Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 sẽ trình bày về những khái niệm lý thuyết quan trọng được sử dụng trong nghiên cứu và các mô hình nghiên cứu trước có liên quan. Từ đó, các giả thuyết và mô hình nghiên cứu của luận văn được đề xuất.1 CÁC LÝ THUYẾT VÀ KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU.1 Thương mại xã hội (Social Commerce). Thuật ngữ mạng xã hội được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 2005 trên blog tìm kiếm của Yahoo! Trong tiếp thị, thương mại xã hội được định nghĩa là một dạng truyền thông xã hội dựa vào Internet (Stephen, 2010), mọi người được phép tham gia tiếp thị và bán sản phẩm, dịch vụ trên các cửa hàng, cộng đồng trực tuyến.
Theo định nghĩa của IBM, thương mại xã hội là khái niệm truyền miệng (WOM), vì nó cung cấp một phương tiện để người tiêu dùng thảo luận về sản phẩm và chuyển tải thông tin có liên quan. Về tâm lý học, (Marsden, 2009) thương mại xã hội là việc người mua hàng bị ảnh hưởng bởi các thông tin từ những người dùng khác trong cộng đồng trực tuyến mà họ tham gia. Về mặt xã hội học, thương mại xã hội tập trung vào các đánh giá tác động của ảnh hưởng xã hội. Bên cạnh đó thương mại xã hội cũng được là một sự phát triển mới trong thương mại điện tử với sự phổ biến của các trang mạng xã hội và phương tiện truyền thông xã hội.
Đây được coi là một tập con của thương mại điện tử dùng truyền thông xã hội - để hỗ trợ tương tác xã hội và đóng góp của người dùng, nhằm tăng cường trải nghiệm mua hàng trực tuyến và cho phép họ gắn kết vào môi trường trực tuyến mang tính cộng tác (Curty, 2011). Thương mại xã hội ở đây được hiểu là một hình thức kinh doanh của thương mại được thông qua các phương tiện truyền thông xã hội (Kim và Park, 2013). Mặc dù thương mại xã hội là một tập hợp con của thương mại điện tử, nó vẫn có một số đặc điểm độc đáo tạo điều kiện cho khách hàng có những trải nghiệm đặc biệt. Người dùng thương mại xã hội dựa vào các thông tin được chia sẻ bởi người dùng khác để hỗ trợ cho việc đưa ra quyết định mua hàng.
Do vậy mọi khách hàng sẽ có các nhóm cộng đồng có cùng sở thích, đam mê và cùng mục tiêu và cho phép người tiêu dùng duyệt thông tin và xem sản phẩm cũng như mua chúng (Stephen, 2010).2 Trải nghiệm dòng chảy của khách hàng (Flow). Lý thuyết trải nghiệm dòng chảy của khách hàng ban đầu được đề xuất bởi nhà tâm lý học (Csikszentmihalyi, 1990) định nghĩa đây là trạng thái xảy ra khi một người tham gia trọn vẹn và mạnh mẽ vào một hoạt động. Trải nghiệm dòng chảy của khách hàng về trang thương mại xã hội ở đây được hiểu là cảm nhận của khách hàng về mức độ tập trung, thu hút, tò mò, say mê của họ khi bản thân họ tham gia tương tác trong trang thương mại xã hội (Zhang, 2014). Clarke và Haworth (1994) đã bày tỏ về trải nghiệm dòng chảy của khách hàng như một trải nghiệm có cảm giác hoàn toàn hài lòng và hạnh phúc trong quá trình trải nghiệm.
Trải nghiệm dòng chảy của khách hàng còn được gọi là những trải nghiệm tối ưu từ đây mang lại cảm giác khoái cảm cho người dùng (Kim, 2020). Hơn nữa, người thể tham gia hoàn toàn nghĩ rằng đây là trải nghiệm bổ ích, điều này khiến các cá nhân cảm thấy rằng thời gian đang trôi qua một cách nhanh chóng. Đối với một trang web thì luôn mong muốn mang lại sự đắm chìm vào việc duyệt web cho người dùng từ đó người dùng sẽ tham gia đầy đủ hơn vào thương mại xã hội và làm tăng ý định mua hàng (Kim, 2020).3 Tương tác cảm nhận (Perceived interactivity). Tương tác cảm nhận của người dùng đối với một phương tiện là mức độ mà người dùng sử dụng trang web đó, trong việc sửa đổi hình thức và nội dung (Steuer, 1992).
Tương tác cảm nhận về một trang thương mại xã hội là cảm nhận của khách hàng về mức độ mà họ có thể kiểm soát trang thương mại xã hội đó thông qua các hoạt động hiệu chỉnh nội dung và hình thức trên trang này (Zhang, 2014). Nó tập trung vào sự tương tác giữa các cá nhân và trang web công nghệ (Steuer, 1992). Đây là một trong những điểm nổi bật được thể hiện qua khả năng tương tác để nêu lên những tác động của khách hàng đối với trang web (Jiang, 2007). Tương tác cảm nhận cho phép khách hàng khắc họa hình ảnh hoặc cảm xúc của chính mình lên trang web (Animesh, 2011).
Trong nghiên cứu (Gofiman, 1959) chỉ ra rằng mọi người đều có xu hướng muốn thể hiện cảm nhận riêng trên trang thương mại xã hội và mong muốn nó sẽ ảnh hưởng người dùng khác và đó là lý do người sử dụng phương tiện này. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào đánh giá tương tác được cảm nhận đối với những trải nghiệm dòng chảy trong môi trường thương mại xã hội.4 Cá nhân hóa cảm nhận (Perceived personalization). Cá nhân hóa cảm nhận được định nghĩa là cảm nhận của khách hàng về việc trang này có thể điều chỉnh nội dung hay hình thức để đáp ứng những sở thích và thị hiếu tiêu dùng của họ (Zhang, 2014). Điều này thể hiện việc cung cấp dịch vụ cho từng cá nhân dựa trên sở thích riêng của họ (Li, 2016).
Tất cả nhằm tạo mối quan giữa người bán và người mua trở nên gắn khít hơn, tạo sự gắn bó và lòng trung thành của người tiêu dùng đối với thương hiệu, cuối cùng là thúc đẩy hành vi mua hàng của người tiêu dùng (Hollebeek, 2014). Điều này có thể giải thích tại sao cá nhân hóa cảm nhận trong môi trường thương mại xã hội hiện nay thì càng ngày càng trở nên quan trọng. Đối với các công ty có lượt truy cập vào dữ liệu lớn về những thói quen mua sắm của khách hàng, thì có thể phân tích những yếu tố thị hiếu và sở thích và so sánh với các mẫu người dùng tương tự để tạo nên hồ sơ khách hàng (Ansari & Mela, 2003; Lavie, 2010; Li, 2016; Wedel & Kannan, 2016). Với dữ liệu này nếu các doanh nghiệp có thể tùy chỉnh các tương tác của họ với người dùng để làm nổi bật một lên sản phẩm cụ thể mà người dùng quan tâm, làm cho người dùng có thể thấy hấp dẫn khi sử dụng.
Do đó, cá nhân hóa cảm nhận cho phép các công ty và người tiêu dùng tham gia và tương tác một cách gián tiếp làm tăng trải nghiệm dòng chảy của khách hàng (Maslowska, 2016). Tuy nhiên, tác động của cá nhân hóa không phải lúc nào cũng mang lại tích cực, một số người dùng phản ứng tiêu cực với quảng cáo cái mà họ coi là cá nhân đến mức xâm phạm quyền riêng tư của họ (White, 2008).5 Hòa đồng cảm nhận (Perceived sociability). Hòa đồng cảm nhận ở đây được hiểu là cảm nhận của khách hàng về mức độ mà trang thương mại xã hội có thể hỗ trợ việc chia sẻ của họ (Zhang, 2014), đây là đặc điểm cần thiết để xây dựng một trang thương mại xã hội hữu hiệu nhằm tạo điều kiện để củng cố các tương tác, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả của việc sử dụng, mua hàng của người dùng (Kankanhalli & Sabherwal, 2009). Preece (2001) nêu lên hòa đồng cảm nhận là tất cả các chính sách và kỹ thuật hỗ trợ nhằm mục đích tương tác trong cộng đồng trực tuyến.
Họ xem hòa đồng cảm nhận là đặc điểm cần thiết để xây dựng một trang thương mại xã hội và tạo điều kiện để củng cố các tương tác trên đó, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả của việc tiếp cận hoặc học hỏi của người dùng.6 Hiện diện xã hội (Social presence). Hiện diện xã hội thường đề cập đến mức độ người dùng tương tác thông qua phương tiện xã hội mà ở đó mà họ cảm thấy như họ được trao đổi lẫn nhau và có sự hiện diện của chính mình trên trang web này (Sallnas, 2005; Biocca & Harms, 2003; Schroeder, 2002). Hiện diện xã hội được Heeter (1992) định nghĩa là mức độ nhận thức về hiện diện hoặc trao đổi của một người đối với người khác và mức độ cảm nhận về người khác trong tương tác này. Theo quan điểm của Hassanein & Head (2006) đã định nghĩa hiện diện xã hội là mức độ mà các trang thương mại xã hội cho phép người dùng trải nghiệm đối là đang hiện diện trên trang web này so với người khác.
Trong nghiên cứu hiện tại, hiện diện xã hội được hiểu là mức độ cảm nhận của khách hàng về các thuộc tính ấm cúng, gần gũi hay có ý nghĩa xã hội trong các tương tác xảy ra trong một trang thương mại xã hội (Zhang, 2014). Hiện diện xã hội trong một thị trường trực tuyến tăng cường sức mạnh của sự tương tác giữa mọi người hoặc tổ chức (Rahman, 2020). Dường như cảm giác hiện diện trong một môi trường mạng xã hội sẽ được tăng lên bằng cách thúc đẩy các tương tác, trong đó những thay đổi của môi trường mạng xã hội do hành động của một người tham gia được những người tham gia khác nhận thức rõ ràng. Do đó, cảm giác hiện diện trong môi trường chung của trang mạng xã hội là cái tạo nên cảm giác về sự gắn kết của tất cả các thành viên trong nền tảng thương mại xã hội theo nghiên cứu của Rahman (2020).7 Sự kết nối của sản phẩm (Product Involvement).
Sự kết nối của sản phẩm có nghiên cứu lần đầu tiên được đề xuất và phân tích bởi Zaichkowsky (1985). Sự kết nối sản phẩm ở đây được hiểu là sự cảm nhận về mức độ gắn bó, quan tâm, hứng thú của khách hàng đối với một đối tượng giao dịch (như một sản phẩm, dịch vụ cụ thể) trên trang thương mại xã hội (Mittal, 1989). Ngoài ra, sự kết nối của người tiêu dùng vào các sản phẩm được bán trên trang thương mại xã hội có ảnh hưởng đến trải nghiệm và hành vi của người tiêu dùng trên trang web đó (Novak, 2000).8 Kỹ năng về duyệt Website (Webskill). Kỹ năng về duyệt Website là sự đánh giá của người dùng về khả năng trình độ sử dụng trang web của họ (Kalia, 2016a).
Người dùng các trang web có các kỹ năng duyệt web giúp họ có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin sản phẩm (Novak, 2000) và cảm thấy sẽ ít rủi ro hơn khi mua sắm trực tuyến (Zhang, 2002). Việc một người sử dụng 13 trang web thông thạo sẽ làm cho họ giảm sự lo lắng (Marakas, 1998). Nhờ vậy các kỹ năng luôn được tìm thấy là tiền tố quan trọng để đánh giá và phát triển trang web.