Nghiên Cứu Khả Năng Áp Dụng Mô Hình Kinh Tế Tuần Hoàn Cho Ngành Khai Thác Mỏ Ở Việt Nam

Khóa luận phân tích khả năng áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn cho ngành khai thác mỏ tại Việt Nam, hướng tới phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy

2020

59
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Ngành khai thác mỏ ở Việt Nam

1.2. Ngành công nghiệp khai thác mỏ ở Việt Nam

1.3. Vấn đề môi trường do hoạt động khai thác mỏ ở Việt Nam

1.4. Tổng quan kinh tế tuần hoàn và áp dụng kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực khai thác mỏ

1.4.1. Khái niệm về Kinh tế tuần hoàn

1.4.2. Nội dung, nguyên tắc của Kinh tế tuần hoàn

1.4.3. Lợi ích của nền Kinh tế tuần hoàn trong phát triển bền vững

1.5. Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng Kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực khai thác mỏ

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu

2.2.2. Phương pháp điều tra, khảo sát hiện trường, phỏng vấn

2.2.3. Phương pháp đánh giá tổng hợp

2.2.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

2.2.5. Phương pháp SWOT

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thực trạng bước đầu áp dụng mô hình nền kinh tế tuần hoàn trong ngành khai thác mỏ Việt Nam

3.2. Tổng quan về chính sách và pháp luật về quản lí môi trường trong hoạt động khai thác mỏ

3.3. Nghiên cứu điển hình về thực trạng bước đầu áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn của Công ty cổ phần Than Mông Dương – Vinacomin

3.4. Thực trạng bước đầu áp dụng kinh tế tuần hoàn đối với ngành mỏ Việt Nam. Đánh giá khả năng áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn cho ngành khai thác mỏ ở Việt Nam sử dụng phương pháp SWOT

3.5. Thách thức

3.6. Đề xuất các giải pháp thúc đẩy áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn cho ngành khai thác mỏ ở Việt Nam

3.6.1. Cơ chế chính sách

3.6.2. Khoa học - Công nghệ

3.6.3. Giáo dục tuyên truyền nâng cao nhận thức

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về kinh tế tuần hoàn và ngành khai thác mỏ

Kinh tế tuần hoàn là mô hình kinh tế hướng đến việc tái sử dụng, tái chế và giảm thiểu chất thải, nhằm tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Trong ngành khai thác mỏ, việc áp dụng mô hình này có thể giúp giảm thiểu tác động môi trường và tăng hiệu quả kinh tế. Ngành khai thác mỏ tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhưng cũng gây ra nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên. Việc áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn có thể là giải pháp để phát triển bền vững.

1.1. Khái niệm và nguyên tắc của kinh tế tuần hoàn

Kinh tế tuần hoàn dựa trên nguyên tắc đóng vòng lặp tài nguyên, từ khai thác, sản xuất, tiêu dùng đến tái chế. Mô hình này khác biệt với kinh tế tuyến tính truyền thống, nơi tài nguyên bị khai thác, sử dụng và thải bỏ. Trong ngành khai thác mỏ, việc áp dụng các nguyên tắc này giúp tái sử dụng chất thải mỏ, giảm thiểu tác động môi trường và tăng hiệu quả kinh tế.

1.2. Lợi ích của kinh tế tuần hoàn trong ngành khai thác mỏ

Áp dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành khai thác mỏ mang lại nhiều lợi ích, bao gồm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Mô hình này cũng giúp tăng hiệu quả kinh tế thông qua việc tối ưu hóa quy trình sản xuất và giảm chi phí xử lý chất thải. Đồng thời, nó góp phần vào phát triển bền vững bằng cách giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên.

II. Thực trạng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong ngành khai thác mỏ tại Việt Nam

Hiện nay, việc áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong ngành khai thác mỏ tại Việt Nam còn hạn chế. Mặc dù có một số dự án thử nghiệm, nhưng quy mô nhỏ và chưa được nhân rộng. Các doanh nghiệp khai thác mỏ chủ yếu tập trung vào khai thác và chế biến, chưa chú trọng đến việc tái sử dụng chất thải hoặc bảo vệ môi trường. Điều này dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường và lãng phí tài nguyên.

2.1. Chính sách và pháp luật liên quan

Chính sách và pháp luật về quản lý tài nguyênbảo vệ môi trường tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, việc thực thi còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong ngành khai thác mỏ. Các quy định về tái chế chất thải và áp dụng kinh tế tuần hoàn chưa được cụ thể hóa, dẫn đến khó khăn trong việc triển khai trên thực tế.

2.2. Nghiên cứu điển hình Công ty Than Mông Dương

Công ty Than Mông Dương là một trong những đơn vị tiên phong trong việc áp dụng kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam. Công ty đã triển khai các biện pháp tái sử dụng chất thải mỏ và cải thiện quy trình sản xuất để giảm thiểu tác động môi trường. Tuy nhiên, quy mô áp dụng còn nhỏ và cần sự hỗ trợ từ chính sách và công nghệ để nhân rộng mô hình này.

III. Đề xuất giải pháp thúc đẩy áp dụng kinh tế tuần hoàn

Để thúc đẩy việc áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong ngành khai thác mỏ tại Việt Nam, cần có sự kết hợp giữa chính sách, công nghệ và giáo dục. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện chính sách pháp luật, đầu tư vào công nghệ tái chế và nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và cộng đồng về lợi ích của kinh tế tuần hoàn.

3.1. Cơ chế chính sách

Cần hoàn thiện các chính sách và quy định liên quan đến quản lý tài nguyênbảo vệ môi trường, đặc biệt là các quy định cụ thể về tái chế chất thải và áp dụng kinh tế tuần hoàn. Đồng thời, cần có các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ tái chế và giảm thiểu chất thải.

3.2. Công nghệ và giáo dục

Đầu tư vào công nghệ khai thác và tái chế chất thải là yếu tố then chốt để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn. Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và cộng đồng về lợi ích của mô hình này thông qua các chương trình giáo dục và tuyên truyền.

10/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Ngành khai thác mỏ ở Việt Nam 1. Ngành công nghiệp khai thác mỏ ở Việt Nam Ngành mỏ là một tổ hợp đa ngành kỹ thuật – công nghệ liên quan tới các công tác xây dựng mỏ, khai thác mỏ, làm giàu, chế biến khoáng sản phục vụ cho nền kinh tế quốc dân như công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải … Khoáng sản có thể được khai thác dưới lòng đất, dưới đáy biển và đại dương. Hiện nay, ngành mỏ tiến hành khai thác các loại khoáng sản dạng rắn (than, quặng, vật liệu xây dựng), dạng khí (khí đốt) và dạng lỏng (nước khoáng, nước nóng, nước ngầm, dầu mỏ).

Tại một số nước, người ta đã bắt đầu khai thác nhiệt năng trong lòng đất. Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú và đa dạng về chủng loại gồm các nhóm khoáng sản nhiên liệu (dầu khí, than); nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt (sắt, cromit, titan, mangan); nhóm khoáng sản kim loại màu (boxit, thiếc, đồng, chì-kẽm, antimon, molipden); nhóm khoáng sản quý (vàng, đá quý); nhóm khoáng sản hoá chất công nghiệp (apatit, cao lanh, cát thuỷ tinh); nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng (đá vôi xi măng, đá xây dựng, đá ốp lát). Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nguồn tài nguyên khoáng sản của Việt Nam khá đa dạng và phong phú với trên 5000 mỏ, điểm quặng của khoảng 60 loại khoáng sản khác nhau nằm phân bố rải rác tại 46/63 tỉnh thành trên cả nước. Một số địa phương có trữ lượng khoáng sản đa dạng về chủng loại được cấp phép khai thác như: Thái Nguyên (có 19 loại khoáng sản rắn), Sơn La (14 loại), Quảng Bình, Quảng Trị, Gia Lai, Hải Phòng, Yên Bái.

Ngoài ra, còn có 18 khu vực có lượng khoáng sản phân tán nhỏ lẻ trên tổng diện tích 182,7 ha phân 3 bố tại các tỉnh Lào Cai, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Phú Thọ, Hải Dương, Nghệ An, Quảng Nam. Công nghiệp khai khoáng Việt Nam bắt đầu hình thành từ cuối thế kỷ 19 do Pháp khởi xướng, từ năm 1955 [11], Việt Nam đã tiếp quản, duy trì và phát triển các cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản. Đến nay, đã tiến hành điều tra cơ bản, thăm dò và phát hiện mới trên thêm rất nhiều điểm khoáng và mỏ. Đã đánh giá được một số loại khoáng sản có giá trị công nghiệp và trữ lượng dự báo lớn như: dầu – khí, than, sắt, đồng, titan, bôxit, chì kẽm, thiếc, apatit, đất hiếm, các khoáng sản làm vật liệu xây dựng và một số loại khoáng sản khác.

Nhiều loại khoáng sản đã được khai thác phục vụ cho nhu cầu trong nước và một phần cho xuất khẩu. Tình hình khai thác một số khoáng sản chủ yếu ở Việt Nam Do tính chất và mục đích sử dụng của từng nhóm khoáng sản, đối với một số loại khoáng sản quan trọng và có tiềm năng lớn, Chính phủ Việt Nam giao cho một số doanh nghiệp nhà nước đảm nhận vai trò nòng cốt, cụ thể như sau [11]: - Khai thác và chế biến dầu khí giao Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. - Khai thác và chế biến than và các khoáng sản khác giao cho Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV). - Khai thác và chế biến khoáng sản hoá chất (apatit) chủ yếu giao cho Tập đoàn Hoá chất Việt Nam.

- Khai thác, chế biến quặng sắt chủ yếu do Tổng công ty Thép Việt Nam, Tập đoàn Vinacomin thực hiện. - Khai thác, chế biến vật liệu xây dựng chủ yếu giao cho Tổng công ty Xi măng Việt Nam và các doanh nghiệp ngành xây dựng, giao thông vận tải thực hiện (ngành khoáng sản VLXD do Bộ Xây dựng quản lý). 4 Ngoài ra các điểm mỏ khai thác, chế biến khoáng sản quy mô nhỏ ở các địa phương có rất nhiều các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần Bảng 1: Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp Tháng 11 11 tháng năm 2019 năm 2019 Thực hiện Ước tính Cộng dồn 11 Đơn vị so với so với tháng 10 tháng 11 tháng năm tính cùng kì cùng kì năm 2019 năm 2019 2019 năm trước năm trước (%) (%) Than đá Nghìn tấn 4028,9 3706,4 42048,3 106,4 111,2 Dầu mỏ Nghìn tấn 920,0 860,0 10231,9 89,6 92,8 Khí đốt Triệu m3 835,9 780,0 9373,7 89,7 101,2 Khí hóa Nghìn tấn 70,0 72,5 885,3 91,6 107,4 lỏng Xăng Nghìn tấn 940,4 575,5 10472,4 55,5 123,9 dầu Theo số liệu của Tổng Cục thống kê ở bảng 1, sản lượng khai thác của một số mỏ nhìn chung khá cao. Mặc dù tháng 11 năm 2019 sản lượng có thấp hơn so với cùng kì năm trước nhưng sản lượng của 11 tháng năm 2019 so với cùng kì năm trước hầu như là tăng.

Bảng 2: Sản lượng khai thác/năm một số loại khoáng sản chủ yếu năm 2019 [5] Dầu thô 12,1 triệu tấn (11 tháng) Than 40,5 triệu tấn 5 Quặng sắt 3,0 triệu tấn Quặng apatit 2,4 triệu tấn Đồng 50 ngàn tấn Trong những năm qua, ngành khai thác mỏ đã đóng vai trò quan trọng và tích cực trong sự nghiệp phát triển công nghiệp Việt Nam và nền kinh tế đất nước. Đã cơ bản đáp ứng đủ và kịp thời nguyên liêụ cho nền kinh tế quốc dân như ngành than đã cung ứng đầy đủ và kịp thời nguyên liệu cho ngành điện, xi măng, hoá chất, giấy; khoáng sản thiếc, chì kẽm, sắt đã cung ứng đủ cho ngành luyện kim; khoáng sản apatit đã cúng cấp đủ cho ngành hoá chất, phân bón. Đồng thời khoáng sản và sản phẩm chế biến của khoáng sản đã có một phần xuất khẩu. Trong năm 2019, hai loại khoáng sản có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là dầu khí và than (Theo bảng 2).

Chính sách phát triền công nghiệp khai khoáng Chiến lược phát triển khoáng sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2427/QĐ-TTg ngày 22/12/2011 với các nội dung chủ yếu sau: Quan điểm phát triển - Khoáng sản Việt Nam là tài nguyên không tái tạo, có trữ lượng hạn chế, vì vậy, phải được điều tra, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ tốt môi trường sinh thái, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng tại các địa bàn có khoáng sản. - Xây dựng và phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản với công nghệ hiện đại, phù hợp điều kiện của Việt Nam, nâng cao hệ số thu hồi khoáng sản và mức độ chế biến sâu khoáng sản. 6 - Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, thăm dò khai thác và chế biến khoáng sản trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động khoáng sản, đảm bảo an toàn lao động và bảo vệ tài nguyên. Thí điểm việc đấu giá quyền thăm dò, khai thác khoáng sản để tiến tới thực hiện rộng rãi phương pháp quản lý trên.

- Không khuyến khích việc hợp tác đầu tư đối với khâu thăm dò và khai thác khoáng sản, trừ trường hợp đặc biệt (đối với dầu khí, than đồng bằng Sông Hồng, đất hiếm, …) trong giai đoạn đầu cần thu hút kỹ thuật, vốn, thị trường. - Hợp tác đầu tư tập trung vào các khâu chế biến sâu các loại khoáng sản bauxit, titan, đất hiếm. - Tăng cường và xiết chặt công tác quản lý nhà nước về khoáng sản, sửa đổi và bổ sung Luật Khoáng sản để đảm bảo tính thống nhất, chặt chẽ và đầy đủ cho công tác hoạt động khoáng sản. Về thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, 2 khoáng sản có kim ngạch xuất khẩu lớn, đó là dầu khí và than.

- Dầu khí [13] Việt Nam có các vùng biển và thềm lục địa rộng lớn và cũng là nơi có triển vọng dầu khí lớn. Hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở Việt Nam đã được bắt đầu triển khai ở miền võng Hà Nội và vùng trũng An Châu từ những năm 1960 với sự giúp đỡ của Liên Xô. Ở thềm lục địa phía Nam, công việc này được các công ty nước ngoài như Mobil, Pecten,. tiến hành từ những năm 1970.

Đến nay công tác tìm kiếm thăm dò đã xác định được trữ lượng dầu khí của Việt Nam có thể thu hồi và cơ bản đánh giá tiềm năng dầu khí của Việt Nam đủ khả năng cân đối bền vững cho hoạt động khai thác dầu khí, đảm bảo an ninh năng lượng của đất nước trong thời gian tới. 7 Từ điểm mốc khai thác m3 khí đầu tiên vào tháng 6/1981 và khai thác tấn dầu thô đầu tiên vào tháng 6/1986, đến nay Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đang khai thác 25 mỏ dầu khí ở trong nước và 10 mỏ ở nước ngoài với tổng sản lượng khai thác đến nay đạt trên 455 triệu tấn quy dầu (trong đó, khai thác dầu là trên 346 triệu tấn và khai thác khí là trên 108 tỷ m3), doanh thu từ bán dầu đạt trên 140 tỷ USD, nộp NSNN từ xuất/bán dầu đạt trên 67 tỷ USD. Các dự án trọng điểm như Dự án phát triển khai thác khí lô B, 48/95, 52/97; Liên hợp Lọc Hóa dầu Nghi Sơn, Tổ hợp hoá dầu miền Nam, Đường ống dẫn khí Nam Con Sơn giai đoạn 2, Đường ống dẫn khí Lô B – Ômôn… đang được Petrovietnam tích cực triển khai để sớm đưa vào vận hành nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nhiên/nguyên liệu cho phát triển kinh tế – xã hội đất nước và cung cấp cho ngành công nghiệp hóa dầu những sản phẩm mới, góp phần tích cực giảm nhập siêu cho nền kinh tế. Song song với việc đầu tư phát triển ở trong nước, PVN đã tích cực tìm kiếm, mở rộng đầu tư ra nước ngoài; đến nay Tập đoàn đã ký kết 26 hợp đồng dầu khí, trong đó đang triển khai thực hiện 19 hợp đồng tại 14 nước trên thế giới.

- Than [12] Trong nhiều thập niên qua, ngành than đã từng bước phát triển đi lên, đạt được rất nhiều thành tích to lớn, luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước giao. Năm 1996, ngành than được Nhà nước phong tặng phần thưởng cao quý Huân chương Sao Vàng. Năm 2005, ngành than tiếp tục được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản (Vinacomin) là một trong ba tập đoàn kinh tế mạnh cùng với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tập đoàn Điện lực Việt Nam có nhiệm vụ đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia nhưng đến 8 nay với nhiều lý do khác nhau ngành than đang đứng trước những thách thức to lớn, khó vượt qua được để tiếp tục giữ vững vị thế của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khả Năng Áp Dụng Mô Hình Kinh Tế Tuần Hoàn Trong Ngành Khai Thác Mỏ Tại Việt Nam" tập trung phân tích tiềm năng và thách thức khi áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn (KTTH) trong lĩnh vực khai thác mỏ. Tài liệu nhấn mạnh lợi ích của KTTH như giảm thiểu chất thải, tối ưu hóa tài nguyên, và bảo vệ môi trường, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể để thúc đẩy tính bền vững trong ngành này. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm đến phát triển bền vững trong khai thác tài nguyên.

Để mở rộng kiến thức về quản lý tài nguyên và môi trường, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ tăng cường công tác quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam, hoặc Luận văn thạc sĩ tăng cường quản lý rừng sản xuất tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ đề xuất giải pháp quản lý tài nguyên đất đai tại quận Hà Đông, Hà Nội cũng cung cấp góc nhìn sâu sắc về quản lý tài nguyên hiệu quả.