Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Giới thiệu chung về Đề tài như nêu lý do chọn Đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, khái quát về phương pháp nghiên cứu được sử dụng, những đóng góp (ý nghĩa) của Đề tài, cấu trúc của Đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Trình bày lý thuyết; tóm tắt nội dung, phương pháp và kết quả của các nghiên cứu trước đây có liên quan đến Đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày cách tiếp cận nghiên cứu; phương pháp chọn mẫu/ quy mô mẫu; dữ liệu thu thập; công cụ phân tích dữ liệu. Mô tả về dữ liệu và phương pháp tiến hành nghiên cứu thực nghiệm Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách Tóm tắt toàn bộ nội dung nghiên cứu và kết quả chính của Đề tài.
Trên cơ sở đó đưa ra các gợi ý về chính sách cho các quốc gia Châu Á trong việc thu hút và sử dụng vốn FDI hướng đến mục tiêu không gây các tác động bất lợi đối với môi trường. Phần tài liệu tham khảo Phụ lục 123doc 6 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2.1 FDI Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF, 1993): FDI là hoạt động đầu tư vốn được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác. FDI là loại hình đầu tư dài hạn và trực tiếp. Có thể thực hiện FDI theo các phương thức như bỏ vốn thành lập doanh nghiệp mới ở nước ngoài; mua lại một phần hay toàn bộ các doanh nghiệp có sẵn hoặc mua cổ phiếu tiến tới thôn tính, sáp nhập.
Theo Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD), FDI là danh mục đầu tư quốc tế vào một doanh nghiệp nào đó mà trong đó sở hữu ít nhất 10% vốn cổ phần của doanh nghiệp được đầu tư. Nhà đầu tư có thể đầu tư vào một công ty có sẵn hoặc thành lập công ty mới. FDI sẽ tạo sự thay đổi trên bảng cân đối kế toán, thay đổi trong nguồn vốn, nhân công, năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của nước nhận đầu tư. Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO): FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 1996): FDI là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp. Có các mục đầu tư như: Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới hoặc cấp tín dụng dài hạn ( > 5 năm). Để có quyền kiểm soát, nhà đầu tư cần nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên.1: Dòng vốn đầu tư FDI vào các nhóm nước, giai đoạn 1996-2015 Nguồn: UNCTAD, FDI/MNE database (www.org/fdistatistics) Từ những năm 1960, dòng vốn FDI đã được quan tâm nghiên cứu và lý giải vì những tác động tích cực đối với nước tiếp nhận đầu tư. Theo thời gian, FDI không ngừng gia tăng rộng khắp ở tất cả các nền kinh tế.
Trên phạm vi toàn thế giới, FDI đạt giá trị lớn nhất vào thời điểm năm 2007 với 1,9 ngàn tỷ đô FDI chảy vào các quốc gia. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 kéo theo sự sụt giảm của dòng FDI; tuy nhiên, FDI nhanh chóng lấy lại xu thế hồi phục không lâu sau đó. Năm 2014, FDI toàn cầu giảm 16% so với năm 2013 nhưng bất ngờ tăng 40% trong năm 2015, đạt xấp xỉ 1,75 ngàn tỷ đô- mức cao nhất kể từ khủng hoảng kinh tế 2008. Năm 2016, FDI toàn cầu giảm 13% so với năm 2015, ước đạt 1,52 ngàn tỷ đô trong điều kiện kinh tế và thương mại thế giới yếu (UNCTAD, 2017).
Sự suy giảm này không đồng đều giữa các khu vực (suy giảm ở các quốc gia phát triển và đang phát triển với mức giảm lần lượt là 9% và 20%; tăng 38% ở các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi); phản ánh tác động không đồng nhất của môi trường kinh tế hiện nay đối với các quốc gia trên toàn thế giới. Về xu hướng của dòng FDI: vào những năm trước 2007, FDI trên thế giới gia tăng và chịu sự chi phối chủ yếu của các nước công nghiệp phát triển. Sau 2008, có sự thay đổi trong các khu vực đầu tư khi FDI có xu hướng dịch chuyển sang các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi; trong đó, châu Á là khu vực quan trọng và rất năng động trong việc thu hút FDI.2: Dòng vốn đầu tư FDI vào các khu vực, giai đoạn 2013-2015 Nguồn: UNCTAD, 2017. World investment report 2016, p4 Biểu đồ 2.2 về lượng vốn FDI đổ vào các khu vực trong giai đoạn 2013-2015 cho thấy các quốc gia đang phát triển ở Châu Á là khu vực nhận được lượng FDI lớn nhất.3: Đóng góp của khu vực đối với dòng vốn FDI toàn cầu, 2015-2016 Nguồn: UNCTAD, 2017.
Global investment trends monitor, p2. Năm 2016, dòng vốn FDI vào khu vực châu Á và châu Đại Dương giảm 22%, trong đó, suy giảm phần lớn tập trung ở thị trường Hongkong, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Singapore. Tuy nhiên, luồng vốn FDI vào Trung Quốc tiếp tục tăng 2,3% và Hàn Quốc với con số cam kết đạt 9,4 tỷ USD; dòng vốn FDI ở Pakistan tăng trưởng 82%, lên mức 1,6 tỷ USD. Báo cáo mới nhất về xu hướng đầu tư toàn cầu của UNCTAD cũng dự báo FDI toàn cầu năm 2017 sẽ tăng trưởng khoảng 10% với xu hướng gia tăng trở lại của dòng vốn vào các nước công nghiệp phát triển, do các nước đang phát triển đã giảm lợi thế về nhân công giá rẻ; tuy nhiên, những nền kinh tế châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore vẫn sẽ tiếp tục là những điểm đến hấp dẫn.2 Thể chế Với bản chất đa chiều, thể chế được xem là cách mà Chính phủ thực thi quyền lực chính trị để điều hành hoạt động của 1 quốc gia (World Bank); nó bao gồm quá trình mà các Chính phủ được tuyển chọn, kiểm soát và thay thế; năng lực của Chính phủ để thiết lập và thực thi hiệu quả các chính sách; sự tôn trọng của người dân đối với các tổ chức để quyết định các tương tác giữa kinh tế và xã hội (Kaufmann và Kraay 2002).
Thể chế liên quan đến cách chính phủ được cấu trúc, quy trình quản lý và kết quả là thực hiện những điều liên quan đến nhu cầu của những công dân mà họ phục vụ (Jreisat, 2002). Keefer (2004) chỉ ra rằng thể chế có quan hệ mật thiết đến mức độ mà chính phủ đáp ứng cho người dân và cung cấp cho họ các dịch vụ cốt l i như bảo vệ quyền sở hữu, các quy định chung của pháp luật và mức độ mà thể chế cung cấp cho các nhà hoạch định chính phủ một động lực để đáp ứng tốt cho công dân. Theo Báo cáo Các nguồn dữ liệu và nghiên cứu về thể chế của Trung tâm dữ liệu- phân tích kinh tế, Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh (2016): Thể chế thường được đo lường bằng cảm nhận của công chúng và doanh nghiệp về nhiều khía cạnh khác nhau của thể chế.
Chỉ số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) là cơ sở dữ liệu dữ liệu về quản trị quốc gia của hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Chỉ số WGI ra đời năm 1996 và liên tục được hoàn thiện cho đến nay. Chỉ số WGI bao gồm hơn 300 chỉ tiêu từ 30 nguồn dữ liệu khác nhau và được chia thành sáu nhóm chỉ tiêu lớn: (a) Quá trình Chính phủ được lựa chọn, giám sát và thay thế 1. Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability): đo lường cảm nhận về mức độ tham gia của người dân vào việc lựa chọn chính phủ, mức độ tự do bày tỏ quan điểm của người dân và các phương tiện truyền thông đại chúng.
Ổn định chính trị và không có bạo lực (Political Instability and Absence of Violence): đo lường cảm nhận về khả năng chính phủ không ổn định hay bị lật đổ 123doc 11 bởi các phương tiện không hợp hiến hay bạo lực, bao gồm bạo lực có động cơ chính trị và khủng bố. (b) Khả năng của Chính phủ trong việc xây dựng và thực thi chính sách hiệu quả 3. Hiệu quả của Chính phủ (Government Effectiveness): đo lường cảm nhận về chất lượng của dịch vụ công và mức độ độc lập với các áp lực chính trị, chất lượng xây dựng và thực thi chính sách và tính tin cậy của cam kết thực hiện của chính phủ trong việc thực thi các chính sách này. Chất lượng các quy định (Regulatory Quality): đo lường cảm nhận về khả năng của chính phủ trong việc xây dựng các chính sách khuyến khích sự phát triển của khu vực tư nhân.
(c) Tôn trọng của người dân và chính quyền đối với thể chế 5. Nhà nước pháp quyền (Rule of Law): đo lường cảm nhận về mức độ tin tưởng và tôn trọng của người dân đối với các quy định của xã hội, đặc biệt là về chất lượng của việc thực thi hợp đồng, quyền sở hữu tài sản, cảnh sát, tòa án, cũng như về mức độ tội phạm và bạo lực. Kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption): đo lường cảm nhận về mức độ chế tài của pháp luật đối với các hành vi tham nhũng và các loại tham nhũng khác nhau, kể cả việc thâu tóm chính quyền của một số nhóm lợi ích. Dữ liệu từ hơn 300 chỉ tiêu của 30 nguồn khác nhau được tính toán thành sáu chỉ số quản trị cho sáu nhóm chỉ tiêu.
Kaufmann et al. (2010) thiết lập phương pháp tính toán chỉ số WGI theo các bước sau: Bước 1: Sắp xếp dữ liệu từ từng nguồn khác nhau cho sáu nhóm chỉ tiêu lớn Câu hỏi từ từng nguồn được chọn lọc và sắp xếp cho từng nhóm chỉ tiêu lớn. Ví dụ, một câu hỏi khảo sát doanh nghiệp về môi trường quản lý sẽ được xếp vào nhóm chỉ tiêu Chất lượng các quy định (Regulatory Quality), hay một đo lường về 123doc 12 tự do báo chí sẽ được xếp vào nhóm chỉ tiêu Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability).