Chương 1: Trình bày những nội dung cơ bản của nghiên cứu bao gồm bối cảnh của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết về sinh kế và khung phân tích sinh tế bền vững DFID, tóm lược một số nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, mô tả khung lý thuyết sử dụng để phân tích nghiên cứu. Giới thiệu về phương pháp nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu khảo sát. Chương 3: Phân tích và trình bày kết quả nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết của chương 2 và dữ liệu thu thập nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu.
Chương 4: Kết luận kết quả nghiên cứu và đề xuất chính sách giúp cho người dân xung quanh vùng dự án có thể có được sinh kế bền vững trong tương lai. 123doc -5- CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Sinh kế Theo định nghĩa của Chambers và Conway (1992), sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (gồm cả nguồn lực vật chất và xã hội) và hoạt động cần thiết để kiếm sống. Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó, phục hồi hay vượt qua được các cú sốc, căng thẳng, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản ở cả hiện tại và tương lai mà không làm hao mòn các nguồn tài nguyên thiên nhiên (DFID, 1999).2 Thu hồi đất Theo Luật Đất đai năm 2013: Thu hồi đất là việc nhà nước thu lại quyền sử dụng đất của người được nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.3 Bồi thƣờng Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: “Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra”. Theo Luật Đất đai năm 2013: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất” 2.
Hỗ trợ khi nhà nƣớc thu hồi đất Theo Luật Đất đai năm 2003: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới” Luật đất đai năm 2013 quan niệm “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển”.2 Khung phân tích sinh kế Khung phân tích sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét một cách toàn diện tất cả các yếu tố khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến sinh kế của con người, đặc biệt là các cơ hội hình thành nên chiến lược sinh kế của con người, để đạt đến mục tiêu tăng phúc lợi của con người. Cơ quan phát triển quốc tế của Vương quốc Anh (DFID) đã đưa ra khung phân tích sinh kế bền vững như sau: Hình 2. Sơ đồ khung phân tích sinh kế bền vững Chính sách Chiến lƣợc sinh Kết quả Thể chế kế sinh kế Chính sách - Dựa vào nông - Tăng bồi thƣờng, nghiệp thu nhập trợ cấp và - Hoạt động phi - Tạo việc Hoàn cảnh dễ bị tái định cƣ nông nghiệp làm ổn tổn thƣơng: - Hỗn hợp định và - Mất đất sản phù hợp xuất Công nghiệp - Thay đổi nơi cƣ hóa – Hiện đại trú hóa - Thay đổi nghề nghiệp, môi H trƣờng sống - Thay đổi mối N S Tài sản quan hệ làng xóm sinh kế P F Tài sản sinh kế H: vốn con người P: Vốn vật chất N: Vốn tự nhiên S: Vốn xã hội F: Vốn tài chính Nguồn: Khung sinh kế bền vững ( DFID, 1999).1 Các nguồn vốn và tài sản sinh kế Khung phân tích sinh kế cho rằng con người sử dụng các loại vốn mình có để kiếm sống, đó là năm loại tài sản vốn, hay hình thức vốn, để đảm bảo an ninh sinh kế hay giảm nghèo, bao gồm: nguồn vốn vật chất (physical capital), vốn tài chính (financial capital), nguồn vốn xã hội (social capital), nguồn vốn con người (human capital) và nguồn vốn tự nhiên (natural capital). Đây là những loại vốn mang ý nghĩa của cả đầu vào và đầu ra.1 Nguồn vốn con ngƣời Vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy của mỗi người thông qua quá trình học tập, rèn luyện và lao động được thể hiện trong quá trình sử dụng trong sản xuất, và sức khỏe tốt để đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng lao động.
Vốn con người cũng cần phải tốn chi phí để đầu tư tích lũy, và cũng có thể bị hao mòn. Nguồn vốn con người chiếm vai trò quan trọng nhất trong tài sản sinh kế, là yếu tố cần thiết để sử dụng và tạo ra bốn tài sản hiện tại. Ở cấp độ hộ gia đình, vốn con người quyết định về chất lượng lao động và năng suất tạo ra sản phẩm, ở cấp độ rộng hơn, đây là nguồn vốn quan trọng nhất để phát triển doanh nghiệp và quốc gia.2 Nguồn vốn tự nhiên Vốn tự nhiên là tổng tài sản tài nguyên thiên nhiên cung cấp đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo việc làm, gồm cả tài nguyên có thể tái tạo và không thể tái tạo. Những tài sản này có chức năng tham gia vào quá trình sản xuất và thỏa dụng như những đầu vào, như rừng, bãi cá, nghêu, sò, quặng mỏ và các lực lượng tự nhiên như không khí, nước,… Việc khai thác, sử dụng lãng phí và không hiệu quả tài nguyên thiên nhiên là cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất, hoặc làm giảm chất lượng cuộc sống của con người.3 Nguồn vốn tài chính Vốn tài chính ngụ ý về các nguồn lực tài chính mà các hộ gia đình và cá nhân sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế của mình, như các khoản thu nhập, tiết kiệm, vốn vay, tín dụng, trợ cấp,… 2.4 Nguồn vốn vật chất Nguồn vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng (phương tiện vận chuyển, đường xá, xe cộ, trường học, chợ, nhà và chỗ ở an toàn, nguồn cấp nước và hệ thống xử lý rác thải, năng lượng, truyền thông,…) và các loại hàng hóa mà người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế như các công cụ và thiết bị sản xuất, con giống, thuốc nuôi trồng thủy sản, kỹ thuật hay công nghệ sản xuất,… 2.5 Nguồn vốn xã hội Nguồn vốn xã hội là các nguồn lực xã hội mà các hộ gia đình và cá nhân sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình, bao gồm các mạng lưới, các yêu cầu xã hội, quan hệ xã hội, đảng phái, hiệp hội,… Tài sản về các mối quan hệ này sẽ tạo nên sự tin cậy giữa các cá nhân và mạng lưới, cộng với những giá trị cùng chia sẻ do chúng tạo ra, những tài sản này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác trong nội bộ và giữa các nhóm người.
Để cải thiện phúc lợi con người, các nguồn vốn, tài sản sinh kế nói chung có tính chất bổ sung cho nhau. Ví dụ như tài sản con người cùng với tài sản xã hội có thể làm tăng năng lực hoạt động và tồn tại của con người. Các tài sản cũng bổ trợ nhau trong quá trình sản xuất, tức là năng suất của tài sản này có thể tăng lên khi có thêm một lượng tài sản khác. Ví dụ như nếu nguồn vốn xã hội được tăng lên (như sự thiết lập, gắn kết chặt chẽ với các mạng lưới quen biết trong xã hội có thể làm tăng nguồn vốn tài chính, hay sự chia sẻ những kinh nghiệm kiến thức từ mạng lưới ấy cũng làm tăng nguồn vốn con người, qua đó góp phần nâng cao nhận thức của cá nhân và cộng đồng, giúp cho công tác quản lý các vấn đề về môi trường được cải thiện tốt (nguồn vốn thiên nhiên), đến lượt nó, không khí, nước sạch hơn sẽ bảo vệ sức khỏe con người, giúp nâng cao năng suất và chất lượng lao động, góp phần làm tăng tài sản vật chất,… 123doc -9- 2.2 Bối cảnh dễ bị tổn thƣơng Bối cảnh dễ bị tổn thương là các yếu tố đến từ môi trường bên ngoài tác động vào cuộc sống của người dân mà họ bị hạn chế hoặc không thể kiểm soát được.
Đó là những thay đổi có thể gây ra những cú sốc tâm lý như: Mất đất sản xuất, thay đổi nơi cư trú, thay đổi nghề nghiệp, môi trường sống, thay đổi mối quan hệ làng xóm, thiên tai, nông sản mất mùa, mất giá, bệnh tật, … 2.3 Thể chế và chính sách Các thể chế, chính sách của các cấp chính quyền địa phương và các đơn vị, tổ chức thuộc khu vực tư nhân, được cụ thể hóa bằng các luật, chính sách, các chương trình, kế hoạch hành động.4 Chiến lƣợc sinh kế Chiến lược sinh kế được hiểu là các lựa chọn và các hoạt động của hộ gia đình nhằm đạt được các mục tiêu sinh kế. Bao gồm: các hoạt động sản xuất, chiến lược đầu tư, các lựa chọn tái đầu tư… 2.5 Kết quả sinh kế Kết quả sinh kế là những thành tựu mà hộ gia đình đạt được khi họ sử dụng các nguồn vốn sinh kế để thực hiện các chiến lược sinh kế. Kết quả có thể là tăng thu nhập, tăng cơ hội nghề nghiệp, việc làm phù hợp và ổn định, thích nghi với môi trường sống,… 2.3 Các kết quả nghiên cứu có liên quan Nhiều tác giả có quan tâm và nghiên cứu về vấn đề sinh kế của người dân trước thực trạng thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ tiến trình phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở các địa phương. Tuy nhiên tại Trà Vinh, chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này.
Đề tài xin điểm qua những nghiên cứu có liên quan gần đây: Nghiên cứu của Đinh Phi Hổ và Huỳnh Sơn Vũ (2011) “Sự thay đổi về thu nhập của người dân sau thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp”: Đề tài dựa vào khung lý thuyết sinh kế bền vững của DFID (1999) và dùng mô hình định lượng. Theo kết quả nghiên cứu, khi thu 123doc -10- hồi đất để phát triển khu công nghiệp Tân Phú Trung trên địa bàn huyện Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh, sự thay đổi thu nhập của người dân sau thu hồi đất bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: Trình độ học vấn của các chủ hộ, số lao động trong hộ, tỷ lệ phụ thuộc, diện tích đất bị thu hồi, đầu tư vào sản xuất kinh doanh, lao động có việc làm trong khu công nghiệp.