Đặt vấn đề nghiên cứu: Trong hơn 4 thập kỷ từ năm 1970 - 2012 cùng với xu hướng toàn cầu hóa, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (foreign direct investment - FDI) trên toàn thế giới đã gia tăng đáng kể. Theo số liệu thống kê của Tổ chức Liên hiệp Quốc tế về Thương mại và Phát triển (UNCTAD, 2013) dòng vốn này có xu hướng tăng lên qua các năm, năm 2012 tổng vốn FDI của toàn cầu đạt 1.350 tỷ USD, trong khi đó vào năm 1970 số lượng vốn này chỉ đạt 13,346 tỷ USD, tức là thế giới đã chứng kiến một sự gia tăng trong tổng vốn FDI toàn cầu là 144 lần. Mặt khác, khi so sánh tương quan với giá trị tổng sản phẩm quốc nội, dòng vốn FDI toàn cầu trong 4 thập kỷ qua đã tăng nhanh hơn gấp 6 lần. Đối với các nước đang phát triển, dòng vốn FDI cũng có sự gia tăng rất đáng kể, nếu như ở thập kỷ 90 dòng vốn FDI vào các nước này chỉ chiếm 29% tổng vốn toàn cầu thì trong thập kỷ qua con số này đã thay đổi rất nhiều, chiếm đến 46% (UNCTAD, 2013).
Điều này đã cho thấy xu hướng dịch chuyển rõ rệt dòng vốn FDI trên thế giới hiện nay, đang dần chuyển sang các nước đang phát triển, hình 1.1 minh họa rõ hơn về nhận định trên.1: Dòng vốn đầu tư FDI giữa các nhóm nước giai đoạn 2005- 2014 Bên cạnh sự gia tăng về lượng vốn FDI giữa các quốc gia, vốn FDI còn được xem là một động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế của rất nhiều nước trên thế giới (Wang, 2009). Nhiều chính phủ các nước phát triển cũng như các nước 123doc 2 đang phát triển cho rằng FDI có thể giúp họ vượt qua sự trì trệ trong phát triển kinh tế và giải quyết nạn đói nghèo (Brooks et al. Theo nghiên cứu của Bwalya (2006) cho rằng FDI có thể hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế thông qua 3 kênh: (i) hỗ trợ vốn (không liên quan đến nợ nần) nhằm tài trợ đầu tư cho nước thu hút; (ii) nâng cao trình độ kỹ thuật của nước thu hút; và (iii) chuyển giao công nghệ mới cho các doanh nghiệp tại các nước nhận đầu tư. Tầm quan trọng đối với việc gia tăng lượng vốn FDI cho phát triển kinh tế, xã hội đã dẫn đến sự cạnh tranh lớn giữa các nước, đòi hỏi chính phủ mỗi quốc gia phải đẩy mạnh xúc tiến và cải thiện môi trường đầu tư.
Khu vực châu Á là một trong những khu vực có mức độ tham nhũng hàng đầu trên thế giới với chỉ số tham nhũng trung bình năm 2012 là 3,92 so với 4,56 và 6,57 của châu Mỹ và châu Âu (Transparency International - TI, 2012). Ở Việt Nam tham nhũng được xem như là nguy cơ lớn đe dọa đến sự tồn vong của chế độ (văn kiện đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, 2010), ở Trung Quốc chính phủ nước này cho rằng nếu Trung Quốc không xử lý tốt vấn đề tham nhũng có thể nguy hiểm đối với sự tồn vong của Đảng Cộng sản Trung Quốc, một số các quốc gia thuộc khu vực châu Á có chỉ số đo lường mức độ tham nhũng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Indonesia, Philippines, Việt Nam, Campuchia đã xảy những vụ án về tham nhũng trở thành chủ đề bàn luận, phân tích về vấn đề tham nhũng của các học giả, báo chí toàn thế giới, như ngài tổng thống Suharto của Indonesia được mệnh danh là ngài1 10% (Shang Jin Wei, 2000). Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tham nhũng và việc thu hút dòng vốn FDI của các quốc gia là chủ đề được các nhà nghiên cứu và nhà làm chính sách quan tâm rất nhiều. Tuy nhiên, chiều hướng tác động của tham nhũng đến việc thu hút FDI chưa có được sự thống nhất cao cả về góc nhìn lý thuyết và thực nghiệm.
Bằng chứng từ các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tham nhũng đến việc thu hút FDI được thể hiện thông qua 3 quan điểm như sau: (i) Tham nhũng tác động tiêu 1 10% là số tiền hoa hồng từ các dự án, hợp đồng của chính phủ, hay các khoản lợi ích thu được do một quyết định mang tính vụ lợi của ông Shuhato. 123doc 3 cực đến thu hút FDI (Drabek và Payne, 1999; Wei, 2000; Abed và Davoodi, 2000; Habib và Zurawicki, 2002; Zhao và cộng sự, 2003; Javorcik & Wei, 2009); (ii) Tham nhũng không có tác động đáng kể đến việc thu hút FDI (Akcay, 2001; Egger và Winner, 2006; Al-Sadig, 2009) và (iii) Tham nhũng có tác động tích cực đến việc thu hút FDI (Tullock, 1996; Houston, 2007; Durán & De la Fuente, 2011).Vậy tham nhũng ảnh hưởng như thế nào đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở các quốc gia Đông Nam Á, đó là vấn đề mà bài viết tập trung nghiên cứu. Ngoài ra, tham nhũng còn là một vấn đề nhức nhối trong xã hội các nước châu Á và đã có những tuyên bố mạnh mẽ từ chính phủ của các quốc gia châu Á về việc chống tham nhũng, ví dụ ở Trung Quốc là chiến dịch “đả hổ” với kết quả là hàng loạt các quan chức cấp cao từ trung ương đến địa phương phải đối mặt với các cáo buộc liên quan đến tham nhũng, ở Việt Nam là các nghị quyết của Đảng, chính phủ khẳng định quyết tâm chống tham nhũng, các đại án về tham nhũng được đưa ra xét xử công khai trước công luận. Điều tương tự cũng diễn ra tại các quốc gia như Indonesia, Philippines, Malaysia, chính vì tính thời sự của chủ đề tham nhũng đã thôi thúc tác giả nghiên cứu một cách rõ ràng hơn về vấn đề tham nhũng như đã đề cập đến ở phần trên.
Ngoài ra, các nghiên cứu về tham nhũng chủ yếu thường tập trung vào những nhân tố thuộc về vấn đề nội tại của nước nhận vốn đầu tư, mà chưa tập trung nghiên cứu những đặc điểm của nước đầu tư vốn, nghiên cứu này sẽ nghiên cứu thêm về mức độ tham nhũng ở quốc gia thực hiện đầu tư ảnh hưởng như thế nào đến quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp nước đó.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu chính của bài viết là xem xét mối quan hệ giữa yếu tố tham nhũng đến việc thu hút dòng vốn FDI ở các quốc gia nhận đầu tư và việc lựa chọn địa điểm đầu tư của các quốc gia đầu tư, trong phạm vi nghiên cứu là khu vực Asean +2 (Asean, Trung Quốc và Ấn Độ). Cụ thể bài viết tập trung làm rõ hai mục tiêu nghiên cứu sau. 123doc 4 Mục tiêu thứ nhất là, kiểm tra ảnh hưởng của yếu tố tham nhũng tại các quốc gia trong nhóm Asean+2 đến việc thu hút dòng vốn FDI. Mục tiêu thứ hai là, xem xét ảnh hưởng của yếu tố tham nhũng tại các quốc gia thực hiện đầu tư đến quyết định đầu tư vốn ra nước ngoài.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chính của bài viết là yếu tố tham nhũng và dòng vốn FDI dịch chuyển vào các quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc, Ấn Độ (gọi tắt là Asean +2).2 Phạm vi nghiên cứu Nhằm đánh giá ảnh hưởng của yếu tố tham nhũng đến kết quả thu hút FDI của các quốc gia trong khu vực Asean +2, bài viết đã sử dụng các số liệu về kết quả thu hút FDI của các quốc gia thuộc khu vực Asean +2 trong hai năm 2011 và 2012, nguồn dữ liệu được tập hợp từ cơ sở dữ liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF), Liên hiệp Quốc tế về Thương mại và Phát triển (UNCTAD).
Chỉ số đánh giá mức độ tham nhũng là bộ chỉ số nhận thức tham nhũng (corruption perceptions index - CPI) của 145 quốc gia trên thế giới trong hai năm từ 2011 đến 2012 với nguồn dữ liệu được tập hợp từ cơ sở dữ liệu của tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI).4 Phương pháp nghiên cứu Để đánh giá ảnh hưởng của yếu tố tham nhũng đến kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài của các quốc gia trong Asean +2, nghiên cứu sử dụng hai mô hình là mô hình Probit và mô hình hồi quy OLS. Sử dụng mô hình Probit sử dụng để cho thấy ảnh hưởng của tham nhũng đến quyết định đầu tư, trong khi đó mô hình OLS được sử dụng để cho thấy ảnh hưởng của tham nhũng đến mức độ đầu tư. Biến phụ thuộc của mô hình Probit sẽ đại diện cho quyết định đầu tư, biến phụ thuộc mô hình hồi quy OLS sẽ là giá trị tuyệt đối của lượng vốn đầu tư, từ kết quả hồi quy của hai mô hình để kết luận về vai trò của tham nhũng trong việc thu hút vốn FDI.5 Kết cấu của luận văn Ngoài chương giới thiệu, kết cấu luận văn gồm những chương như sau: Chương 2: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nội dung chính của chương hai là nghiên cứu tổng quan về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (foreign direct investment - FDI) bao gồm các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố xác định vị trí của dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra trong chương hai cũng trình bày về tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế. Chương 3: Tham nhũng và ảnh hưởng của tham nhũng đến nền kinh tế. Nội dung chính của chương ba là nghiên cứu định nghĩa về tham nhũng, nguồn gốc cũng như phân loại tham nhũng. Ảnh hưởng của tham nhũng đến nền kinh tế qua các phương diện phân bổ nguồn lực, công cụ chính sách, cải cách thể chế và phân hóa giàu nghèo.
Ngoài ra, các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của tham nhũng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng sẽ được trình bày trong phần cuối của chương. Chương 4: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chính của chương bốn là trình bày về mô hình lý thuyết, sau đó sẽ là mô hình kinh tế lượng của nghiên cứu và giới thiệu về bộ dữ liệu cũng như các biến số trong mô hình nghiên cứu. Chương 5: Kết quả nghiên cứu.
Chương này sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu có được từ mô hình nghiên cứu đã được đề xuất tại chương bốn theo từng nhóm nước, sau đó đưa ra một kết luận chung về kết quả nghiên cứu, phần cuối của chương năm sẽ trình bày các kiểm định thống kê về sự phù hợp của mô hình nghiên cứu. Chương 6: Kết luận và hàm ý chính sách.