Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Nội dung chương 2 sẽ trình bày các khái niệm quan trọng dùng trong nghiên cứu như sự sẵn sàng đồng tạo sinh giá trị, tương tác giữa khách hàng-khách hàng, tương tác giữa khách hàng-người bán, hành vi tham gia của khách hàng, môi trường dịch vụ, lòng trung thành (với người bán và với nền tảng) đồng thời giới thiệu các nghiên cứu đã thực hiện trước đó, các giả thuyết của mô hình và đề xuất mô hình nghiên cứu. CÁC LÝ THUYẾT VÀ KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU 2. Sự sẵn sàng đồng tạo sinh của nền tảng (DART) Theo Prahalad và Ramaswamy (2004), khi chúng ta chuyển sang trải nghiệm đồng tạo sinh làm nền tảng của giá trị, tương tác cơ bản giữa người bán và người tiêu dùng thay đổi về đặc tính và tầm quan trọng, lúc này sự tương tác trở thành quỹ đạo của việc tạo ra giá trị, sự tương tác có thể ở bất kỳ đâu trong hệ thống, không chỉ ở điểm bán hàng hoặc dịch vụ khách hàng thông thường.
Để tạo ra hiệu quả, chúng ta cần đầu tư vào việc xây dựng các khả năng tập trung vào việc đồng tạo sinh thông qua các tương tác chất lượng cao giữa các bên và trải nghiệm đồng tạo sinh được cá nhân hóa (Prahalad và Ramaswamy, 2004). Như vậy, sự sẵn sàng đồng tạo sinh nói chung và của nền tảng nói riêng cần được xuất phát từ hai phía. Đồng tạo sinh giá trị, với tư cách là một quá trình tổ chức, bao hàm sự tham gia của các nhà quản lý, nhân viên và khách hàng nhưng tác nhân cuối cùng và quan trọng nhất luôn là khách hàng. Các nhà quản lý chịu trách nhiệm thiết kế một quy trình cho phép hoặc thậm chí khuyến khích khách hàng đóng vai trò tích cực, do đó thực hiện các điều chỉnh có thể cần thiết trong tổ chức.
Trong bối cảnh bài nghiên cứu trong lĩnh vực thương mại điện tử ngành bán lẻ, khái niệm đồng tạo sinh giá trị được hiểu là quá trình tương tác tích cực giữa các nền tảng thương mại điện tử, nhà bán lẻ và khách hàng để tạo ra giá trị. Việc tạo ra giá trị này tập 11 trung vào việc cải thiện trải nghiệm của khách hàng thông qua các cải tiến tiêu chuẩn trong quy trình cung cấp dịch vụ hoặc điều chỉnh dịch vụ phù hợp với nhu cầu hoặc yêu cầu cụ thể của từng khách hàng riêng lẻ (González-Mansilla và cộng sự, 2019), điều này thúc đẩy sự sẵn sàng đồng tạo sinh của nền tảng, đặc biệt phù hợp với ngành công nghiệp bán lẻ. Nghiên cứu Prahalad và Ramaswamy (2004) về đồng tạo sinh giá trị bao hàm một quan điểm tổng thể, xác định các khía cạnh của đối thoại, tiếp cận, rủi ro và minh bạch (DART) là các yếu tố chính và cung cấp một khuôn khổ sẽ hỗ trợ các tổ chức quản lý quá trình đồng sáng tạo giá trị. Mô hình DART dự đoán rằng chúng ta phải tận dụng cơ hội để tạo điều kiện cho các tương tác tạo ra giá trị trao quyền cho khách hàng để cùng hình thành trải nghiệm của họ, giả định này có thể mở ra những con đường mới cho lợi thế cạnh tranh.
Sự tương tác để tạo giá trị này sẽ là tiền đề cho sự sẵn sàng đồng tạo sinh trong bối cảnh nền tảng thương mại điện tử. Các tương tác này được xác định trong Bảng 1. Bảng 1: Định nghĩa của các yếu tố DART (Sokalis, 2022) Kí hiệu Khái niệm Định nghĩa Hàm ý cho sự tương tác, sự tham gia sâu sắc, khả D Đối thoại (Dialogue) năng và sự sẵn sàng hành động của cả hai bên Đề cập đến việc cung cấp đầy đủ thông tin cho khách A Truy cập (Access) hàng từ công ty/người bán Đề cập đến một số rủi ro liên quan đến các sản phẩm R Rủi ro (Risk) hoặc dịch vụ cung cấp cho khách hàng Minh bạch Hàm ý quản lý các luồng thông tin giữa hai bên một T (Transparency) cách minh bạch. Khái niệm về tương tác khách hàng (Customer interactivity) Tính tương tác là một đặc tính quan trọng của thương mại điện tử.
Dựa trên định nghĩa về tính tương tác được phát triển bởi Steuer (1992), mở rộng ra hơn trong bối cảnh 12 thương mại điện tử thì khái niệm tương tác khách hàng là: mức độ mà người tiêu dùng tham gia vào các hoạt động mua sắm trên các nền tảng trực tuyến và kết quả là tạo ra thông tin và chia sẻ thông tin với nhau để đạt được sự đồng thuận trong một môi trường dịch vụ. • Tương tác giữa khách hàng-khách hàng (Customer to customer interactions). Theo Lee (2005), tương tác giữa khách hàng và khách hàng được phản ánh bằng tính kết nối. Khả năng kết nối đề cập đến “mức độ mà người dùng có thể chia sẻ sở thích chung và trao đổi thông tin hữu ích thông qua như cộng đồng trực tuyến, nhóm tin tức hay nhóm trò chuyện trực tuyến”.
Lin và cộng sự (2020) cho rằng tương tác giữa các khách hàng có thể tạo ra ảnh hưởng quan trọng đến trải nghiệm của khách hàng (ví dụ: cảm xúc) và kết quả của những trải nghiệm đó. Những nghiên cứu trước đây đã chia tương tác giữa khách hàng-khách hàng ra thành nhiều loại, chẳng hạn như: tương tác với bạn bè/gia đình (Parker & Ward, 2000), tương tác trên các nền tảng mạng xã hội (Soderlund, 2011). Mỗi một tương tác sẽ có sự khác biệt chẳng hạn như tương tác với bạn bè/gia đình đây là kiểu tương tác dựa trên các mối quan hệ huyết thống và mối quan hệ thân thiết bền chặt giữa hai bên. Với sự phát triển của công nghệ mạng xã hội, ngoài tương tác trực tiếp, ngày nay có rất nhiều trang mạng xã hội và diễn đàn về mua sắm trực tuyến.
Ở đó, tương tác giữa khách hàng và khách hàng ngày càng trở nên gần gũi hơn, khách hàng tương tác với nhau qua các bài đăng trực tuyến hoặc trên các bình luận đánh giá giữa rất nhiều khách hàng đã mua hoặc có ý định mua. • Tương tác giữa khách hàng-người bán (Customer to vendor interactions) Ngoài việc khách hàng tương tác với nhau, chúng ta còn một hình thức tương tác xã hội khác trong bối cảnh mua sắm trực tuyến là giữa khách hàng và người bán (Tajvidi và cộng sự, 2021). Tương tác giữa khách hàng-người bán cho phép nhà bán lẻ giao tiếp với khách hàng của họ thông qua các nền tảng giao tiếp online với các nội dung (content) 13 mà nhà bán lẻ tạo ra và do đó cung cấp hỗ trợ để tham gia vào việc ra quyết định tốt nhất (Tajvidi và cộng sự, 2021). Sự tương tác này liên quan đến hai hoạt động tương tác.
Thứ nhất, người bán yêu cầu người tiêu dùng cung cấp thông tin cá nhân làm đầu vào cho quá trình mua sắm (Gvili & Poria, 2005) và thứ hai là cung cấp nội dung tiếp thị do nhà bán lẻ tạo ra để giúp họ đánh giá liệu một sản phẩm hoặc dịch vụ có khả năng đáp ứng mục tiêu tiêu dùng của họ hay không (Goh, Heng, & Lin, 2013). Hành vi tham gia của khách hàng (Customer participation behavior) Sự tham gia của khách hàng được các công ty sử dụng rộng rãi để đưa khách hàng đến gần hơn với doanh nghiệp (Aul và cộng sự, 2019). Trước đây, Lovelock và Young (1979) đề cập sự tham gia này có thể giải quyết những hoạt động trao đổi qua lại giữa khách hàng và nhân viên, thực tiễn chứng minh rằng cách chúng ta quản lý khách hàng bằng cách mời họ tham gia vào việc tạo ra và cung cấp dịch vụ trong các tổ chức như một phương tiện để tăng năng suất và cải thiện hoạt động dịch vụ. Mở rộng ra hơn về hành vi tham gia của khách hàng, theo Dong và Sivakumar (2017), đây chính là việc khách hàng sử dụng các nguồn lực vật chất, tinh thần, … tham gia vào toàn bộ quy trình dịch vụ, có thể bao gồm nhiều hoạt động như liên quan đến các yêu cầu kỹ thuật, thiết kế, sản xuất, giao hàng, cung cấp thông tin, trao đổi kiến thức hoặc đảm bảo chất lượng quá trình sử dụng dịch vụ.
Ngoài ra, Blasco-Arcas (2014) đề xuất rằng việc các trải nghiệm liên quan đến việc tham gia đồng tạo sinh giá trị (co-creation) thường liên quan đến các hoạt động được xác định bởi công ty khi cho phép khách hàng cá nhân hóa và thiết kế sản phẩm, chia sẻ thông tin, đưa ra đề xuất, cung cấp thông tin về nhu cầu cá nhân và tham gia vào quá trình ra quyết định (Chan, Yim và Lam 2010), tất cả nhằm phát triển mối quan hệ giữa công ty và khách hàng và phù hợp với trải nghiệm tổng thể. Như vậy, hành vi tham gia của khách hàng được các công ty và tổ chức sử dụng rộng rãi để đưa khách hàng gần hơn với thương hiệu của mình. Trong bối cảnh phát triển của các 14 hoạt động thương mại điện tử, vai trò của khách hàng và hành vi tham gia của khách hàng ngày càng được coi trọng. Môi trường dịch vụ cảm nhận (Perceived service climate) Môi trường dịch vụ được đề cập đến là những nhận thức của nhân viên về các hoạt động và hành vi được khen thưởng, hỗ trợ và mong đợi liên quan đến dịch vụ khách hàng và chất lượng dịch vụ khách hàng (Schneider và cộng sự, 1998).
Điều này có nghĩa nhân viên tích hợp nhận thức hàng ngày của họ về các sự kiện tại nơi làm việc với và các chủ đề quan trọng trong môi trường làm việc của họ, khi đó việc tạo ra một dịch vụ xuất sắc là một chủ đề quan trọng trong một tổ chức (Dietz và cộng sự, 2004). Mayer và cộng sự (2009) lập luận rằng môi trường dịch vụ là quan trọng nhất trong các tình huống dịch vụ không chắc chắn và không thể đoán trước, bởi vì môi trường dịch vụ cung cấp các cơ chế kiểm soát gián tiếp đối với các hoạt động dịch vụ liên tục hoặc thậm chí rời rạc. Jung và cộng sự (2017) đưa ra khái niệm về nhận thức của khách hàng về môi trường dịch vụ của tổ chức, được định nghĩa là nhận thức của khách hàng về mức độ mà một tổ chức dịch vụ giảng dạy, ưu tiên và công nhận dịch vụ khách hàng xuất sắc thông qua các thủ tục và hoạt động thực tiễn của tổ chức. Điều này có ý nghĩa trong bối cảnh của thương mại điện tử bán lẻ.