CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GẮN VỚI CÔNG BẰNG VÀ TIẾN BỘ XÃ HỘI 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GẮN VỚI CÔNG BẰNG VÀ TIẾN BỘ XÃ HỘI 1. Khái niệm, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế 1.Khái niệm * Về tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, liên quan đến sự thịnh suy của một quốc gia. Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang suy giảm mạnh như hiện nay thì tăng trưởng kinh tế dường như đã và đang trở thành một lối sống.
Chính phủ nước nào cũng ưu tiên các nguồn lực của mình cho tăng trưởng kinh tế, coi đó là cái gốc, là nền tảng để giải quyết mọi vấn đề khác, đặc biệt là các vấn đề xã hội như: tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống của người dân, tăng cường phúc lợi xã hội, xóa đói - giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội…Tăng trưởng kinh tế thực sự là cần thiết. Khái niệm tăng trưởng kinh tế được nhiều tác giả đề cập với nhiều cách khác nhau như: Tăng trưởng kinh tế thường được hiểu là sự tăng lên về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kì nhất định [20,45]; Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP, GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định; Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng kết quả đầu ra hoạt động của nền kinh tế trong một thời kì nhất định. Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc để phản ánh tốc độ tăng trưởng; Hầu hết các tác giả đều thống nhất ở định nghĩa chung nhất về tăng trưởng kinh tế như sau: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập thực tế hay sự gia tăng về qui mô sản lượng của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)”[20,50]. 7 Như vậy, tăng trưởng kinh tế là khái niệm chỉ diễn tả động thái biến đổi về số lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của toàn bộ nền kinh tế theo thời gian, nhưng chưa đề cập đến mối quan hệ của nó với xã hội.
Quy mô và tốc độ tăng trưởng là cặp đôi trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế. * Về phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế không đồng nhất với nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế là căn cứ quan trọng để xác định phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế.
Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ…) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỉ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỉ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ). Tăng trưởng kinh tế là cần thiết nhưng chưa đủ để làm cho phúc lợi được phân phối rộng rãi. Sự phát triển của một quốc gia không chỉ là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế mà còn hướng đến nhiều mục tiêu kinh tế và xã hội rộng rãi hơn. Do vậy, khái niệm phát triển kinh tế đã được đặt ra và nhận thức về nó ngày càng được hoàn thiện.
Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm: Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội và môi trường, trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn. Có thể nói một cách khái quát: “phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến của nền kinh tế trên các mặt, bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng, tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội. Đó là sự tiến bộ, thịnh vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn”[17,13]. Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau.Tăng trưởng chưa phải là phát triển nhưng không thể nói phát triển mà không có tăng trưởng.
Tăng trưởng mà không phát triển sẽ dẫn đến thảm họa, ngược lại phát triển mà không tăng trưởng là không tồn tại trong thực tế. 8 * Về phát triển bền vững Mặc dù khái niệm phát triển kinh tế đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, nhưng thực tiễn quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước buộc con người phải nhìn nhận lại mục tiêu của sự phát triển. Trong những năm gần đây, nhiều vấn đề toàn cầu cực kỳ phức tạp, nan giải và ngày càng trầm trọng đòi hỏi cả cộng đồng nhân loại phải chung sức giải quyết như: vấn đề sinh thái, ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, tắc nghẽn giao thông, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố… Vì vậy, một khái niệm mới về phát triển đã ra đời, mang nội hàm phản ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế…, đó là khái niệm phát triển bền vững. Năm 1987, Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển đã định nghĩa khái niệm phát triển bền vững: “là sự phát triển thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai”[49, 44].
Cụ thể hơn, phát triển bền vững được hiểu là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm có: (1) phát triển kinh tế (nền tảng là tăng trưởng kinh tế), (2) phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và (3) bảo vệ môi trường (mục tiêu là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). Phát triển bền vững có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển. Phát triển bền vững là sự phát triển những giá trị của con người, trong khi tăng trưởng kinh tế chỉ là yếu tố biểu thị năng lực thỏa mãn nhu cầu của con người, nhưng không phải là tất cả. Sự phát triển những giá trị của con người cần đặt trong khuôn khổ phát triển bền vững, trong đó, việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội giữ vai trò quan trọng.
Do vậy, vấn đề tăng trưởng - công bằng, tiến bộ đã được đặt ra: Làm thế nào để kinh tế không những tăng trưởng mà công bằng xã hội cũng được thực hiện? 9 Hiện nay, trên thế giới người ta thường tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải xã hội bằng các đại lượng tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng sản phẩm quốc nội (GDP), thu nhập theo đầu người. Tổng sản phẩm quốc dân (GNP: Gross national products) là tổng giá trị tính bằng tiền của những hàng hóa, dịch vụ mà một nước sản xuất ra từ các yếu tố sản xuất của mình (dù là sản xuất trong nước hay ở nước ngoài) trong một thời gian nhất định ( thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc nội (GDP: Gross domestic products) là tổng giá trị bằng tiền của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó (dù nó thuộc về trong nước hay nước ngoài) trong một thời gian nhất định ( thường là một năm). Do có sự biến động của giá cả (lạm phát) nên người ta phân định ra GDP, GNP danh nghĩa và GNP, GDP thực tế.
GNP và GDP danh nghĩa là GNP, GDP tính theo giá trị hiện hành của thời kì tính; còn GNP và GDP thực tế là GDP, GNP tính theo giá cố định của một năm được chọn làm gốc. Vì vậy trong thực tế có tăng tưởng kinh tế danh nghĩa (tinh theo GNP, GDP danh nghĩa) và tăng trưởng kinh tế thực tế (tính theo GDP, GNP thực tế). Tất cả các chỉ tiêu phản ánh mức tăng trưởng kinh tế như GDP, GNP hay GDP bình quân đầu người đều tính theo hai loại giá: Giá thực tế và giá so sánh với năm gốc. Giá thực tế là giá phát sinh trong quá trình giao dịch trao đổi thực tế của năm báo cáo.
Giá thực tế phát sinh đúng đắn khách quan về cơ cấu kinh tế của mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và ngân sách nhà nước, liên hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, tích lũy và xem xét mức sống của dân cư trong từng thời kì. Tuy nhiên, để đánh giá quá trình tăng trưởng và phát triển của kinh tế, so sánh giữa các năm giữa các thời kì này so với các thời kì khác… người ta không thể dùng giá thực tế được. Đặc biệt là những nước có nền kinh tế không ổn định, lạm phát nghiêm trọng, giá cả biến đổi lớn giữa các năm, giữa các thời kì. Vì vậy, cần tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp trên theo giá trị so sánh.
10 Để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế học cổ điển, tân cổ điển dùng nhiều mô hình kinh tế. Trước Keynes, kinh tế học cổ điển và tân cổ điển không phân biệt rành mạch tăng trưởng kinh tế với phát triển kinh tế. Hơn nữa, ngoại trừ Schumpeter, các trường phái trên đều không coi trọng vai trò của tiến bộ kỹ thuật đối với tăng trưởng kinh tế. Các nhà kinh tế học hiện đại đã đưa ra nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế: Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của kinh tế học hiện đại cũng thống nhất với trường phái tân cổ điển về các yếu tố tác động đến sản xuất và thống nhất cách phân tích tăng trưởng của Cobb-Dougls.
Nhưng các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng nền kinh tế phải vận động theo cơ chế hỗn hợp với nội hàm là nền kinh tế vừa chịu tác động của các chính sách và công cụ quản lý vừa chịu tác động của các lực của thị trường. Liều lượng pha trộn hai lực này do hoàn cảnh kinh tế - xã hội của từng nước từng thời kì và nhận thức của chính phủ. Vì vậy, học thuyết của Samuelson được coi là cơ sở của tăng trưởng lý thuyết hiện đại.