CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Bối cảnh nghiên cứu 1. Về lý thuyết Trong phát triển kinh tế, người ta thường nhắc đến các nguồn vốn truyền thống như: tài chính, văn hóa, tài nguyên (tài nguyên thiên nhiên - TNTN) mà ít người chú ý đến vốn xã hội. Vốn xã hội (VXH) được xem là một nguồn vốn không thể thiếu trong cuộc sống.
Nguồn gốc của VXH nằm trong khái niệm vốn vật chất (giá trị thặng dư) và vốn văn hóa (Schultz & Hatch, 1996; Sweetland, 1996). VXH như khoản đầu tư vào các mối quan hệ (MQH) xã hội (XH) với kỳ vọng tạo ra lợi ích từ khoản đầu tư này (Lin, 1999). Khái niệm “vốn xã hội” có lẽ được bắt nguồn từ Hanifan – nhà cải cách giáo dục ở West Virginia (trích theo Woolcock, 1998). Từ năm 1973, vốn xã hội là trọng tâm của các nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội học (Wolfe, 1989).
Nhưng ở Việt Nam, từ đầu những năm 2000, lý thuyết vốn xã hội mới được ứng dụng vào giải thích những vấn đề kinh tế (Trần Hữu Dũng, 2006; Trần Hữu Quang, 2006). Tính hữu dụng của VXH trong phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) đã được khẳng định như sau: vốn xã hội theo khía cạnh chuẩn mực (norm) tạo nền tảng cho cấu trúc xã hội (Coleman, 1988); nâng cao hiệu quả của vốn tài chính (Woolcock, 2000); giảm tác động của các cú sốc kinh tế (Woolcock, 1998); nhanh chóng hồi phục sau những cú “sốc” kinh tế (Rodrik, 1999); đóng góp vào sự giàu có của quốc gia (Helliwell & Putnam, 2004); nâng cao sức khỏe cộng đồng (Veenstra, 2002) và giảm tỷ lệ tội phạm (Sampson, 2012). Những lợi ích của vốn xã hội xảy ra ở mọi cấp độ: cá nhân, hộ gia đình, khu vực, quốc gia hoặc thậm chí quốc tế (Halpern, 2005). Vốn xã hội cũng là một điểm quan trọng của tính bền vững (UN, 2012), mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn (Putnam, 2000; Fukuyama, 1995).
Ở cấp độ vĩ mô, vốn xã hội giúp giảm chi phí, do đó làm tăng năng suất, tăng hiệu quả (Putnam, 2000 và 1993). Ở cấp độ cá nhân, những người có mạng lưới XH rộng hơn có nhiều khả năng được tuyển dụng hơn (Aguilera, 2002) và tiến bộ trong sự nghiệp nhanh hơn (Lin, 2001). luan an 2 Nghiên cứu về vốn xã hội ở góc độ vi mô (cá nhân) và trung mô (tổ chức, doanh nghiệp) được thực hiện khá nhiều trên thế giới. Tuy nhiên, nghiên cứu VXH gắn với việc làm và thu nhập của hộ gia đình (HGĐ) cũng còn ít.
Qua tìm hiểu của tác giả, nghiên cứu liên quan đến VXH với việc làm hay thu nhập của cá nhân, HGĐ ở các nước có thể kể đến như: (i) về tìm việc làm của cá nhân (vi mô) có các nghiên cứu của Lin, Ensel & Vaughn (1981), Matthews, Pendakur & Young (2009), Pellizzari (2010), Giulietti & cộng sự (2010), Hoogendoorn (2017), Phillips & cộng sự (2018); (ii) về việc làm và sự thành công trong công việc có các nghiên cứu của Seibert, Kraimer & Liden (2001), Helliwell & Huang (2010), Vigoda, Gadot & Talmud (2010); (iii) về thu nhập, tiền lương của cá nhân có các nghiên cứu của Franzen & Hangartner (2006), Kim (2009), Zhang, Anderson & Zhan (2011), Growiec & Growiec (2016), Rivera & cộng sự (2018); (iv) về thu nhập của HGĐ có các nghiên cứu của Sabatini (2008), Alesina & Giuliano (2010), Growiec & Growiec (2010), Growiec & Growiec (2016), Calcagnini & Perugini (2018). Như vậy, cả hai vấn đề về việc làm và thu nhập của HGĐ chưa có nghiên cứu nào quan tâm thực hiện. Đặc biệt là các nghiên cứu về thu nhập của HGĐ còn khá ít và phần lớn sử dụng dữ liệu thứ cấp (chi tiết trình bày tại phụ lục 1). Những nghiên cứu đã thực hiện trước đây đã cung cấp bằng chứng cho thấy, vốn xã hội mang lại không ít những lợi ích thiết thực.
Tuy nhiên, các học giả nghiên cứu sâu về vốn xã hội vẫn còn tranh luận về vấn đề này do chưa thống nhất về khái niệm, thang đo lường (Schuller, Baron & Field, 2000). Hướng nghiên cứu tiếp cận theo dạng ứng dụng lý thuyết liên ngành đã phát triển nhanh trên thế giới, tuy nhiên, dạng nghiên cứu này chỉ mới bắt đầu hình thành và phát triển ở Việt Nam gần đây. Việc kết hợp lý thuyết vốn xã hội và lý thuyết kinh tế được thực hiện ở các nghiên cứu như: (i) các nghiên cứu về vốn xã hội theo góc nhìn XHH tại Việt Nam bằng việc hệ thống lại các khái niệm về vốn xã hội của các nhà nghiên cứu ở nước ngoài của Trần Hữu Dũng (2006), Trần Hữu Quang (2006), Lê Ngọc Hùng (2008), Hoàng Bá Thịnh (2009); (ii) các nghiên cứu hệ thống khung lý thuyết và thang đo lường VXH ở Việt Nam điển hình như Lê Minh Tiến (2007), Nguyễn Văn Phúc & Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên (2014), Nguyễn Quý Thanh (2015), Nguyễn Tuấn Anh (2018), Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên (2018), Phạm Tấn Hòa (2020). Dù khung lý thuyết là như nhau, tuy nhiên các nhà nghiên cứu đã tiếp cận và hệ thống theo những góc nhìn luan an 3 khác nhau (góc nhìn XHH, kinh tế vĩ mô, trung mô hay vi mô) nên cũng chưa thống nhất về thang đo và khung phân tích.
Các nghiên cứu sử dụng lý thuyết vốn xã hội để giải thích vấn đề kinh tế vĩ mô, trung mô, vi mô của Việt Nam từ trước đến nay còn khá khiêm tốn. Các nhà nghiên cứu ứng dụng lý thuyết vốn xã hội để giải thích một số khía cạnh kinh tế bằng những nghiên cứu thực tiễn, có thể kể đến như: (i) Ở cấp độ vĩ mô, các lý thuyết VXH đã được Trần Hữu Dũng (2006), Nguyễn Văn Phúc & Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên (2014) tổng hợp và hệ thống lại. (ii) Ở cấp độ trung mô có các nghiên cứu của Vũ Đình Khoa & Nguyễn Thị Mai Anh (2020) ứng dụng lý thuyết vốn xã hội về khía cạnh cấu trúc, nhận thức và quan hệ để xem xét tác động đến chuỗi cung ứng của doanh nghiệp. Huỳnh Thanh Điền (2019) xem xét VXH với việc tiếp cận quỹ đất dành cho phát triển các dự án bất động sản.
Các nghiên cứu của Ha & Nguyen (2020), Nguyen & Ha (2020) về chia sẻ kiến thức trong doanh nghiệp. Nghiên cứu Đoàn Bảo Sơn & Hà Minh Trí (2020) về hiệu quả làm việc của công chức. (iii) Ở cấp độ vi mô có các nghiên cứu của Kien (2011), Nguyễn Trọng Hoài & Trần Quang Bảo (2013), Vũ Đức Cần (2020) về tác động của vốn xã hội đến khả năng tiếp cận nguồn vốn vay chính thức của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam; Bùi Văn Tuấn (2020), Le & Le (2020), Phạm Mỹ Duyên (2020) nghiên cứu vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của người dân. Ứng dụng lý thuyết vốn xã hội trong nghiên cứu liên quan đến sức khỏe có nghiên cứu của Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên (2018).
Ứng dụng vốn xã hội trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm ở nông thôn Việt Nam có các nghiên cứu của Phạm Thị Tuyết (2014), Phạm Thị Thu Hà (2019). Có thể nói, những nghiên cứu kể trên tập trung lược khảo các lý thuyết hoặc ứng dụng lý thuyết vốn xã hội để bình luận, giải thích hay minh chứng cho một khía cạnh của lĩnh vực kinh tế, chưa liên quan gần với hai chủ đề việc làm và thu nhập. Theo lược khảo của tác giả, đến thời điểm này tại Việt Nam có một số công trình sau đây có liên quan gần với chủ đề của luận án này, cụ thể là: (1) Về việc làm có các nghiên cứu của: Phạm Huy Cường (2014), Phạm Huy Cường (2016) và Trần Đăng Dương (2020) về vốn xã hội trong tìm việc làm; Lương Thị Xuân (2014) về vốn xã hội trong lựa chọn nghề; Nguyễn Văn Phúc & cộng sự (2018), luan an 4 Nguyễn Kim Phước & Phạm Tấn Hòa (2020) về tìm việc làm của sinh viên và cựu sinh viên. Các nghiên cứu nêu trên có những nét tương đồng nhưng cũng có khá nhiều khác biệt so với luận án.
Nghiên cứu về thu nhập của HGĐ chủ yếu tiếp cận dữ liệu VARHS. Những nghiên cứu liên quan đến việc làm trước đây đa phần sử dụng dữ liệu sơ cấp nên đối tượng hay phạm vi nghiên cứu của các đề tài đó gần như không trùng với luận án này. Các nghiên cứu trước về VXH với việc làm như đã nêu chỉ tiếp cận theo một hình thức nào đó của vốn xã hội nên thang đo nghiên cứu không phù hợp với đề tài của luận án này. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đã có những giá trị khoa học mà luận án có thể kế thừa, ví dụ như hướng tiếp cận, phương pháp tính toán chỉ số ĐDH thu nhập.
Luận án này dùng dữ liệu sơ cấp đủ lớn, với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống nhằm giải quyết đúng mục tiêu của đề tài nên đảm bảo tính chính xác, độ tin cậy và khả năng đại diện cao. Những điểm nổi bật của luận án sẽ được trình bày chi tiết trong mục 1.5 của chương này. Từ việc lược khảo nêu trên cho thấy, nghiên cứu về vốn xã hội với các vấn đề kinh tế ở Việt Nam và các nước khác vẫn còn khiêm tốn, kết quả cũng có nhiều điểm khác biệt. Điều này có thể bắt nguồn từ việc chưa thống nhất được thang đo lường, khung phân tích hoặc sự đa dạng trong việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu.
Tuy nhiên, tác giả chưa phát hiện có một ghi nhận nào về nghiên cứu vốn xã hội với việc làm và thu nhập trên quy mô đủ lớn để có thể khẳng định khung đo lường. Thang đo vốn xã hội còn nhiều khía cạnh để phát triển, những nghiên cứu trước đa phần không xem xét tất cả các hình thức của vốn xã hội. Đồng thời, thang đo vốn xã hội trong các bộ dữ liệu thứ cấp có hạn chế nên khó có thể sử dụng để đo lường VXH của HGĐ. Những thang đo vốn xã hội gắn với tìm việc làm hầu như sử dụng dữ liệu sơ cấp với thang đo Likert và chỉ tập trung vào chia sẻ thông tin tìm việc, hỗ trợ tìm việc.
Những nghiên cứu trước giúp cho luận án tìm luan an 5 ra được cách tiếp cận vấn đề mới hơn. Trong luận án này, kết quả nghiên cứu giúp giải quyết những khác biệt về lý thuyết về vốn xã hội, đồng thời, luận án đã mở thêm một hướng nghiên cứu mới cho các nhà nghiên cứu bằng cách ứng dụng lý thuyết vốn xã hội kết hợp với lý thuyết kinh tế học.