Chương 1 MOT SO VAN DE CƠ BẢN VE HỆ THONG CHÍNH TRI CƠ SỞ VÀ CAN BO CHU CHOT CAP XÃ 1. Lang xã Bắc bộ truyền thống và hiện đại Theo nhà nghiên cứu dân tộc học Tran Từ thì “Làng” là tế bào sông của xã hội Việt thời cổ, là “san pham tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư cua người Việt trong trọt”. Ông nhận xét rằng, làng Việt cô truyền, dù chỉ cổ truyền dưới dạng được định hình trong thời Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng ở thế kỷ XIX và nhất là trong chế độ thuộc địa, nghĩa là vào hôm trước của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vẫn thực sự cô truyền trong chừng mực nó là tế bào của một xã hội Đông Phương tiền công nghiệp, mà một trong những đặc điểm lớn là tính ngưng đọng tương đối [5, tr. Làng là một từ nôm, dùng dé chỉ đơn vị tụ cư truyền thống, cộng đồng về lãnh tho, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tâm lý của người nông dân; là liên hiệp tự nguyện của những nông dân tự do trong công cuộc khai phá chính phục những vùng đất hoang rậm, đầm lầy hoặc lấn bién thành những vùng trồng trọt.
Xã là tự Hán - Việt, chỉ đơn vị hành chính cơ sở của nhà nước phong kiến ở vùng nông thôn. Trước Cách mạng tháng Tám, đa số mỗi làng là một xã, nên người ta thường hay ghép hai từ này làm một: làng - xã. Trong trường hợp một xã gồm nhiều làng thì mỗi làng hợp thành xã đó gọi là thôn. Ngoài tên gọi là làng, xã, từ thế kỷ XV, sách An nam chí đã kê ra những tên gọi khác nhau như: hương, xã, thôn, phường, nhai, chợ, trường, sách.
trang, động, mường, quách, đanh, lộ, trại, khuê, trầm, la, trĩ, làng. Cuối thế ky XVIII, sách Phủ biên tạp lục cũng viết về những loại đơn vị tương đương của xứ đàng Trong: xã, thôn, phường, giáp, sách, châu, âp, chọc, 9 trang, tộc ty, man, nau. Tóm lại, đó là những tô chức trực thuộc nhà nước phong kiến có đặc điềm cơ bản giống nhau: những cộng đồng tự tri, có tính chất bình đăng dân chủ. Theo một bản đồ được biên soạn vào giữa thé ky XVII, ở Viet Nam có 8.820 xã, 201 thôn, 442 động, 451 sách va 314 trang.
Các làng được gọi xã hay thôn phần lớn được lập ở vùng đồng bằng và châu thỏ xứ Bắc kỳ và lùi xa hơn về phía nam, còn làng mang những tên gọi khác thường ở vùng bờ bién, biên giới, vùng núi. Một du khách nước ngoài đã từng mô tả diện mạo của các làng như sau: “Hau như các bạn không thé trông thấy làng cho tới khi bạn tới sát cong, bởi vì có nhiễu cây và những làm cây bao quanh chúng. Và ở vùng dong bằng dưới xuôi gân biển, hiếm khi thấy làm cây mà không có làng hoặc một làng mà không có lim cây”. Dân làng có ý thức mạnh mẽ về làng, coi làng là của riêng họ, đến mức hàng năm họ đặt ra lệ cúng, tế vị thần thành hoàng tại đền thời của làng: đình.
Tất cả dân làng đều tham gia vào lễ hội đó. Nó chăng những là một kiểu nghĩ lễ tôn giáo mà còn là một ngày hội lớn của lang, bao gồm nhiều cuộc vui như múa, hát, thê thao. Thời kỳ Văn Lang, quan hệ nhà nước với làng xã còn khá lỏng lẻo. Thời kỳ Bắc thuộc, làng xã là đối tượng đồng hóa, chưa là công cụ thống trị trong hệ thống nô dịch của phong kiến phương Bắc.
Bắt đầu từ chính quyền độc lập đầu tiên của họ Khúc, làng xã người Việt thực sự trở thành cấp cơ sở của hệ thống quản lý hành chính của đất nước. Nhà Khúc đổi hương thành giáp, “ở dưới giáp, đơn vị hành chính nhỏ nhất là xã, mỗi xã đặt hai người lệnh trưởng, chính và tá ”[35, tr. Có thé xem đây là lần đầu tiên làng xã chấp nhận vào hàng ngũ quản lý cua nha nước. Bên cạnh bộ máy quản lý cũ, lệnh trưởng là chức xã quan đầu tiên và là tiên thân của các xã trưởng, lý trưởng sau này.
10 Các triều đại phong kiến sau này tuy có thay đôi về cách thức quản lý, hay tên gọi làng xã, xã trưởng, nhưng đều xác định không thé bỏ qua làng xã. Ví dụ như vua Lê Thánh Tông, chính sách quân điền đã tước đoạt quyền tự đo đạc ruộng đất công và phân chia theo tục lệ. Nhà nước trực tiếp đứng ra tổ chức, quản lý chặt bộ máy làng xã. Các xã quan được thay bằng xã trưởng, do triều đình chỉ định.
Các làng xã nộp thuế cho nhà nước, tất cả dân đỉnh đều được chia phần công điền công thô, khẩu phan đó cứ 3 năm lai được xét lai. Đến đời vua Lê Thần Tông, triều đình chọn những người có học van bồ dụng vào bộ máy hành chính xã: xã trưởng, xã sứ, xã ty. Sau này, do sưu thuế quá nặng, dân chúng bỏ làng đi lập nghiệp nơi khác, bỏ hoang ruộng đất, một số người lợi dụng lấn chiếm lập trang trại. Triều đình phải ra lệnh cắm lập trang trại (năm 1711) và các làng xã được áp dụng “lệ làng” thay cho “phép nước”.
Quyền hạn của dân được mở rộng hơn, làng xã có nhiều quyền tự trị hơn. Chức xã trưởng giờ đây trao cho dân bầu va trở thành lệ kế từ đó. Triều đình nhà Nguyễn tiếp tục duy trì cơ cấu làng xã, vẫn chấp nhận việc bầu xã trưởng và làng xã tự quản đất công; nhưng quy định, khi ai can phạm gi thì ca làng chịu trách nhiệm; ai di đâu, làm gì cũng lấy làng làm góc. Triều đình muốn tránh những phản ứng của dân nên bên cạnh “phép vua” đành chấp nhận nới lỏng nền tự trị của làng xã.
Khi xâm lược nước ta, chính quyền thực dân Pháp rất quan tâm tới sự tự trị của làng xã, muốn lợi dụng cơ cấu cô truyền đề tiện quản lý. Tuy vậy, chúng vấn thay cần phải thay đổi dé dé kiểm soát. Làng xã miền Bắc, Pháp cho thành lập Hội đồng tộc biểu (đại biểu các gia tộc, dòng họ); quy định các điều kiện ứng cử Chánh, Phó lý: phải có tài sản, biết đọc biết viết, có hạnh kiểm tốt và nhất là phải trung thành với Chính phủ bảo hộ. Vì vậy, nạn cường hào ác bá được dip hoành hành.
11 Việc cải cách của người Pháp đã gặp phải sự phản ứng của dân chúng, nhất là những cựu hương chức, kỳ mục với Hội đồng tộc biểu mới, những người kém đức và thiếu kinh nghiệm. Để xoa dịu bớt sự bất bình trong dân chúng, năm 1927, Pháp ra nghị định sửa đổi quy chế quản trị làng xã, phục hỏi một số tục lệ cô truyền, tái lập Hồi đồng kỳ mục giữ vai trò kiểm soát, thành phần gồm các cựu ky hào, ky lý trước đây, nhưng tô chức chặt chẽ hon. Lý, Phó trưởng vẫn do dân bầu cử như cũ, những từ năm 1930 phải do tỉnh trưởng người Việt chỉ định, viên Công sứ duyệt y. Nam 1941, Hội đồng tộc biểu, Hội đồng kỳ mục bị bãi bỏ, thành lập Hội đồng ky hào với thành phan rộng rãi hơn, gồm tất ca dân đỉnh từ 21 tuổi trở lên, có đủ điều kiện văn bằng hoặc phẩm hàm hoặc đã giữ các chức vụ Tổng lý ít nhất 3 năm.
Người đứng đầu là người có phẩm hàm cao nhất. Có nơi vì số lượng đông nên Hội đồng kỳ hào cử ra một ủy ban quan trị gồm 7 nhân viên. Cơ quan chấp hành vẫn là lý, phó và các nhân viên thừa hành: Hộ lại, chưởng bạ, thư ký, thủ quỹ và trương tuân. Các chức này hầu hết do cấp tỉnh chỉ định.
Trong suốt thời phong kiến, nhà nước thống trị, bắt xã phải tuân theo ý chí của mình nhưng vẫn không hoàn toàn năm chắc được nó trong tay. Tuy nhiên, nhà nước cũng đã phan nào can thiệp, phá vỡ thé tự trị của làng xã, đặc biệt vào thời kỳ Pháp thuộc. Cơ cấu “nhất xã, nhất thôn” là một giải pháp tôi ưu của nhà nước phong kiến, vừa đảm bảo sưu thuế, quản lý nhân khâu, vừa giữ được sự ồn định xã hội nói chung. Các tô chức đó phù hợp với qui mô về diện tích và dân số của đơn vị co sở (trung bình một xã 250 ha và khoảng 1000 nhân khẩu), phù hợp trình độ quan lý cua chức dịch, với tâm lý, nguyện vọng của người dân; từ đó tạo được sự găn kết hoà đồng giữa bộ máy hành chính và tự quản, giữa pháp luật và tục lệ, đem lại hiệu quả cao trong quản lý làng xã của nhà nước.
Khi ghép 2-3 làng với nhau thành xã, nhà nước cũng tính đến sự tương đồng về lịch sử, tâm lý, tín ngưỡng với nhau, tránh nảy sinh những mâu thuẫn không can thiết. Vua Gia Long đã nói: “Nước là hợp của làng mà thành. Từ làng đến nước, day dân nên tục, vương chính lay làng làm trước”[{4, tr. Đặc điểm noi bật của làng xã vùng Bắc bộ thời phong kiến là nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp, nghé thủ công nghiệp phân tán, qui mô nhỏ, kỹ thuật lạc hậu và năng suất thấp.
Sản xuất nông nghiệp chủ yếu là lương thực, trước hết là lúa, kinh tế hàng hoá kém phát triển. Cac chợ và phố nhỏ chỉ có tác dụng duy trì, củng có kinh tế tiểu nông, chứ không đưa đến sự phân công xã hội sâu sắc. Trong quá trình phát triển, sở hữu làng xã về ruộng đất đã rất thu hẹp, sở hữu tư nhân chiếm ưu thế, phân hoá xã hội, giai cấp có xu hướng ngày cảng thêm đậm nét. Về mặt tổ chức, cơ cấu lang xã càng về sau càng phức tap hon, nảy sinh hàng loạt các hình thức kết hợp cộng đồng nhỏ bên trong làng xã, cùng ton tại đan xen nhau, xác lập trên cơ sở rất nhiều các quan hệ.
Trong làng xã chồng chéo các quan hệ cộng đồng: huyết thông, tudi tác, nghề nghiệp, giới tính, địa dư, giai cấp. Có thé coi làng là cộng động tập hợp nhiều dòng họ. Quan hệ dòng họ bên chặt, gan bó. Sự có kết dòng ho đã hỗ trợ kinh tế tiểu nông, nhưng mặt hạn chế của nó là sinh ra tệ gia trưởng, tông tộc.
Làng Việt Nam thé hiện loại hình kinh tế nông - công - thương, phổ biến ở vùng đồng bằng Bắc bộ, trong đó phường hội chi phối hoạt động của con người ngoài tô chức ho. Phường vốn là tô chức của những người làm nghẻ thủ công, buôn bán, nhưng sau này cũng là tô chức của những người nông dân làm thêm nghề thủ công và buôn bán. //đ¡ là tổ chức theo giới tính, nghề nghiệp, lứa tudi, của kẻ sỹ, những người đi lính.