Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu Chương này giới thiệu về sự cần thiết cũng như mục tiêu nghiên cứu, phạm vi, đối tượng, quy trình, ý nghĩa của nghiên cứu. Để tìm ra khoảng trống của 13 nghiên cứu, lược khảo tài liệu về các công trình nghiên cứu có liên quan cũng được đề cập trong chương này. Chương 2: Cơ sở lý luận về vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế xã hội Chương này trình bày những lý thuyết cần thiết liên quan đến vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các khái niệm về đầu tư, vốn đầu tư, khu kinh tế đặc biệt và tác động của vốn đầu tư đối với phát triển KTXH. Chương 3: Thực trạng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội đảo Phú Quốc.
Nội dung chương này chủ yếu đi sâu phân tích thực trạng tình hình vốn đầu tư cho phát triển KTXH của Phú Quốc trên 2 mặt: huy động và sử dụng vốn, đồng thời qua đó rút ra được những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về thực trạng vốn đầu tư cho phát triển KTXH làm cơ sở đưa ra giải pháp tăng cường vốn đầu tư để phát triển KTXH tại đảo Phú Quốc. Chương 4: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư tại đảo Phú Quốc. Trên cơ sở sử dụng phương pháp định lượng, chương này đi sâu phân tích các yếu tố có ảnh hưởng đến tình hình thu hút vốn đầu tư vào Phú Quốc để có cơ sở đưa ra giải pháp về thu hút vốn đầu tư hiệu quả. Chương 5: Kết luận và giải pháp tăng cường vốn đầu tư cho phát triển KTXH tại đảo Phú Quốc.
Chương này thể hiện các kết luận chính mà nghiên cứu đã đạt được, từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường vốn đầu tư đáp ứng cho phát triển KTXH tại đảo Phú Quốc thời gian tới. Quy trình nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu về tăng cường vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội đảo Phú Quốc, tác giả tiến hành lược khảo lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Từ khung lý thuyết và các công trình nghiên cứu trước đó, tác giả đã đưa ra được phương pháp nghiên cứu phù hợp, sau đó tiến hành phân tích thực trạng, đánh giá tác động của vốn đầu tư đối với phát 14 triển KTXH, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư vào đảo Phú Quốc, từ đó rút ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân để làm cơ sở cho việc đề ra giải pháp tăng cường vốn đầu tư cho phát triển KTXH tại Phú Quốc. Quy trình nghiên cứu Vấn đề nghiên cứu Vốn đầu tư cho phát triển KTXH đảo Phú Quốc Cơ sở lý thuyết Lý thuyết cơ bản về vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng (mô hình EFA và hồi quy đa biến) Thực trạng, thành công, hạn chế, nguyên nhân và tác động của các yếu tố đến phát triển KTXH tại đảo Phú Quốc Giải pháp tăng cường vốn đầu tư cho phát triển KTXH đảo Phú Quốc 15 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Việc đưa ra các lý thuyết cơ bản phục vụ cho nghiên cứu là điều cần thiết, vì vậy, chương này tác giả chỉ tập trung trình bày các lý thuyết cơ bản có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu như đầu tư, vốn đầu tư phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội, khu kinh tế đặc biệt và tác động của nó đến phát triển KTXH.
Ngoài ra, để có nhiều kinh nghiệm hơn về tăng cường huy động vốn đầu tư vào Phú Quốc, một số kinh nghiệm ở một số quốc gia, địa phương cũng được tác giả đề cập trong chương này. Đầu tư và đầu tư phát triển 2. Đầu tư Từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế học đã đưa ra các khái niệm khác nhau về đầu tư. Samuelson (2002) quan niệm “đầu tư là sự bổ sung vào tư liệu sản xuất, ví dụ hàng hóa vốn.
Hàng hóa vốn gồm các trang thiết bị, nhà xưởng, hay hàng hóa vật tư lưu kho…“đầu tư” khi họ mua một miếng đất, hay chứng khoán cũ, hay một tài sản nào đó. Trong kinh tế học, việc mua sắm này chỉ là các khoản chuyển giao tài chính hay thay đổi cơ cấu tài sản, vì cái mà người này mua chỉ là cái mà ai đó bán. Đầu tư chỉ thực sự xuất hiện khi tạo ra vốn thực tế”. Định nghĩa này nhấn mạnh ý nghĩa kinh tế của đầu tư ở tầm vĩ mô.
Trung tâm từ điển Việt Nam (1995), định nghĩa đầu tư là hành động “bỏ vốn vào một doanh nghiệp, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị mới, hoặc thực hiện sự hiện đại hóa, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng”. Định nghĩa này nhấn mạnh vào đầu tư phát triển, vào hình thái biểu hiện và động lực của đầu tư. Trần Ngọc Thơ (2005), khi nghiên cứu về lĩnh vực tài chính doanh nghiệp theo tác giả: “Đầu tư là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở hiện tại để đổi lấy khả năng 16 giá trị không chắc chắn trong tương lai”. Khái niệm này xem xét đầu tư trên góc độ rủi ro và thời gian.
Một doanh nghiệp đầu tư hàng trăm ngàn đô la xây dựng nhà xưởng mới. Một luật sư đầu tư hàng chục ngàn đô la xây dựng phòng tư vấn. Một giáo sư đại học đầu tư hàng chục ngàn đô la mua cổ phần công ty IBM…Những hành vi trên đều liên quan đến sự hy sinh hiện tại để đổi lấy triển vọng tương lai tốt đẹp. Với ý nghĩa rộng nhất đó, chúng ta có thể cho rằng tất cả hành vi trên là đầu tư.
Theo Luật đầu tư của Việt Nam (2005), đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư. Khái niệm này còn chung chung, chưa cho thấy kết quả đầu tư mang lại lợi ích kinh tế như thế nào nhằm thu hút đầu tư. Đa số các nhà kinh tế học cho rằng, nội dung cơ bản của khái niệm đầu tư bao hàm các khía cạnh sau đây: Thứ nhất, đầu tư là hành động mang tính tích lũy. Để có vốn đầu tư, nhà đầu tư phải hy sinh một phần tiêu dùng hiện tại, do đó họ luôn so sánh lợi ích giữa đầu tư và tiêu dùng hiện tại khi quyết định đầu tư.
Lợi ích từ đầu tư (lãi suất, lợi nhuận, tăng giá của tài sản hình thành từ vốn đầu tư…) lớn hơn ích lợi của tiêu dùng hiện tại sẽ khuyến khích họ đầu tư, còn ngược lại, tiêu dùng hiện tại sẽ được ưu tiên hơn. Thứ hai, mục đích của đầu tư luôn là giá trị lớn hơn trong tương lai. Bất cứ khoản đầu tư nào cũng chỉ được bỏ ra khi nhà đầu tư kỳ vọng sẽ thu hồi đủ vốn và có lãi trong tương lai. Thứ ba, quyết định đầu tư phụ thuộc vào tính toán của nhà đầu tư.
Nhưng xét trên tổng thể, việc bảo toàn vốn và tạo lãi cho nhà đầu tư phụ thuộc rất lớn vào tình trạng chung của nền kinh tế quốc gia và thị trường thế giới. Trong nền kinh tế thị trường, khi cơ chế tự phát còn quyết định trạng thái chung của nền kinh tế, tính bất ổn của các chu kỳ kinh tế dẫn đến rủi ro đầu tư. Càng bất ổn, càng rủi ro, rủi ro quá cao sẽ cản trở đầu tư. Tóm lại, đầu tư là tiết kiệm tiêu dùng hiện tại để đưa một phần của cải xã hội đã tích lũy được vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra nhiều của cải hơn trong tương lai.
Đầu tư là chìa khóa của tăng trưởng kinh tế, đặc biệt tạo ra việc 17 làm. Lý thuyết đã chứng minh rằng tăng đầu tư sẽ bù đắp những thiếu hụt của “cầu tiêu dùng”, từ đó tăng việc làm, tăng thu nhập, tăng hiệu quả biên của vốn đầu tư và kích thích tái sản xuất mở rộng. Căn cứ vào lý thuyết nêu trên, đầu tư luôn kỳ vọng giá trị lớn hơn trong tương lai. Do vậy, nhà đầu tư luôn phải tính toán được giá trị kỳ vọng đó, tất nhiên cũng phải chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định.
Nhà nước, nhất là tại một địa phương phải đảm bảo những điều kiện để nhà đầu tư tư nhân đạt được giá trị kỳ vọng mới có thể thu hút được vốn đầu tư vào địa phương mình, ngành mình. Đầu tư phát triển Đỗ Phú Trần Tình (2009), cho rằng đầu tư phát triển là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác, là điều kiện chủ yếu tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, bổ sung tài sản và tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước. Xét về bản chất đầu tư phát triển có một số đặc điểm sau: - Thứ nhất, hoạt động đầu tư phát triển cần một lượng vốn lớn và thời gian kéo dài trong suốt quá trình đầu tư.
- Thứ hai, thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm (thường từ 2 năm trở lên thậm chí 50 năm, nhưng cũng không quá 70 năm) với nhiều biến động xảy ra. - Thứ ba, thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra đối với các công cuộc đầu tư đòi hỏi nhiều năm, do đó không tránh khỏi những biến động tích cực và tiêu cực các biến động về KTXH. 18 - Thứ tư, thành quả do đầu tư phát triển mang lại biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính và lợi ích kinh tế xã hội.