CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THUC TIEN VE BIEN DOI KHÍ HẬU VÀ PHÁT TRIEN KINH TE ĐÔ THỊ 1. Một số khái niệm Thời tiết (Wether) là tập hợp các trạng thái của các yếu tô khí tượng xảy ra trong khí quyền ở một thời điểm, một khoảng thời gian nhất định như nắng hay mưa, nóng hay lạnh, âm thấp hay khô ráo. Khí hậu (Climate) là trạng thai trung bình của thời tiết tại một khu vực nào đó, như một tỉnh, một nước, một châu lục trên cơ sở chuỗi số liệu dài (thường là tháng đến hàng triệu năm, trước đây dùng dé đánh giá là 30 năm. Biến đổi khí hậu (Climate change) được hiểu là những quan sát ghi nhận được về sự thay đôi trong nội bộ hệ thống khí hậu hoặc sự tương tác giữa các thành phan của hệ thống khí hậu hoặc do những thay đổi từ các lực lượng bên ngoài vì nguyên nhân tự nhiên hoặc do con người.
Biến đổi muc Hước biển (Sea level change) được hiểu là sự thay đôi mực nước biển ở quy mô toàn cầu cũng như quy mô khu mực. Bức xạ mặt trời (Solar radiation): Là những bức xạ điện từ được phat ra từ Mặt trời. Han hán (Drought) được hiểu là hiện tượng thiếu hụt nguồn cung cấp nước trong thời gian dai được quan sát ở vùng nước mặt, nước ngầm và cả trong khí quyền. Hiện tượng thời tiết cực đoan (Extreme weather event) thường bao gồm những hiện tượng thời tiết bất thường và bất ngờ, khắc nghiệt và trái mùa Hiệu ứng nhà kính (Greenhouse effect): Hiện tượng bức xạ sóng ngắn của Mặt trời xuyên qua khí quyên tầng thấp xuống mặt đất; mặt đất hấp thu bức sóng ngắn rồi bức xạ sóng dài vào khí quyền và bị các khí nhà kính trong khí quyên như COa, CHa, HạO, CFC,.
hap thu và giữ nhiệt, khiến cho không khí trái đất nóng lên. Ung phó với biến đỗi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ BDKH. Thích ứng với bién doi khí hậu (Climate change adaptation): Kha năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thê trong hành động, xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đồi dự kiến có thé xảy ra hay thực sự đã va dang xảy ra của khí hậu. Sự thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước.
Như vậy, ở đây van đề thích ứng được nói đến chính là mức độ điều chỉnh với biến đổi cả về tính tự phát hay chuẩn bị trước. Giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu (Climate change mitigation) là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính. Kinh tế đô thị (Urban economics) được hiểu là một môn khoa học kinh tế nghiên cứu các phương pháp sử hiệu quả các nguồn lực trong đô thị, vốn thường hữu hạn, dé thoả mãn các nhu cầu vô hạn của các cá nhân và xã hội ở đô thi trong môi quan hệ biện chứng với nên kinh tê quôc dân của cả nước. Đô thị hoá (Urbanlization) là quá trình bién déi và phân bồ lại lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí lại dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật, tăng quy mô và mật độ dân sé.
Tăng trưởng kinh tế (Economic growth) là sự tăng lên về quy mô, sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Do là kết quả của tat cả các hoạt động sản xuât dịch vụ do nên kinh tê tạo ra. Phát triển bền vững (Sustainable development) được hiểu là sự phát triển có thé đáp ứng được những nhu cau hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Biểu hiện và tác động nói chung của biến đổi khí hậu Sự gia tăng nhiệt độ trung bình đã được quan sát và ghi chép lại trong nhiều thập kỷ qua.
Các phân tích về xu hướng này đã làm sáng tỏ mối liên hệ giữa sự nóng lên toàn cầu va sự thay đôi của chu trình nước trên Trái dat, dẫn đến những thay đổi về tần suất và cường độ mưa, băng tan và độ cao mực nước biển. Những thay đối vật ly này, cùng các phản ứng liên quan của các hệ sinh thái và hoạt động sinh sống, đóng góp đáng ké đến mô hình khí hậu ở các đô thị trên toàn thé giới, mặc dù những tác động này được đặc trưng bởi sự khác biệt về địa lý. Những biểu hiện có thé quan sát và dự đoán có thể đề cập tới như ghi nhận sự dâng cao mực nước biên, bão và mưa lớn bat thường, hay nắng nóng khắc nghiệt và hạn hán. Với xu hướng đây nhanh tốc độ đô thị hóa, việc hiểu biết về ảnh hưởng của BDKH với môi trường đô thị sẽ ngày càng trở thành một một quan tâm lớn.
BĐKH đặt ra những thách thức đặc biệt đối với các khu vực đô thị trong bối cảnh phát triển nhanh chóng mà ít quan tâm đến nhu cầu tài nguyên, các van đề phát sinh như bat bình đăng, nghéo đói, theo đó, một sỐ lượng đáng kế dân cư và tài sản 8 trong đô thi có thé bị ảnh hưởng trước những rủi ro này. Những thách thức này vượt xa những rủi ro vat lý gây ra bởi BĐKH, chang hạn như mực nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Các đô thị đối mặt với những khó khăn trong việc đảm bảo dịch vụ cơ bản nhất dân cư do hậu quả của BDKH. BDKH có thể ảnh hưởng đến việc cung cấp nước, hàng hóa và dịch vụ thiết yếu, cung cấp năng lượng, công nghiệp và dịch vụ ở các thành phó trên thế giới.
Các thiệt hại này có thé phá vỡ nên kinh tế địa phương, ảnh hưởng đến tinh mạng của dân cư, trong một số trường hợp có thé dẫn đến di cư hàng loạt. Những tác động như vậy được cho là không đồng đều giữa thành phó, giữa các lĩnh vực của nền kinh tế hoặc giữa các cộng đồng. Thay vào đó, các tác động có xu hướng củng cố những bat bình đăng hiện có; kết quả có thể phá vỡ cấu trúc xã hội bên trong các đô thị và làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo đói. Đặc điểm của kinh tế đô thị Các động lực thị trường trong phát triển đô thị gồm tác động đến quy mô, sản lượng của lĩnh vực hoạt động tròn và ngoài ranh giới đô thị, tác động vào quá trình tích tụ và tập trung về vốn.
Những động lực này có thé thé thấy rõ qua các nhân tố như đô thị hóa, sự thay đổi cơ cấu các ngành, quy mô sản xuất, các chính sách đô kinh tế hay trình độ công nghệ được áp dụng. Sử dụng đất đô thị cũng được coi là một nhân tố đáng ké và được được phân loại dựa trên mục đích sử dụng. Sử dụng đất đô thị bi chi phối bởi các quan hệ kinh tế như thuê đất, giao đất, đền bù và thu hồi đất, các hình thức đăng ký quyền sử dụng sử dụng đất. Giao thông đô thị được phân thành hai loại hình là giao thông đối nội, giao thông nội bộ của đô thị, và giao thông đối ngoại, liên hệ giữa đô thị với đô thị.
Nhà ở trong đô thị được quan tâm nghiên cứu bởi vì nhà ở có ba đặc điểm làm cho nó trở thành sản phâm có sự khác biệt: thứ nhất, nguồn cung nhà ở không đồng nhất; thứ hai, nhà ở có độ bền cao và có thê xuống cấp theo thời gian với tốc độ nhanh hay chậm tùy thuộc vào quyết định bảo trì và sửa chữa của chủ nhân; thứ ba, việc đi chuyển tốn kém. Thuế và chi tiêu của chính quyền đô thị đề cập đến những nguồn thu và các khoản chi tiêu được thực hiện với chính quyền đô thị. Các nguồn thu này đến từ các khoản như thuế, phí sử dụng, và ngân sách Chính phủ. Các khoản thu của chính quyền đô thị cùng có thé khai thác từ ha tang sẵn có thông qua các giao dich vay mượn hoặc thu phí từ quan hệ đối tác công-tư hoặc các dự án đầu tư phát triển khác.
Tác động của biến đổi khí hậu tới kinh tế đô thị Có thé nhận thay rõ mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa hoạt động phát triển kinh tế đô thị và sự gia tăng tầng xuất của các hiện tượng gây ra bởi BDKH. Một số tác động tới phát triển kinh tế có thé kế đến như can trở sự trưởng kinh tế của khu vực đô thị; dân cư tại các khu vực chịu ảnh hưởng sẽ phải cạnh tranh dé đáp ứng các nhu cầu cơ bản ngày một khan hiếm; tổn thất về kinh tế do ảnh hưởng bởi BĐKH thường tram trọng hơn tại các quốc gia đang phát triển; gia tăng tình trạng nghèo đói ở các đô thị. Sự gia tăng các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt làm gia tăng tính dé tôn thương của các loại hình tài sản trong đô thị, kéo theo việc tăng chi phí vận hành các hoạt động kinh doanh. Các nước đang phát triển chịu tốn thương từ BDKH với những tôn thất về kinh tế, đặc biệt là mất mát lớn về mặt con người, trong khi đó, các quốc gia thuộc nhóm nước phát triển lại chịu tôn thất lớn về kinh tế và chịu ít ton thất về con người hơn.
Tuy nhiên, những sự kiện gần đây cho thấy, ngay cả các quốc gia phát triển cũng có thê chịu tôn thất nặng nề, đặc biệt là nhóm người nghèo đô thị, những đối tượng chủ yếu là việc trong khu vực phi chính thống và định cư tại các khu vực thiếu các điều kiện sống thiết yếu. Tác động của BĐKH biểu hiện ở khía cạnh kinh tế được thấy rõ qua chi phí khắc phục và sửa chữa sau những sự kiện thời tiết cực đoan, có thể dẫn đến mat cân đối trong chính sách tài khóa và thâm hut tài khoản vãng lai do phải tăng vay nợ va chi tiêu đê phục hôi nên kinh tê. Giảm nhẹ và thích ứng với biến đỗi khí hậu trong hoạt động kinh tế đô thị Các phương án, chính sách nhằm giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH phần lớn sẽ được thiết kế sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, ngay cả khi các phương án, chiến lược này nam trong khuôn khổ chính sách, quy định và yêu cầu vê nguôn lực bởi các câp chính quyên cao hơn.