Chương I. Các quy định chung "Điều 1. "Phạm vi áp dung” (Phạm vi áp dụng về mật nội dung) “Trong pháp luật, sự ngắn gọn, xúc tích của một văn bản pháp luật cho phép thẩm phán. VÀ các cơ quan chức năng có thể thích ứng van bản đồ với sự tiến triển của tình hình thực tế.
"Điều 1 của dự thảo đã được rút ngắn đáng kể và do tinh khái quất cao của nó, cho phép bao "hàm các loại ình hoạt động thương tại điện từ khác nhan. Phuong án 1 của điều 1 củ: dự thảo rat gin với điều 1 của Luật mẫu về thương mại điện tử của Uỷ ban Pháp luật thương mai quốc tế của Liên hợp quốc. Phương án này cho phép loại bỏ những khó khăn vé việc xác định giao dịch thương mai điện tử tong dự thio ngày 15- 7. Tuy nhiên, thuật ngữ "giao dịch thương mại điện từ” không được gay nhầm lấn: thuật ngữ "này bao him cả các giao dịch giữa hai thương nhân cũng như các giao dịch có tinh hỗn hợp và fe giao địch dân sự, bai vì Internet a môi trường thuận lợi cho sự phát triển ngày càng mạnh.
của các giao dich giữa các cá nhân. Theo UJ ban Pháp luật thương mai quốc tế của Liên hop cquốc, thuật ngữ "thương mại" được hiểu theo nghĩa rất rộng. Hơn nữa, phương én 1 của điền 1 6 bất cập ở chỗ quy định quá hạn hẹp phạm vi áp dung của Pháp lệnh. Trong khi đó, Pháp nh không chỉ điều chỉnh các dữ liu điện từ mà còn điều chỉnh một số hoạt động khác (nhà “ng cấp dịch vụ truy cập mạng, các cơ quan chứng nhận).
Ngoài ra, chúng ta cũng không nên hiểu thuật ngổ “giao dich” theo nghĩa hẹp là một hợp đồng mà phải hiểu nó theo một nghĩa rộng, bao hàm nhiều hoạt động khác nhau như quing co, to VỊ. Do vậy, heo tôi thi chúng ta nên lựa chọn phương ấn 2 theo Luật của Hàn Quốc, phương án này có thể được sửa đổi như sau để loại bỏ thuật ngữ "giao dịch thương mại": “Pháp lệnh này điều chỉnh việc sử dụng dữ liệu điện tử trong các hoạt động kinh tế. cược thực hiện trên các mạng thông tin. ‘Toi cho rằng phạm vi điều chỉnh cia Pháp lệnh không phải là "đã liệu điện tử” mà là “vige sit dung dt liệu điện tử”.
Néu quy định rằng Pháp lệnh điều chỉnh "dữ liu điện từ” thi phạm vỉ điều chỉnh sẽ via quá hep lại vừa quá rộng. Quá hẹp à bởi vi nó không bao him được những hoạt động khác, ví dy như địch vụ tray cập chẳng hạn. Quá rộng là bởi vi dữ iệu điện tử có thể là những chiếc đĩa CD được mua bán ngoài phố theo cách truyền thống. Điều quan trọng ở đây là hoạt động của con người, chứ không phải là dữ liệu điện tử.
Nếu chỉ điều chỉnh dữ liệu điệ tử thì Pháp lệnh này sẽ chỉ còn 18 một van bản điều chỉnh vé vấn để chứng cứ. "Nếu chúng ta quy định : "pháp lệnh này điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử” thì nội dung có thể vin Tà một, song về hình thức sẽ dat ra vấn dé. Vấn để nằm ở chỗ Pháp lệnh không định nghĩa thế nào là “thuong mại điện tủ”. Ngoài ra, liệu dich vụ truy cập mang và dich vụ cho thuê trang web mà chúng ta dang muốn điều chỉnh có phải là một bộ phận của “hương mại ign tử” hay không? Đây là điều chúng ta không khẳng định duge.
Do đó, thuật 2 ‘Bin địch của Nhà Pháp lust Việt Pháp ngữ "dữ liệu điện tử” cần được đưa vio, trong điều này, bởi vì nó được định nghĩa trong Pháp lệnh, nó được sử dụng trong luật mẫu của UNCITRAL và nó cho phép bao hàm được nhiều nội dung hoạt động nhất. Từ "sử dụng” có thể được hiểu ]à việc truyền tải và nhận dữ liệu cũng như các hoạt động trung gian kỹ thui. "Đối tượng áp dung” (Phạm vi áp dụng về mat không gian) Phương pháp tiếp cận đâu iên ở đây là phải xác định xem có cần thiết quy định một điều khoản đặc bit vẻ đối tượng áp dụng của Pháp lạnh khong (như điều 2 của dy thảo) hay quy định đó là quá ta, bd lẽ khi mà pháp luật Việt Nam được ấp dung một cách tổng thể thì "Pháp enh này cũng sẽ được ép ding. Quy định một điền khoản đạc biệt về đi tượng áp dụng của một van ban sẽ buộc phải xc định một cách đơn phương các trường hợp và những cá nhân, ổ chức dược diều chỉnh bởi ăn bản đó.
Thông thường, chúng ta làm theo cách đó khi văn bản đó là một van bản thuộc luật công hoặc một văn bản quy định về việc tham gia của các cá nhân, tổ chức vào các host động kinh tế (giấy phép, các điều kiện về bing cấp.), hoặc một văn bản có tâm quan trọng đến mức được coi là văn bản có hiệu lực bắt bude trên phạm vi quốc tế” XKhi văn bin có các quy định cụ thể để bổ sung cho các quy định của luật tu pháp hiện hành và digu chỉnh các vấn dễ liên quan đến pháp luật về chứng cứ, pháp luật về hợp đồng hoặc pháp luật về trách nhiệm dân sự thì chúng ta sẽ lựa chon phương thúc song phương về giải quyết xung đột pháp luật. Đối với một quan hg có yến t6 nước ngoài, sẽ phải xem xét áp dung pháp luật Việt Nam hay pháp luật nước ngoài. Căn cứ vào các quy định về xung đột pháp It, thẩm phần sẽ quyết định áp dụng pháp luật nước nào. Ví dụ, nếu nay sinh một tranh chấp liên quan đến nội dung của một hợp đồng điện tử (không thực hiện hợp đồng) và nếu các bên “không xác định luật 4p dung thì thẩm phán sẽ phải xác định luật ấp dụng cho hợp đồng đó.
Vi du, thẩm phần sẽ xác định luật Việt Nam I luật áp dung. Sau khỉ đã xác định được như vậy, thẩm phán sẽ tìm kiếm các quy định thích đáng trong pháp luật hợp đồng của Việt Nam: để giải quyết một vấn 48 cụ thể, thẩm phán sẽ nghiên cứu Bộ luật dân sự Việt Nam và cả Pháp lệnh về thương mại điện từ nữa. Như vậy, các quy định của Pháp lệnh sẽ được áp dụng mà “không cần có bất cứ mot điều khoản đặc biệt nào quy định điều đó trong phần các quy định chung của Pháp lệnh. Tương tự nhu vậy, có thể này sinh tranh chấp liên quan đến hiệu lực của một văn bản điện tử được giao kết giữa một người Việt Nam với một người nước ngoài, hoặc.
liên quan đến giá trị chứng cứ của một văn bản điện tử. Trong trường hợp này, sẽ phải xem xét ình thức của hợp đồng. Theo các quy định truyền thống vé giải quyết xung đột pháp luật, liên quan đến hình thức của văn bản, thì có thể lựa chọn, hoặc luật nơi toà án thụ lý tranh chấp, hoặc luật nơi giao kết hợp đồng. Do vay, thẩm phán Việt Nam sẽ phải xác định trước tiên là về ình thức văn bản, có phổi luật Việt Nam sẽ được áp dung hay không, vớ tính chất là luật nơi toà ấn thụ lý tranh chấp chẳng hạn.
Nếu đúng như vậy thì sẽ phải áp dung các quy định tại chương II và chương II của Pháp lệnh thương mại đệ tử Dé lựa chọn phương thức xác định phạm vi áp dụng của Pháp lệnh trên phương điện -quốc tế, phải etn cứ vào nội dung của Pháp lệnh và các quy định của Pháp lệnh đó. Trong Khi 45, khi nghiên cứu một cách tổng thể Pháp lệnh này, tối thấy rằng Pháp lệnh bao gồm chủ yến các quy định thuộc tư pháp, Các chương II va II quy định về hình thức cba văn bản điện từ 1B Bin dich ca Nn Pháp hạt Việt Pháp (php luật về chứng cứ và hiệu lục của văn bản). Chương IV quy định về hợp đồng. Chương V bao gồm cd các quy định về chứng cứ và ¿ác quy định về trích nhiệm của nhà cung cấp dich vụ truy cập mang.
Pháp lệnh không có quy định nào về việc tham gia các hoạt động thương “mại điện tit Pháp lệnh không quy định bất cứ nghĩa vy nào về việc cấp phép cho các nhà cung, cấp dich vụ truy cập mạng, các nhà cung cấp dịch vụ. hoặc các tổ chức chứng nhận. Các tác nhân này cổ phải được cấp phép thì mới được hoạt động không? Những thủ tục cần thiết để yeu cầu cũng cấp địch vụ. hoặc chứng nhận chữ ký điện từ là gi? Chỉ cần quy định rõ những cá nhân, tổ chức chịu sự điều chỉnh của Pháp lệnh rong trường hợp Pháp lệnh có những quỷ định về các vấn để nêu trên.
Tuy nhiên, khi đọc dy thảo Pháp lệnh, tôi thấy rằng Pháp lệnh không trực tiếp quy định về việc tham gia của các cá nhân, tổ chức vào hoạt động thương mai điện tử. Điều 15 chỉ quy định ác teu chuẩn về cung cấp dịch vụ của tổ chức chứng nhận, Các tổ chức chứng nhận phii tuân thi "các tiêu chuẩn áp dụng cho hoạt động cấp chứng nhận điện tử", Nhưng chính co quan nhà nước chị trách nhiệm quản lý hoạt động chứng nhận điện tử sẽ uy định các tiêu chuẩn này (điều 17). Tương tự như vay, điều 16 chỉ quy định về trách nhiệm của nhà cung cấp địch vụ tuy cập mạng mà không quy định ác điều kiện quả lý về hành nghề. Khoi cuối của điểu 2 cho thấy rõ là xét về mặt tổng thể, Pháp lệnh này được coi như một văn bản pháp luật thuộc tư pháp ma các bên có quyển tho thuận áp dụng trên cơ sỡ thực hiện quyển tự do ý chí cña mình.
Về mặt kỹ thuật, một quy định như vay à không cần thiết vì «di sao di nữa, các bên có thể quy định một điều khoản về luật áp dụng đối với hợp đồng của họ, có thể lựa chọn pháp luật Việt Nam nói chung và Pháp lệnh này nói riéng. Do vay, đưa them khoản 2 vào điều 2 chỉ có gi tr giải thích chứ không cổ giá tị quy phạm pháp luật. "Điều khoản đặc biệt về đối tượng áp dụng của Pháp lệnh có lễ chỉ nên giữ lại néu Pháp ệnh được bổ sung sau đó bằng các quy định cụ thể vẻ chính các tổ chức, cá nhân đó (quy chế, cấp phép) hoặc các nghĩa vụ của họ (ví du, nghĩa vụ cũng cấp thông tin về trang Web cia "mình).