Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về mức sống dân cư Chương 2: Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về mức sống dân cư Chương 4: Thực trạng mức sống dân cư ở tỉnh Quảng Bình từ năm 2006 đến năm 2012 Chương 5: Những giải pháp nâng cao mức sống dân cư tỉnh Quảng Bình trong những năm sắp tới 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MỨC SỐNG DÂN CƢ 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu về mức sống dân cƣ Mức sống dân cƣ là một vấn đề rộng, liên quan tới rất nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội. Trong phạm vi của một luận văn thạc sỹ, tác giả chỉ tập trung tổng quan ở một số tài liệu trực tiếp liên quan tới nội dung của đề tài. Đến nay, đã có rất nhiều nhà khoa học và tổ chức nghiên cứu những vấn đề liên quan đến mức sống dƣới nhiều góc độ khác nhau.
Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống nghiên cứu mối tƣơng tác giữa chất lƣợng cuộc sống dân cƣ với quá trình phát triển dân cƣ, phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Theo ông, chất lƣợng cuộc sống là sự đáp ứng đầy đủ về các yếu tố vật chất và tinh thần cho ngƣời dân. Chất lượng cuộc sống” đã phát triển lý thuyết “Tiếp cận năng lực” (capabilities approach). Theo đó, năng lực cá nhân là yếu tố quyết định đến chất lƣợng cuộc sống.
Những năng lực này đƣợc hình thành qua quá trình mà trong đó những nguồn lực đƣợc chuyển đổi bởi ba nhóm yếu tố là cá nhân, xã hội và môi trƣờng vào tiềm năng hoạt động của con ngƣời. Trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam từ năm 1986 tới nay, có rất nhiều nghiên cứu đã đề cập một cách trực tiếp hay gián tiếp đến mức sống dân cƣ ở nhiều khía cạnh khác nhau. Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam là một trong những tổ chức đầu tiên đã đánh giá một số nội dung quan trọng về nâng cao mức sống dân cƣ ở Việt Nam. Báo cáo Phát triển Việt Nam đƣợc công bố hàng năm bởi Ngân hàng Thế giới luôn đề cập tới một số khía cạnh của mức sống dân cƣ.
Trong số các báo cáo đó, nổi bật là Báo cáo nghiên cứu về 5 Nghèo năm 1999, 2004 (WB, 2000, 2004) và gần đây nhất là Báo cáo năm 2012 (WB, 2012). Báo cáo năm 2012 (WB, 2012) đã đánh giá khá toàn diện và đầy đủ các khía cạnh khác nhau của việc nâng cao mức sống dân cƣ. Theo WB (2012), Việt Nam đã hoàn thành tốt và vƣợt nhiều chỉ tiêu đặt ra trong mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, đó là giảm mạnh tỷ lệ nghèo, gia tăng tỷ lệ nhập học các cấp, nâng cao tuổi thọ cho ngƣời dân. Bên cạnh đó, báo cáo này cũng đã cho thấy còn một số thách thức đặt ra cho Việt Nam trong thời gian tới, đó là tỷ lệ nghèo còn cao nếu tính theo chuẩn cập nhật của GSO-WB, đặc biệt là tỷ lệ nghèo còn rất cao, tập trung ở các vùng núi, vùng sâu và vùng dân tộc thiểu số.
Bên cạnh đó, vấn đề bất bình đẳng thu nhập gia tăng làm ảnh hƣởng tới bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, y tế và hệ quả sẽ làm cho bất bình đẳng thêm trầm trọng trong tƣơng lai. Trong một nghiên cứu gần đây, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2011. Giảm nghèo ở Việt Nam: Thành tựu và thách thức, vấn đề mức sống dân cƣ nhƣ nghèo đói và bất bình đẳng giữa các nhóm dân cƣ, nhóm sắc tộc và các vùng địa lý đã đƣợc phân tích và đánh giá dựa trên bộ dữ liệu khảo sát mức sống dân cƣ. Kết quả cho thấy nghèo đói tuy có giảm nhƣng tốc độ giảm rất khác nhau giữa các vùng kinh tế, giữa khu vực nông thôn và thành thị.
Nghèo đói giảm mạnh hơn ở các vùng kinh tế phát triển, ở khu vực thành thị và nhóm dân tộc Kinh/Hoa. Báo cáo này cũng chỉ ra một số nhân tố kinh tế vĩ mô và điều kiện tự nhiên tác động tới công tác giảm nghèo đói ở Việt Nam. Mức sống dân cƣ còn đƣợc thể hiện qua một số chỉ số tổng hợp nhƣ nghèo đa chiều hay chỉ số phát triển con ngƣời. Năm 1990, UNDP đã đƣa ra hệ thống các chỉ tiêu đánh giá về phát triển con ngƣời - HDI (Human Development Index).
Hệ thống các chỉ tiêu này đã phản ánh cách tiếp cận mới, có tính hệ thống về phát triển con ngƣời, coi phát triển con ngƣời là sự mở rộng phạm vi lựa chọn của con ngƣời để đạt đến một cuộc sống trƣờng 6 thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con ngƣời (R. UNDP, 2011 đã công bố báo cáo quốc gia về phát triển con ngƣời ở Việt Nam. Thành tựu về nâng cao mức sống dân cƣ đƣợc thể hiện qua chỉ số HDI trong báo cáo cho thấy Việt Nam là nƣớc có chỉ số HDI ở mức trung bình. Báo cáo cũng cho thấy mặc dù tỷ lệ nghèo thu nhập đã giảm đáng kể nhƣng nghèo đa chiều còn khá cao.
Tỷ lệ nghèo đa chiều cao hơn nghèo tiền tệ ở toàn bộ các tỉnh và các khu vực. Điều đó cho thấy mức sống dân cƣ tiến bộ không đồng đều ở mọi khía cạnh, trong đó, các vấn đề còn rất hạn chế, có ảnh hƣởng mạnh tới chỉ số nghèo đa chiều là tiếp cận giáo dục, y tế và các điều kiện vệ sinh. “Phân hóa giàu nghèo và tác động của yếu tố học vấn đến nâng cao mức sống cho người dân Việt Nam ”; Ngô Quang Thành, 2005. “Tăng trưởng kinh tế, nghèo đói, bất bình đẳng thu nhập và chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam ” đều đã nghiên cứu và đề cập một cách khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn về mức sống của ngƣời dân ở Việt Nam nhƣ thu nhập của ngƣời dân, trình độ dân trí, chất lƣợng y tế, giáo dục.trong chiến lƣợc phát triển kinh tế.
Nguyễn Hồng Sơn, Trần Quang Tuyến, 2014. “Nâng cao mức sống dân cư trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, số I. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã chỉ ra những thành công và thách thức mới trong quá trình nâng cao mức sống dân cƣ. Đó là tỷ lệ nghèo chi tiêu (theo chuẩn GSO-WB) còn rất cao và tỷ lệ nghèo đa chiều còn cao hơn nữa; chênh lệch mức sống ngày càng tăng giữa nhóm 20% dân số giàu nhất và 20% dân số nghèo nhất đã tăng tới gần 10 lần, tƣơng đƣơng với mức cao nhất của các nƣớc công nghiệp hóa mới ở thập niên 1990 của thế kỷ trƣớc.
Đặc biệt nhóm tác giả chỉ ra rằng, mặc dù hiện Việt Nam là nƣớc thu nhập trung bình thấp nhƣng khoảng cách thu nhập so với các 7 nƣớc trong khu vực còn rất cao. Hơn nữa bất bình đẳng về thu nhập sẽ dẫn tới nguy cơ làm gia tăng bất bình đẳng về tiếp cận y tế và giáo dục và hệ quả sẽ làm cho bất bình đẳng thu nhập trầm trọng hơn trong tƣơng lại. Nhóm tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhƣ thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và các chính sách đảm bảo an sinh xã hội cần thiết cho nhóm nghèo. Do thu nhập hay chi tiêu là thƣớc đo trực tiếp về phúc lợi kinh tế của các hộ gia đình nên đã có nhiều nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận kinh tế lƣợng vi mô lƣợng hóa tác động của một số nhân tố thuộc về hộ gia đình tới thu nhập hay chi tiêu của hộ gia đình dựa vào bộ dữ liệu khảo sát mức sống dân cƣ ở Việt Nam ( Pham, T.
Is nonfarm diversification a way out of poverty for rural households? Evidence from Vietnam in 1993-2006 (PMMA Working Paper 2010-17), nhóm tác giả phát hiện ra rằng mặc dù đất đai có vai trò quan trọng trong đảm bảo thu nhập và tiêu dùng lƣơng thực cho các hộ gia đình, việc tham gia vào các nghề phi nông nghiệp có tác động mạnh tới nâng cao mức sống cho các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam trong thời kỳ những năm 2002-2006. Kết cả tƣơng tự cũng đƣợc phát hiện trong nghiên cứu của Van de Walle, D, & Cratty, D, 2004. Is the emerging non-farm market economy the route out of poverty in Vietnam? Economics of Transition, 12 (2), 237-274. Tác giả Trần Quang Tuyến (2014) “Đất đai, việc làm phi nông nghiệp và mức sống hộ gia đình: Bằng chứng mới từ dữ liệu khảo sát vùng ven đô Hà Nội”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, 2012 (4), 36-43, 2014) đã phân tích các nhân tố tác động tới mức sống hộ gia đình từ cách tiếp cận sinh kế hộ gia đình ở các vùng ven đô của thành phố Hà Nội.
Tác giả đã phát hiện ra rằng, tham gia vào việc làm phi nông nghiệp ở bất kỳ loại hình công việc nào đềù giúp cho hộ gia đình nâng cao mức sống và tính trung bình, các hộ tham gia một phần hay toàn bộ vào hoạt động phi nông nghiệp đều có mức sống 8 cao hơn các hộ thuần nông. Bên cạnh đó, cả ba công trình nghiên cứu nói trên đều khẳng định vai trò của giáo dục trong việc nâng cao mức sống cho các hộ gia đình ở Việt Nam. Một số các tác giả khác đã nghiên cứu mức sống dân cƣ ở nghĩa rộng hơn, bao gồm cả việc làm, thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở. và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao mức sống dân cƣ.
Dƣơng Thị Hoàng Trân, 2011. Giải pháp nâng cao mức sống dân cư ở thành phố Đà Nẵng”, luận văn thạc sỹ kinh tế, chuyên ngành Kinh tế phát triển, Đại học Đà Nẵng. Luận văn đã đƣa ra cơ sở lý luận và thực tiễn về mức sống dân cƣ; đánh giá thực trạng mức sống dân cƣ ở thành phố Đà Nẵng thời kỳ 2004 - 2010; đồng thời, đƣa ra giải pháp nhằm nâng cao mức sống dân cƣ ở thành phố Đà Nẵng. Hồ Trung Đông, 2011.
Một số giải pháp nâng cao mức sống các hộ dân tái định cư Dự án Thủy điện Sê San 3A tỉnh Gia Lai , luận văn thạc sỹ kinh tế, chuyên ngành Kinh tế phát triển, Đại học Đà Nẵng.