Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu được viết theo ba nhóm chủ dé cơ bản như sau: (1) Khái quát một số nghiên cứu về việc làm và chuyền đổi việc làm của người lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa; (2) Khái quát một sô nghiên cứu về việc làm và chuyên 16 đổi việc làm trong khu vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân sau khi có sự thay đổi chính sách phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Quá trình chuyền đồi việc làm với tư cách là biến đôi quan hệ xã hội trong quan hệ lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực dịch vụ và công nghiệp; (3) Một số nghiên cứu về việc làm và chuyền đổi việc làm ở nông thôn gắn với những yếu tố xã hội cơ bản ảnh hưởng đến sự chuyền đổi việc làm ở nông thôn. Cơ sở lý luận, phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu về sự chuyên đổi việc làm ở nông thôn ngoại thành và đặc điểm của địa bản nghiên cứu, bao gồm các nội dung chính như: (1) Định nghĩa và thao tác hóa các khái niệm và cụm khái niệm công cụ chính như: lao động, việc làm va chuyển đổi việc làm, nông thôn, yếu tố xã hội.; (2) Tóm tắt và nêu định hướng vận dụng các cách tiếp cận lý thuyết như: lý thuyết lựa chọn hành vi hợp ly, lý thuyết cơ cau - chức năng, nhất là phân hệ lý thuyết cơ cấu xã hội - nghề nghiệp; lý thuyết hiện đại hóa và lý thuyết phân công lao động: Phương pháp pháp nghiên cứu thực nghiệm.
Thực trạng việc làm và chuyên đổi việc làm của người lao động nông thôn ngoại thành hiện nay, tập trung mô tả và phân tích, thực trạng cơ cấu việc làm; thực trạng chuyển đổi việc làm bên trong khu vực nông nghiệp và nông thôn; thực trạng chuyên đổi việc làm gắn với chuyền đổi quan hệ xã hội, quan hệ lao động và tính chất lao động. Một số yếu tố xã hội cơ bản ảnh hưởng đến chuyên đổi việc làm ở nông thôn huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Cụ thê, tập trung phân tích các yếu tố nhân khẩu - xã hội, các yếu tố gia đình, khoa học - công nghệ và chính sách phát triển kinh tế, tạo việc làm, hỗ trợ đào tạo chuyên đổi việc làm cho người lao động. Cuôi cùng là một sô kêt luận và khuyên nghị cua dé tai.
TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU Chương một được xây dựng với hai chùm nội dung lớn liên quan đến chuyền đổi việc làm của người lao động ở trên thế giới và ở Việt Nam. Việc phân chia này có ý nghĩa xem những quốc gia đi trước hoặc đúng hơn đã trở thành nước phát triển có những kinh nghiệm nghiên cứu như thế nào về biến đôi việc làm trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa. Trên cơ sở đó, đề tài luận án này không những tiếp thu một số kết quả nghiên cứu quan trọng, một số quan điểm của họ để làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu này mà còn rút ra được một số khác biệt so với các nghiên cứu trong nước. Những sự khác biệt ấy chính là những điểm mới của luận án gắn với điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa của vùng nông thôn ngoại thành Việt Nam.
Bằng phương pháp tong thuật và phân tích kết quả của các nghiên cứu di trước, sự so sánh giữa những nghiên cứu ở nước ngoài và ở trong nước có ý nghĩa làm nồi bật những khoảng trống mà các tác giả khác, tuy có đề cập đến, nhưng chưa thực sự sâu sắc và chưa gắn với một vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội mang tính đặc thù cao. Một số nghiên cứu tiêu biểu về chuyển đối việc làm của người lao động trên thế giới và ở Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Trước hết, việc làm được định nghĩa trong khoa học xã hội nói chung và trong xã hội học nói riêng là “tap hợp hoạt động cua cá nhân mang lại thu nhập và có một độ ổn định tương đối về mặt thời gian ”. Kết hợp với định nghĩa của kinh tế học như sau: “Việc làm là tổng số lao động của con người thực sự sử dụng va mang lại thu nhập” (Akoun, Ansart, 1999). Nhu vậy, việc làm và lao động có quan hệ mật thiết với nhau không thể tách rời nhau khi ta bàn đến một trong hai khái niệm này.
Trong ngữ nghĩa cua nó đã được xác định (job trong tiếng Anh), việc làm được 18 dùng dé chỉ một tình huống lao động trong đó người lao động trao đổi thời gian lao động dé nhận lẫy một khoản thu nhập bao gồm lương và các khoản lợi tức khác gan với các đặc điểm cá nhân và các thực hành xã hội trong đất nước và xã hội được nghiên cứu, trong nghề nghiệp mà người chủ sử dụng lao động phân công cho người lao động. Người cung cấp việc làm có thé là một tập thể như nhà nước, chính quyền địa phương, hiệp hội, tố chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, một doanh nghiệp hoặc một cá nhân thuê một cá nhân khác. Người lao động có thể trao đổi trên thị trường lao động, trên thị trường hàng hóa và dịch vụ hoặc trên thị trường tiền tệ. Khi nghiên cứu về việc làm, người ta thường phân biệt việc làm toàn thời gian, việc làm bán thời gian, việc làm tạm thời.
Và khi nghiên cứu chuyên đổi việc làm, người ta thường nghiên cứu xem sự chuyền đổi ấy có mang lại cho người lao động một công ăn việc làm ôn định hay không, một sự bền vững tương đối so với sự biến đổi mang tinh bap bênh (việc làm tạm thời và bán thời gian có thé dẫn đến thất nghiệp một lúc nao đó). Vì việc làm có quan hệ mật thiết với lao động nên nhà nghiên cứu cũng thường xem xét việc làm ấy có được ký hợp đồng lao động hay không, và nếu có thì đó là loại hợp đồng lao động không hạn chế thời gian hay hợp đồng lao động có hạn chế thời gian. Hiện nay, ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, các hình thức việc làm tạm thời tức là gắn với việc không ký kết hợp đồng hoặc ký kết hợp đồng bán thời gian ngày càng tăng. Một ngữ nghĩa khác đó là “tình trạng việc làm”, nó ám chỉ các nước phát triển mà sau đợt khủng hoảng dau lửa trong những năm 1970, họ không bao giờ đạt được tình trạng việc làm toàn phần, nghĩa là luôn luôn chấp nhận một tỉ lệ người lao động thất nghiệp hoặc có việc làm rất tạm bợ, mong manh.
Ở Hoa Kỳ và ở Anh quốc, việc giảm tỉ lệ thất nghiệp thường dựa vảo việc tăng trưởng các việc làm tạm thời hoặc bán thời gian, tức là họ chấp nhận một tỉ lệ nhảy việc rất cao. Trong khi đó, ở các nước Tây Bắc Âu, Pháp, Duc., 19 nhà nước thường tăng cường các chính sách hỗ trợ việc làm bằng các công cụ quốc gia ké từ khi công nghiệp hóa ở các nước này trở nên mạnh mẽ va phát triển. Một hệ thống công cụ nhà nước hỗ trợ đảo tạo và tái đào tạo người lao động không chỉ trong tìm kiếm việc làm mà tạo dựng việc làm cho chính bản thân họ (Ky yeu Hội thao cua Tap chí Lao động và Việc làm, 1989). Như vậy, một trong những quan điểm quan trọng mà các tác giả ở các nước phát triển thường nhất trí với nhau, đó là: việc phát triển công nghiệp một mặt tạo ra nhiều việc làm ở trình độ cao nhưng mặt khác cũng kéo theo việc thất nghiệp và việc làm bap bênh, không 6n định đối với một số nhóm xã hội khó thích nghi với điều kiện mới.
Vì việc làm và lao động có quan hệ chặt chẽ với nhau nên xã hội học về việc làm và xã hội học về lao động cũng có quan hệ khăng khít đến độ mà từ đầu những năm 1980, một số nhà xã hội học lao động đề nghị chuyên sang thành xã hội học việc làm khi mà xã hội học lao động thực sự đã chuyên mình dé phat trién manh mé trong x4 hdi hoc tô chức, xã hội học quản lý. Điều này chứng tỏ rằng các nhà xã hội học lúc ấy đã đảo lộn suy nghĩ khi tập trung nghiên cứu tính 6n định, tính bền vững hay tinh bap bênh, mong manh; tính toàn thời gian hay tinh bán thời gian; cơ hội cao hay cơ hội thấp dé tiếp cận được việc làm trong bối cảnh cuộc công nghiệp cách mạng lần thứ ba. Người ta nghiên cứu những nhóm xã hội theo lứa tuổi, theo giới tính, theo xuất cư, theo nguồn gốc xã hội (con nông dân, con công nhân, con cán bộ, con người nhập cư.), theo tôn giáo. thì có việc làm và sự thay đôi việc làm như thế nao.
Trên cơ sở đó, các nhà xã hội học việc làm chỉ ra những vết rạn hay những sự khác biệt xã hội, thậm chí là sự phân tầng xã hội qua việc làm. Nhà xã hội học Reynaud, cha đẻ của lý thuyết điều hòa xã hội đã có nhận định như sau: mdi quan hệ xã hội qua việc làm là một sự kiến tạo xã hội xảy ra đồng thời với thị trường lao động (Reynaud, 1993). [62] Như vậy, sự biến đổi việc làm ở các nước phương Tây hay các nước phát triển trước hết được đánh giá ở tính ổn 20 định hay tính bấp bênh, tính toàn thời gian hay tính bán thời gian, tính tạm thời, tất cả chúng đều gắn với hiện tượng đầu tiên là công nghiệp hóa. Sự biến đổi việc làm gắn với đô thị hóa đã được nhà xã hội học người Pháp Saint-Simon quan tâm nghiên cứu từ năm 1820.
Tác giả đánh giá cao nền công nghiệp mới đã làm thay đổi điện mạo của xã hội, nhất là những vùng cư dân sống gần các khu công nghiệp. Lao động trong các khu công nghiệp không những là cần thiết đối với toàn xã hội, mà đặc biệt là đối với các cư dân ngoại thành khi mà đất nông nghiệp của họ ngày một giảm đi. Khi những người dân ngoại thành tham gia làm việc ở các khu công nghiệp hoặc đô thị, thì điều này đã làm thay đổi chính cấu trúc xã hội - nghề nghiệp của họ, nghĩa là mối quan hệ của họ với đồng ruộng bắt đầu thay đổi: nhóm trẻ tuổi thường không có xu hướng tiếp tục sản xuất trên cánh đồng quê mà ông/bà, cha/mẹ họ rất gắn bó. Vô hình trung, nhóm xã hội này cho rằng lao động trên đồng áng hay trồng trọt chăn nuôi là những hoạt động đơn giản.