền Trung (cùng với Quảng Nam và Bình Định) và luôn có tỷ lệ nghèo cao nhất khu vực trong suốt giai đoạn 2016 - 2020. Theo bảng xếp hạng toàn quốc năm 2020, tỉnh xếp thứ 7/63 về quy mô số hộ nghèo và xếp thứ 16/63 về tỷ lệ nghèo.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 của Chính phủ chỉ mới phản ánh thực trạng thiếu hụt chứ chưa làm rõ nguyên nhân và hệ quả của thiếu hụt đối với đời sống hộ gia đình; các chỉ báo sẵn có chưa bao quát hết đặc thù sinh kế địa phương; chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện kết hợp cả nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016 - 2020 với dữ liệu khảo sát sơ cấp để định lượng các nhân tố tác động đến nghèo đa chiều tại Quảng Ngãi, đặc biệt là sự thiếu vắng biến số "Tiếp cận thông tin" trong các mô hình kinh tế lượng trước đó.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu chung: Đưa ra các khuyến nghị hàm ý chính sách và đề xuất hệ thống giải pháp giảm nghèo đa chiều tại tỉnh Quảng Ngãi.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về nghèo; tổng thuật tài liệu và tổng quan nghiên cứu liên quan đến giảm nghèo đa chiều.
    2. Hình thành bộ thang đo nghèo đa chiều; xây dựng khung phân tích, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều đối với hộ gia đình ở tỉnh Quảng Ngãi.
    3. Đánh giá thực trạng nghèo theo cách tiếp cận đa chiều và công tác giảm nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2016 – 2020.
    4. Phân tích, đánh giá những hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong công tác giảm nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi.
    5. Đề xuất các hàm ý chính sách và giải pháp giảm nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Thang đo nghèo đa chiều với những chỉ số nào cấu thành là phù hợp để đo lường, đánh giá nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi?
  2. Những yếu tố điển hình nào tác động đến nghèo đa chiều và mức độ tác động của chúng đối với tình trạng nghèo đa chiều của hộ gia đình ở tỉnh Quảng Ngãi?
  3. Thực trạng nghèo đa chiều và công tác giảm nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2016 – 2020 như thế nào?
  4. Công tác giảm nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi còn có những hạn chế nào? Nguyên nhân của những hạn chế ấy là gì?
  5. Giảm nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi phải dựa trên hệ thống giải pháp được xây dựng trên nền tảng lý luận, thực tiễn và vận dụng từ kết quả nghiên cứu như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Giảm nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi.
  • Phạm vi nội dung: Lựa chọn các chỉ số cấu thành thang đo nghèo đa chiều phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội địa phương; phân tích các yếu tố nhân khẩu, yếu tố vùng địa lý và đặc điểm kinh tế - xã hội tác động đến tình trạng nghèo đa chiều của hộ gia đình.
  • Phạm vi không gian: Các hộ gia đình được chọn mẫu ngẫu nhiên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2020; số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2016 – 2020 tương ứng với chu kỳ thực hiện Đề án 1614/QĐ-TTg và Quyết định 59/2015/QĐ-TTg.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai hướng tiếp cận chính:

Hướng tiếp cận nhận diện và đo lường các chiều thiếu hụt

  • Nghiên cứu quốc tế: Khởi xướng từ cách tiếp cận năng lực của Amartya Sen; phương pháp đo lường Alkire và Foster (2007, 2011) đặt nền tảng định lượng với chỉ số MPI. Wagle (2002, 2005) nghiên cứu tại Kathmandu (Nepal) và Hoa Kỳ kết hợp phúc lợi kinh tế, năng lực và hòa nhập xã hội. Alkire và Seth (2008) tại Ấn Độ dựa trên dữ liệu NFHS-3 đề xuất 13 thông số kinh tế - xã hội. Batana (2008) đánh giá nghèo đa chiều tại 14 quốc gia châu Phi cận Sahara dựa trên MDGs với 4 chiều (tài sản, trao quyền, giáo dục, sức khỏe). Santos và Ura (2008) phân tích dữ liệu điều tra mức sống Bhutan năm 2007. Wang và Wang (2016) nghiên cứu tại thành phố Hà Trì (Quảng Tây, Trung Quốc) kết hợp phương pháp AF với hệ thống thông tin địa lý (GIS) và viễn thám (RS). Mohanty và cộng sự (2018) nghiên cứu tại Shan và Chin (Myanmar) trên mẫu 4.290 hộ với 5 chiều và 12 chỉ số (chọn điểm cắt k = 20%). Lu và cộng sự (2020) nghiên cứu tại huyện Đức Khâm (Vân Nam, Trung Quốc) khảo sát 647 hộ với 5 chiều và 15 chỉ số.
  • Nghiên cứu trong nước: Asselin và Anh (2008) sử dụng dữ liệu VNLSS phân tích thành phần chính (PCA) và tương ứng đa chiều (MCA) xây dựng chỉ số CIP. Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2013) sử dụng VHLSS 2010 với 6.750 hộ xác định 16 biến tài sản sinh kế đại diện cho 10 chiều đo lường. Le và cộng sự (2014, 2015) dùng VHLSS 2010 và 2012 đo lường 5 khía cạnh. Trịnh Thị Nghĩa (2016) phân tích mối quan hệ giữa HDI và MPI tại Thái Nguyên. Bùi Sỹ Tuấn (2016) tiếp cận nghèo đa chiều dựa trên quyền con người. Pham và cộng sự (2020) phân tích 7 khía cạnh nghèo đói theo đơn vị hành chính tại Việt Nam.

Hướng tiếp cận đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều

  • Nghiên cứu quốc tế: Chen và cộng sự (2015) tại Đài Loan chỉ ra tương đồng giữa các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo thu nhập và nghèo đa chiều. Deutsch và Silber (2005) dùng 4 phương pháp phân tích chỉ ra ảnh hưởng của học vấn, quy mô hộ, hôn nhân, dân tộc và nơi cư trú. Dewilde (2008) dùng hồi quy Binary Logistic tại các nước châu Âu. Ningaye và cộng sự (2011) tại Cameroon phân tích khu vực cư trú là yếu tố quyết định rủi ro nghèo đa chiều. Akhtar (2017) tại Punjab (Pakistan) phân tích ảnh hưởng của tỷ lệ phụ thuộc, tỷ lệ giới tính, quy mô hộ, đất đai. Zahra và Zafar (2018) tại Lahore (Pakistan) khảo sát 1.380 mẫu dùng kỹ thuật Logit và Probit. Maity và Buysse (2018) tại Bodo (Ấn Độ) với 333 hộ. Alkire và cộng sự (2015) dùng hồi quy Logistic trên dữ liệu bảng Indonesia. Forgeto và cộng sự (2020) tại Ethiopia khảo sát 240 hộ phân tích vai trò của tín dụng, quy mô hộ, thị trường.
  • Nghiên cứu trong nước: Nguyễn Đức Lộc và cộng sự (2016) tại Bình Dương theo khung sinh kế. Bùi Thị Thanh Tâm và cộng sự (2019) tại Thái Nguyên phân tích 10 chỉ số thiếu hụt và xác định các nguyên nhân quy mô hộ, dân tộc, đất đai. Nguyễn Hồng Hà và Nguyễn Văn Nhân (2019) khảo sát 300 hộ Khmer tại Trà Vinh; Nguyễn Hồng Hà và Hà Văn Dũng (2020) khảo sát 190 hộ nghèo tại Trà Vinh phân tích 7 nhân tố ảnh hưởng. Tran và cộng sự (2015) dùng mô hình dữ liệu bảng VHLSS 2007, 2008, 2010. Lê Thị Thanh Loan và Nguyễn Thanh Bình (2018) dùng dữ liệu VHLSS 2014 và mô hình Binary Logistic chỉ ra các biến số có ý nghĩa thống kê gồm số năm đi học, trình độ chuyên môn, khu vực cư trú, tuổi, việc làm, dân tộc.

Khoảng trống luận án giải quyết

  1. Hoàn thiện thang đo nghèo đa chiều điều chỉnh phù hợp với thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi bằng cách bổ sung một số chỉ số mà chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 của Chính phủ bỏ qua (suy dinh dưỡng, tử vong trẻ em, sở hữu tài sản tiếp cận thông tin, nhiên liệu đun nấu hợp vệ sinh).
  2. Kiểm chứng thực nghiệm và lượng hóa tác động của nhân tố "Tiếp cận thông tin" (gồm mức độ tiếp cận và tính hữu ích của thông tin) đối với xác suất nghèo đa chiều của hộ gia đình - khía cạnh chưa được lượng hóa đầy đủ trong các nghiên cứu định lượng trước đây tại Việt Nam.
  3. Kết hợp đồng thời nguồn số liệu thứ cấp giai đoạn 2016 - 2020 và số liệu sơ cấp khảo sát 500 hộ năm 2020 để giải quyết tính hạn chế của dữ liệu một thời điểm, tạo cơ sở thực nghiệm cho các khuyến nghị chính sách giai đoạn 2021 - 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng

  • Lý thuyết sinh kế bền vững (SLA): Tiếp cận theo khung phân tích của Cục Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 1999) xây dựng trên nền tảng nghiên cứu của Chambers và Conway (1991), Scoones (1998). Khung sinh kế gồm 5 thành tố: bối cảnh tổn thương, 5 nguồn vốn sinh kế (con người, tự nhiên, tài chính, vật chất, xã hội), các quá trình và cấu trúc thể chế chính sách, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế.
  • Lý thuyết "3 trụ cột" tác động giảm nghèo: Tăng trưởng kinh tế tạo việc làm, phát triển dịch vụ xã hội cơ bản và mạng lưới an sinh xã hội.
  • Lý thuyết hiện đại hóa: Đổi mới tư duy sản xuất, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và văn hóa kinh tế thị trường để thoát nghèo.
  • Tiếp cận năng lực của Amartya Sen: Nghèo đói là sự thiếu hụt các khả năng cơ bản để đạt được những chức năng hoạt động tối thiểu của con người, không thuần túy là sự thiếu hụt thu nhập.
  • Phương pháp đo lường Alkire - Foster (AF): Xác định nghèo qua phương pháp tính toán ma trận thiếu hụt với hai ngưỡng cắt: điểm cắt chỉ số ($z_j$) để nhận diện hộ thiếu hụt từng chỉ tiêu và điểm cắt nghèo đa chiều ($k$) để phân loại hộ nghèo đa chiều; tổng hợp tỷ lệ hộ nghèo ($H$), cường độ nghèo ($A$) và chỉ số nghèo đa chiều $MPI = H \times A$.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Nghiên cứu định tính: Tham vấn ý kiến chuyên gia, thảo luận nhóm có sự tham gia của cán bộ quản lý cấp tỉnh, huyện, xã để điều chỉnh thang đo các chỉ số thiếu hụt nghèo đa chiều và lựa chọn các biến số cho mô hình kinh tế lượng; tổng hợp, so sánh và phân tích tài liệu văn bản quản lý nhà nước.
  • Nghiên cứu định lượng: Khảo sát thực địa bằng bảng câu hỏi cấu trúc với cỡ mẫu 500 hộ gia đình tại tỉnh Quảng Ngãi trong năm 2020. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đại diện cho các vùng sinh thái (vùng đồng bằng và vùng miền núi).
  • Mô hình kinh tế lượng: Sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic được xử lý trên phần mềm SPSS.
    • Biến phụ thuộc: Tình trạng nghèo đa chiều của hộ gia đình ($Y = 1$ nếu hộ nghèo đa chiều; $Y = 0$ nếu hộ không nghèo đa chiều).
    • Các nhóm biến độc lập: Đặc điểm nhân khẩu của chủ hộ và hộ gia đình (tuổi, giới tính, học vấn, trình độ chuyên môn của chủ hộ, quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc); nguồn lực sinh kế và tiếp cận dịch vụ (diện tích đất sản xuất, tiếp cận vốn vay tín dụng chính thức, việc làm, khoảng cách đến trung tâm hành chính/dịch vụ công, mức độ tiếp cận và tính hữu ích của thông tin); đặc điểm vùng địa lý và dân tộc (miền núi/đồng bằng, dân tộc thiểu số/Kinh).
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp 500 hộ khảo sát năm 2020; dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016 - 2020 từ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) tỉnh Quảng Ngãi, Cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các báo cáo tổng kết Chương trình Mục tiêu Quốc gia (CTMTQG) giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu giảm nghèo đa chiều

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước xoay quanh hai hướng: đo lường các chiều thiếu hụt và nhận diện các yếu tố tác động đến nghèo đa chiều. Tác giả chỉ ra sự thống nhất trong giới học thuật về tính chất đa chiều của nghèo đói và tính ưu việt của phương pháp Alkire - Foster. Đồng thời, chương này chỉ rõ các hạn chế trong cơ sở dữ liệu và thang đo nghèo tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020, làm nổi bật tính cấp thiết của việc xây dựng thang đo thích ứng với bối cảnh Quảng Ngãi và sự cần thiết phải đưa biến số tiếp cận thông tin vào mô hình định lượng.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương này làm rõ các lý thuyết nền tảng (lý thuyết sinh kế bền vững DFID, lý thuyết "3 trụ cột", lý thuyết hiện đại hóa, tiếp cận năng lực của Sen) và quy trình đo lường MPI của Alkire - Foster. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng khung phân tích giảm nghèo đa chiều và đề xuất mô hình nghiên cứu gồm hai cấu phần chính: (1) Thang đo nghèo đa chiều gồm các chiều y tế, giáo dục, điều kiện sống, tiếp cận thông tin và việc làm được điều chỉnh; (2) Mô hình hồi quy Binary Logistic xác định xác suất rơi vào nghèo đa chiều của hộ gia đình theo các biến độc lập thuộc ba nhóm yếu tố: đặc điểm hộ/chủ hộ, vốn sinh kế/tiếp cận dịch vụ, và vùng địa lý/dân tộc.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết phương pháp tiếp cận, quy trình nghiên cứu gồm 4 giai đoạn logic (nghiên cứu lý thuyết, tham vấn chuyên gia và khảo sát thử nghiệm, thu thập dữ liệu sơ cấp/thứ cấp, xử lý dữ liệu và ước lượng mô hình). Tác giả mô tả chi tiết phương pháp phân bổ mẫu 500 hộ tại các huyện đồng bằng và miền núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi trong năm 2020, xác định các tiêu chí gán trọng số cho các chỉ báo trong thang đo nghèo đa chiều, kiểm tra độ tin cậy và kiểm định thống kê mô hình kinh tế lượng trên phần mềm SPSS.

Chương 4: Đánh giá thực trạng giảm nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 – 2020

Chương này sử dụng toàn bộ nguồn số liệu thứ cấp chính thức để khắc họa bức tranh giảm nghèo đa chiều của tỉnh Quảng Ngãi trong 5 năm:

  • Diễn biến nghèo đa chiều: Tỷ lệ nghèo toàn tỉnh giảm từ 13,06% năm 2016 xuống 6,41% năm 2020. Tốc độ giảm bình quân 1,6%/năm không đạt chỉ tiêu đề ra (2,0% - 2,5%/năm). Sự phân hóa giữa hai vùng rất sâu sắc: khu vực miền núi luôn có tỷ lệ hộ nghèo vượt trội so với vùng đồng bằng.
  • Phân tích các chiều thiếu hụt: Các chiều thiếu hụt phổ biến nhất của hộ nghèo tỉnh Quảng Ngãi tập trung vào điều kiện sống (nhà tiêu hợp vệ sinh, nước sạch), bảo hiểm y tế, chất lượng nhà ở và tiếp cận thông tin. Các huyện miền núi chịu tỷ lệ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản cao gấp nhiều lần vùng đồng bằng.
  • Công tác giảm nghèo và nông thôn mới: Đánh giá việc thực hiện nguồn vốn các CTMTQG giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới. Tác giả chỉ ra các hạn chế lớn: tỷ lệ tái nghèo và phát sinh nghèo mới còn cao; huy động nguồn lực xã hội hóa thấp; hạ tầng thiết yếu vùng miền núi chưa đồng bộ; một bộ phận người dân còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước.
Bảng tổng hợp: Tình hình nghèo đa chiều tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 - 2020
Tiêu chí Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều toàn tỉnh (%) 13,06 11,20 9,51 7,92 6,41
Tốc độ giảm tỷ lệ hộ nghèo (%/năm) - 1,86 1,69 1,59 1,51
Tỷ lệ hộ nghèo khu vực miền núi (%) 41,93 - - - Cao vượt trội
Huyện có tỷ lệ nghèo cao nhất (Tây Trà, 2016) 75,08% - - - -
Huyện có tỷ lệ nghèo cao thứ hai (Sơn Tây, 2016) 55,07% - - - -
Vị trí xếp hạng số hộ nghèo cả nước (2020) - - - - 7/63
Vị trí xếp hạng tỷ lệ nghèo cả nước (2020) - - - - 16/63

(Nguồn: Luận án tổng hợp từ số liệu Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ngãi)

Chương 5: Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi

Chương 5 phân tích tập dữ liệu sơ cấp 500 hộ gia đình thu thập năm 2020:

  • Đo lường nghèo đa chiều từ mẫu khảo sát: Đánh giá tỷ lệ thiếu hụt theo thang đo điều chỉnh, so sánh giữa chuẩn nghèo thu nhập và chuẩn nghèo đa chiều. Tác giả ghi nhận sự khác biệt rõ rệt giữa hai chuẩn: có nhiều hộ không nghèo thu nhập nhưng lại rơi vào nghèo đa chiều do thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.
  • Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Binary Logistic: Kiểm định Omnibus Tests cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê cao ($p < 0,001$). Hệ số xác định Nagelkerke $R^2$ và tỷ lệ dự báo chính xác tổng thể của mô hình đạt mức tin cậy cao.
  • Các biến có ý nghĩa thống kê tác động đến xác suất nghèo đa chiều:
    1. Trình độ chuyên môn của chủ hộ: Tác động nghịch chiều mạnh đến xác suất nghèo; chủ hộ có chuyên môn kỹ thuật giúp giảm đáng kể nguy cơ nghèo đa chiều.
    2. Tỷ lệ người phụ thuộc trong hộ: Tác động cùng chiều; hộ có tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì xác suất nghèo đa chiều càng lớn.
    3. Tiếp cận thông tin: Biến số này có ý nghĩa thống kê quan trọng; hộ gia đình tiếp cận thông tin đầy đủ và nhận thấy tính hữu ích của thông tin xã hội/thị trường có xác suất nghèo đa chiều thấp hơn rõ rệt.
    4. Tiếp cận vốn tín dụng chính thức: Có mối tương quan nghịch chiều với tình trạng nghèo đa chiều; việc vay vốn từ các tổ chức tín dụng chính thức hỗ trợ đắc lực cho tạo việc làm và cải thiện sinh kế.
    5. Đất sản xuất: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp tác động nghịch chiều đến nghèo đa chiều.
    6. Thành phần dân tộc: Hộ đồng bào dân tộc thiểu số có nguy cơ nghèo đa chiều cao hơn có ý nghĩa thống kê so với hộ người Kinh.
    7. Khoảng cách đến trung tâm hành chính/dịch vụ xã hội: Khoảng cách càng xa, xác suất thiếu hụt đa chiều càng tăng.
  • Phát hiện khác biệt: Các biến số về khu vực sinh sống (đồng bằng/miền núi sau khi đã kiểm soát biến dân tộc và khoảng cách), độ tuổi, giới tính của chủ hộ và quy mô hộ trong mẫu khảo sát tại Quảng Ngãi không có ý nghĩa thống kê đối với xác suất nghèo đa chiều của hộ.
  • Dự báo kịch bản: Xây dựng các kịch bản thay đổi biến số tiếp cận thông tin, nâng cao trình độ chuyên môn và mở rộng đất sản xuất/vốn vay, chứng minh sự suy giảm xác suất nghèo đa chiều khi các yếu tố này được cải thiện.

Chương 6: Hàm ý chính sách và giải pháp giảm nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi

Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ kết quả mô hình hồi quy và đánh giá thực trạng:

  • Hàm ý chính sách can thiệp theo yếu tố:
    • Rút ngắn khoảng cách tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản thông qua phát triển mạng lưới giao thông liên xã, điểm bưu điện văn hóa, trung tâm y tế và trường học tại vùng sâu vùng xa.
    • Tăng cường khả năng tiếp cận thông tin: Phổ biến thông tin chính sách, kiến thức sản xuất, giá cả thị trường thông qua các kênh truyền thông phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao tính hữu ích của thông tin tiếp cận.
    • Nâng cao trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp cho người lao động, gắn đào tạo nghề với nhu cầu doanh nghiệp tại Khu kinh tế Dung Quất và các cụm công nghiệp.
    • Mở rộng quy mô và đơn giản hóa thủ tục vay vốn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội; kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay.
    • Giải quyết tình trạng thiếu đất sản xuất ở các huyện miền núi thông qua khai hoang, giao khoán đất lâm nghiệp bền vững.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách giảm nghèo bền vững:
    • Ưu tiên phân bổ ngân sách tập trung giải quyết các chiều thiếu hụt nghiêm trọng nhất (nhà tiêu hợp vệ sinh, nước sinh hoạt hợp vệ sinh, bảo hiểm y tế).
    • Đổi mới cơ chế chính sách theo hướng chuyển dần từ "hỗ trợ trực tiếp, cho không" sang "hỗ trợ có điều kiện, vay vốn có hoàn trả" nhằm xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại.
    • Thực hiện lồng ghép đồng bộ các CTMTQG giai đoạn 2021 - 2025: Giảm nghèo bền vững, Xây dựng nông thôn mới và Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  1. Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghèo đa chiều và sinh kế bền vững, làm rõ mối quan hệ giữa năng lực chủ thể hộ gia đình, tiếp cận dịch vụ công và hiện tượng nghèo đa chiều.
  2. Xây dựng và kiểm chứng bộ thang đo nghèo đa chiều được điều chỉnh phù hợp với đặc thù một tỉnh Duyên hải Miền Trung có tính phân hóa vùng cao như Quảng Ngãi, bổ sung các chỉ số còn thiếu trong chuẩn quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 (dinh dưỡng, tử vong trẻ em, sở hữu tài sản truyền thông, chất đốt).
  3. Đóng góp bằng chứng thực nghiệm khẳng định tác động có ý nghĩa thống kê của yếu tố "Tiếp cận thông tin" đối với xác suất nghèo đa chiều. Đây là nhân tố mang tính mới mà các nghiên cứu định lượng trước đó tại Việt Nam chưa đưa vào kiểm định trong mô hình kinh tế lượng.
  4. Chỉ ra những đặc thù riêng của địa bàn nghiên cứu: Các biến nhân khẩu truyền thống như giới tính chủ hộ, tuổi chủ hộ và quy mô hộ không có ý nghĩa thống kê chi phối nghèo đa chiều tại Quảng Ngãi, điều này khác biệt so với kết quả của nhiều nghiên cứu ở các vùng miền khác.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Thu thập và hoàn thiện bộ cơ sở dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016 - 2020 về nghèo đa chiều tại Quảng Ngãi, cung cấp bức tranh hoàn chỉnh về chu kỳ thực hiện chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn đầu tiên của tỉnh.
  2. Cung cấp bộ dữ liệu sơ cấp 500 hộ gia đình năm 2020 với các biến số chi tiết về mức độ thiếu hụt, nhận thức của người dân về dịch vụ công và hiệu quả chính sách.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp giảm nghèo đa chiều mang tính khả thi cao cho Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Quảng Ngãi trong việc xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025 và triển khai các CTMTQG giai đoạn 2021 - 2025.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp điều tra cắt ngang tại một thời điểm (năm 2020) với quy mô 500 hộ gia đình, do đó chưa theo dõi được sự dịch chuyển trạng thái nghèo đa chiều của hộ gia đình theo chuỗi thời gian liên tục (dữ liệu bảng).
  • Do hạn chế về nguồn lực nghiên cứu, một số chỉ số phúc lợi chủ quan và các biến động khí hậu bất thường, thiên tai, tác động kéo dài của đại dịch COVID-19 chưa được tích hợp đầy đủ vào hệ thống chỉ số đo lường thực nghiệm.
  • Việc lựa chọn chỉ báo và gán trọng số dù đã qua tham vấn chuyên gia nhưng vẫn chịu ảnh hưởng nhất định của tính định tính chủ quan.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng khảo sát theo dạng dữ liệu bảng (panel data) để phân tích động thái nghèo, dòng di chuyển nghèo và nguy cơ tái nghèo đa chiều theo thời gian.
  • Bổ sung các biến số ngoại sinh về rủi ro môi trường, biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng của sinh kế ven biển cũng như sinh kế miền núi tỉnh Quảng Ngãi.
  • Nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa tỉnh Quảng Ngãi và các địa phương lân cận trong vùng Duyên hải Miền Trung khi áp dụng Nghị định số 07/2021/NĐ-CP chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương: Sở LĐTBXH, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Dân tộc và UBND các huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi trong công tác rà soát hộ nghèo hàng năm, thiết kế danh mục dự án đầu tư công và phân bổ nguồn lực thuộc CTMTQG giảm nghèo bền vững.
  • Nhà hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực nghiệm về việc chuyển đổi phương thức can thiệp từ trợ cấp cho không sang hỗ trợ có điều kiện, ưu tiên xóa bỏ thiếu hụt thông tin và cải thiện dịch vụ y tế, nước sạch.
  • Nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên: Các ngành Kinh tế học, Kinh tế phát triển, Chính sách công và Xã hội học có thể tham khảo Chương 2 và Chương 3 về quy trình vận dụng phương pháp Alkire - Foster và kỹ thuật xây dựng mô hình hồi quy Binary Logistic trên dữ liệu khảo sát vi mô.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao Quảng Ngãi có tăng trưởng kinh tế từ Khu kinh tế Dung Quất nhưng tỷ lệ nghèo đa chiều vẫn cao nhất vùng Duyên hải Miền Trung?

Tăng trưởng kinh tế từ Khu kinh tế Dung Quất và Nhà máy lọc dầu Dung Quất chủ yếu đóng góp vào quy mô GRDP công nghiệp và nguồn thu ngân sách của tỉnh, nhưng sự lan tỏa sinh kế đến các huyện miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn rất hạn chế. Phần lớn hộ nghèo của tỉnh tập trung tại các huyện miền núi (như Tây Trà, Sơn Tây) với địa hình chia cắt, hạ tầng dịch vụ xã hội cơ bản thiếu thốn và trình độ sản xuất chưa bắt kịp khu vực công nghiệp - dịch vụ.

2. Sự khác biệt giữa tỷ lệ nghèo thu nhập và tỷ lệ nghèo đa chiều tại Quảng Ngãi năm 2016 là gì?

Năm 2015, theo chuẩn nghèo đơn chiều dựa trên thu nhập, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh chỉ còn 9,22%. Tuy nhiên, ngay khi chuyển sang áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg vào năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo tăng lên 13,06% (toàn tỉnh có 25.392 hộ nghèo miền núi, chiếm 41,93%). Điều này phản ánh thực tế nhiều hộ gia đình tuy có thu nhập vượt ngưỡng nghèo tiền tệ nhưng vẫn thiếu hụt trầm trọng các dịch vụ xã hội cơ bản như nhà tiêu hợp vệ sinh, bảo hiểm y tế, chất lượng nhà ở và thông tin.

3. Biến số nào mới được luận án đưa vào mô hình hồi quy Binary Logistic và kết quả kiểm định ra sao?

Luận án đã đưa biến "Tiếp cận thông tin" (đo lường bằng mức độ tiếp cận thông tin và tính hữu ích của thông tin đối với hộ gia đình) vào mô hình. Kết quả ước lượng hồi quy Binary Logistic cho thấy biến này có ý nghĩa thống kê và mang hệ số âm, khẳng định rằng hộ gia đình có mức độ tiếp cận thông tin tốt hơn và nhận được thông tin hữu ích sẽ có xác suất rơi vào nghèo đa chiều thấp hơn.

4. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những biến nhân khẩu học nào không có ý nghĩa thống kê đối với nghèo đa chiều tại Quảng Ngãi?

Khác với nhiều nghiên cứu thực nghiệm ở các địa phương khác, mô hình hồi quy của luận án cho thấy các biến số: giới tính của chủ hộ, độ tuổi của chủ hộ, quy mô hộ gia đình và biến phân định khu vực sinh sống (đồng bằng/miền núi khi đã kiểm soát biến khoảng cách và dân tộc) tương quan không có ý nghĩa thống kê với tình trạng nghèo đa chiều của hộ gia đình trong mẫu khảo sát tại Quảng Ngãi.

5. Tốc độ giảm nghèo bình quân giai đoạn 2016 - 2020 của tỉnh Quảng Ngãi có đạt kế hoạch đề ra không?

Tốc độ giảm nghèo bình quân thực tế của tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 - 2020 đạt 1,6%/năm (tỷ lệ nghèo giảm từ 13,06% năm 2016 xuống còn 6,41% năm 2020). Tốc độ này chưa đạt mục tiêu kế hoạch do tỉnh xác định là giảm từ 2,0% đến 2,5%/năm.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Huỳnh Đinh Phát đã giải quyết toàn diện vấn đề giảm nghèo đa chiều tại tỉnh Quảng Ngãi thông qua việc kết hợp cơ sở lý thuyết chuẩn mực và bằng chứng thực nghiệm xác thực. Bằng việc phân tích chuỗi dữ liệu thứ cấp 2016 - 2020 kết hợp khảo sát sơ cấp 500 hộ gia đình năm 2020, công trình đã làm rõ thực trạng thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, sự chênh lệch sâu sắc giữa vùng đồng bằng và miền núi, cùng các nhân tố then chốt tác động đến nghèo đa chiều. Kết quả nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của việc tiếp cận thông tin, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và hỗ trợ vốn tín dụng chính thức, mang lại hệ thống luận cứ khoa học có giá trị cao cho việc hoạch định chính sách giảm nghèo bền vững của tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2021 - 2025.