Chương 1 trình bày các nội dung liên quan đến sự cần thiết, mục tiêu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu hành vi mua sắm và thải bỏ sản phẩm công nghiệp xanh. - Chương 2 trình bày tổng quan nghiên cứu, giả thuyết và mô hình nghiên cứu. - Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu bao gồm: quy trình nghiên cứu, thang đo nghiên cứu, chọn mẫu, điều tra thu thập dữ liệu và các phương pháp phân tích dữ liệu. - Chương 4 trình bày các kết quả nghiên cứu.
- Chương 5 thảo luận về các kết quả nghiên cứu, trình bày kết luận, đề xuất và khuyến nghị, đóng góp của Luận án, hạn chế và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo. - Các phụ lục bao gồm: bảng hỏi, kết quả phân tích thống kê, phân tích cronbach alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Tóm tắt: Chương 2 trình bày các nội dung về tổng quan nghiên cứu hành vi tiêu dùng sản phẩm công nghiệp xanh, cụ thể như sau: - Hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh là hành vi qua đó việc tiêu dùng sản phẩm hướng đến mục đích là giảm thiểu tác động đến môi trường. Hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh bao gồm các hành vi chính là hành vi mua sắm, hành vi sử dụng và hành vi thải bỏ.
Sản phẩm công nghiệp xanh là sản phẩm xanh thuộc ngành công nghiệp. Hành vi tiêu dùng sản phẩm công nghiệp xanh là hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh thuộc ngành công nghiệp. - Khung lý thuyết TPB, VAB và TSP là các lý thuyết thích hợp để nghiên cứu hành vi mua sắm và hành vi thải bỏ sản phẩm công nghiệp xanh ở Việt Nam. Luận án tiếp cận theo hướng nghiên cứu tác động của các yếu tố tâm lý và văn hóa lên ý định hành vi mua sắm sản phẩm công nghiệp xanh.
- Các nhóm yếu tố văn hóa và tâm lý cần nghiên cứu bao gồm: i) Các yếu tố tác động trực tiếp lên ý định hành vi mua sắm sản phẩm công nghiệp xanh: AGPB, PCPB, SNP, PCEP; ii) Các yếu tố tác động trực tiếp lên thái độ đối với hành vi mua sắm sản phẩm công nghiệp xanh: EC, EB, GAP, SE; iii) Các yếu tố tác động trực tiếp lên quan tâm đối với môi trường: COL; GEN; iv) Các yếu tố tác động trực tiếp lên ý định hành vi thải bỏ sản phẩm công nghiệp xanh: GPBI, PCDB. - Giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu được phát triển dựa trên các kết quả nghiên cứu trước đây và thực tế về phát triển sản phẩm công nghiệp xanh ở Việt Nam. Có 12 giả thuyết nghiên cứu được xây dựng; mô hình có 14 khái niệm nghiên cứu bao gồm cả khái niệm về nhân khẩu học. Hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh và hành vi tiêu dùng sản phẩm công nghiệp xanh 2.
Hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh 2. Sản phẩm xanh Hiện nay có nhiều cách hiểu về khái niệm sản phẩm xanh. Một số khái niệm được công nhận rộng rãi là: Shadasani và các cộng sự (1993); Elkington & Mackower (1988); Simon (1995); Wang (2012); Nimse và các cộng sự (2007); Philip Kotler (2013). Shadasani và các cộng sự (1993) cho rằng sản phẩm xanh là sản phẩm không gây ô nhiễm, không làm suy giảm tài nguyên thiên nhiên, có thể tái sinh và bảo tồn tự nhiên (Shadasani và các cộng sự, 1993).
Wang (2012) cũng cho rằng sản phẩm xanh là sản phẩm thân thiện với môi trường. Nimse và các cộng sự (2007) cho rằng sản phẩm xanh là sản phẩm sử dụng nguyên liệu tái chế, thải ra ít chất thải, tiêu thụ ít nước, tiết kiệm năng lượng, bao gói ít, không phát thải ra chất độc hại (Nimse và các cộng sự, 2007) trích (Wang, 2012). Theo Philip Kotler (2013) sản phẩm xanh là sản phẩm được sản xuất bởi công nghệ xanh và không gây hại đến môi trường. Sản phẩm xanh có các đặc trưng sau: có thể tái chế, tái sử dụng và phân hủy sinh học; nguyên liệu sản xuất có nguồn gốc tự nhiên; bao gói có thể tái chế, tái sử dụng; không chứa hóa chất độc hại; không chứa hóa chất chưa được phép sử dụng; không gây hại hoặc gây ô nhiễm môi trường; không được phép thử trên động vật (Philip Kotler, 2013).
Ở Việt Nam sản phẩm xanh được hiểu là sản phẩm không độc hại, sử dụng năng lượng, nước hiệu quả và vô hại đối với môi trường (Thủ tướng Chính phủ, 2012). Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về sản phẩm xanh, tuy nhiên tập trung lại có thể hiểu rằng sản phẩm xanh là sản phẩm trong suốt vòng đời của nó từ sản xuất, 9 sử dụng đến thải bỏ có một trong các đặc tính như sau: i) Trong sản xuất: Sử dụng ít nguyên, nhiên, vật liệu; giảm thiểu về bao gói, không chứa chất độc hại; ii) Trong sử dụng: Tiết kiệm năng lượng, nhiên liệu, an toàn sức khỏe; iii) Trong thải bỏ: Có thể tái sinh, tái sử dụng và ít tác động tiêu cực đến môi trường. Hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh Tiêu dùng sản phẩm xanh được hiểu dưới nhiều khái niệm khác nhau: Tiêu dùng có trách nhiệm xã hội - socially responsible consumption (Antil, 1984); tiêu dùng có ý thức về mặt sinh thái - ecologically conscious consumption (Balderjahn, 1998); tiêu dùng quan tâm đến vấn đề sinh thái - ecologically concerned consumption (Balderjahn, 1998); tiêu dùng có trách nhiệm đối với môi trường – environmentally responsible consumption (Fraj-Andres & Martinez-Salinas, 2007); tiêu dùng thân thiện với môi trường – environmentally friendly consumption (Gupta & Ogden, 2009); tiêu dùng vì lợi ích đối với môi trường – pro-environmental consumption (Laroche và các cộng sự, 2001) và tiêu dùng xanh – green consumption (Prothero, 2008). Các khái niệm này có khác nhau về mặt ngữ nghĩa nhưng có bản chất giống nhau là đều hướng tới bảo vệ môi trường.
Ví dụ như theo Antil (1984), tiêu dùng có trách nhiệm xã hội (socially responsible consumption) là hành vi và hành động quyết định mua hàng của người tiêu dùng liên quan đến vấn đề tài nguyên và môi trường; nó không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng mà còn quan tâm đến các ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường. Trong khi đó theo Balderjahn (1998) tiêu dùng quan tâm đến vấn đề sinh thái – (ecologically concerned consumption) là các hành động sẵn sàng hoặc không sẵn sàng thực hiện việc tiêu dùng có tác động đến ô nhiễm môi trường. Như vậy, tiêu dùng xanh là hành động qua đó việc tiêu dùng sản phẩm hướng đến mục đích là giảm thiểu tác động đến môi trường thông qua việc sử dụng ít nguyên, nhiên, vật liệu; giảm thiểu về bao gói, không chứa chất độc hại; tiết kiệm năng lượng, nhiên liệu, an toàn sức khỏe; có thể tái sinh, tái sử dụng và ít tác động tiêu cực đến môi trường. Theo Kotler (1999), hành vi người tiêu dùng là những hành vi cụ thể của 10 một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và thải bỏ sản phẩm hay dịch vụ.
Kotler (1999) cho rằng những yếu tố bên ngoài khi chịu tác động bởi các yếu tố tâm lý sẽ gây ra những “đáp ứng” của người tiêu dùng. Những “đáp ứng” đó có thể là lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, lựa chọn nhãn hiệu, lựa chọn nhà kinh doanh, lựa chọn khối lượng mua. Hành vi người tiêu dùng được Hoyer & Macinnis (2010) định nghĩa với hàm ý rộng hơn. Hành vi người tiêu dùng phản ánh tổng thể các quyết định của người tiêu dùng đối với việc thu nhận, sử dụng, loại bỏ hàng hóa, dịch vụ, hoạt động, kinh nghiệm, con người và ý tưởng, bởi các đơn vị ra quyết định theo thời gian.
Cụ thể hơn, Hoyer & Macinnis (2010); Nguyễn Xuân Lãn và các cộng sự (2011); Vũ Huy Thông (2010) cho rằng hành vi tiêu dùng bao gồm hành vi mua sắm, hành vi sử dụng và hành vi thải bỏ sản phẩm (Hoyer & Macinnis, 2010; Nguyễn Xuân Lãn và các cộng sự, 2011; Vũ Huy Thông, 2010). Như vậy, hành vi tiêu dùng bao gồm các hành vi mua sắm, sử dụng, thải bỏ hàng hóa, dịch vụ, hoạt động, kinh nghiệm và ý tưởng. Từ phân tích trên cho thấy, hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh là hành vi qua đó việc tiêu dùng sản phẩm hướng đến mục đích là giảm thiểu tác động đến môi trường. Hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh bao gồm các hành vi chính là hành vi mua sắm sản phẩm xanh, hành vi sử dụng sản phẩm xanh và hành vi thải bỏ sản phẩm xanh.
Sau đây Luận án xem xét các khái niệm nghiên cứu này. Hành vi mua sắm sản phẩm xanh Khái niệm hành vi mua sắm sản phẩm xanh (green purchasing behaviour - GPB) được rất nhiều nghiên cứu đề cập đến và được hiểu dưới nhiều khái niệm khác nhau như: hành vi mua sắm sản phẩm bền vững đối với môi trường (purchasing behaviour for environmentally sustainable products) (Kumar, 2012); hành vi mua xanh (green buy behaviour) (Arttachariya, 2017; Dagher & Omar, 2014; Eze & Ndubisi, 2013; Tan, 2011); hành vi mua có ý thức đối với môi trường (environmentally conscious purchasing behaviour) (Arslan và các cộng sự, 2012); hành vi mua của người tiêu dùng đối với sản phẩm xanh (green product consumer buyer behaviour) (Bing và các cộng sự, 2011); hành vi sẵn sàng mua sản phẩm tái chế (willingness to pay for remanufactured products) (Michaud & Llerena, 2011). Tan (2011) cho rằng hành vi mua xanh là hành vi mua các sản phẩm khi sử dụng ít tác động đến môi trường. Tan (2011) cũng cho rằng các khái niệm tương đương với khái niệm hành vi mua xanh gồm có hành vi mua thân thiện với môi trường, hành vi mua có trách nhiệm với môi trường.
Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về hành vi mua sắm sản phẩm xanh nhưng các khái niệm này đều có nội hàm là mua sắm các sản phẩm có lợi cho môi trường với đặc tính thân thiện đối với môi trường hoặc các sản phẩm tái chế. Như vậy, hành vi mua sắm sản phẩm xanh là một giai đoạn trong hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh mang lại lợi ích cho môi trường thông qua việc sử dụng và thải bỏ các sản phẩm xanh với các đặc trưng sử dụng ít nguyên, nhiên, vật liệu; giảm thiểu về bao gói, không chứa chất độc hại; tiết kiệm năng lượng, nhiên liệu, an toàn sức khỏe; có thể tái sinh, tái sử dụng. Hành vi sử dụng sản phẩm xanh Hành vi sử dụng sản phẩm xanh (Green Using Behaviour – GUB) chưa được chú ý nghiên cứu (Ken Peattie, 2010). Các nghiên cứu tập trung vào việc sử dụng sản phẩm xanh tác động như thế nào đến việc mua sản phẩm lần tiếp theo.