lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu trong bốn chƣơng. 3 z Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý VNN trong các CTCP Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng về quản lý VNN tại các CTCP của tỉnh Lạng Sơn Chƣơng 4.
Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý VNN trong các CTCP tỉnh Lạng Sơn 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƢỚC TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu điển hình về cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam Những nghiên cứu đƣợc thực hiện vào những năm 90 của thế kỷ 20 tập trung chủ yếu vào vấn đề lý luận về CPH và bàn về việc tiến hành CPH DNNN ở Việt Nam nhƣ “Cơ sở khoa học của việc chuyển đổi một số DNNN thành CTCP ở Việt Nam”(1993). Ngoài ra còn có công trình vừa nghiên cứu về lý luận của CPH DNNN vừa nghiên cứu quá trình CPH ở một số quốc gia nhƣ “CPH DN nhà nƣớc - cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn”(1996) của Nguyễn Ngọc Quang.
Sang giai đoạn tiếp theo, kế thừa các nghiên cứu trƣớc đó, một loạt các nghiên cứu sâu về CPH ở Việt Nam đƣợc thực hiện nhằm tìm ra giải pháp thúc đẩy quá trình CPH ở Việt Nam, cũng nhƣ phát hiện ra các vấn đề nảy sinh mà DN sẽ đối mặt sau khi CPH và cách thức giải quyết chúng. Với mong muốn đẩy nhanh quá trình CPH ở một địa phƣơng hay lĩnh vực, ngành cụ thể. Một loạt các nghiên cứu đã đƣợc thực hiện, trong đó ở phạm vi một địa phƣơng có “Một số giải pháp nhằm thúc đẩy CPH DNNN trong công nghiệp Việt Nam”(2003) của Hoàng Kim Huyền hay trong phạm vi DNNN của tổng công ty có tác giả Trần Nam Hải với “Thực trạng CPH ở Tổng công ty Bƣu chính Viễn thông Việt Nam: kinh nghiệm và giải pháp”(2006). Dù tiếp cận ở phạm vi nào, điểm chung của các nghiên cứu đó là tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về CPH, đánh giá một cách khoa học về diễn biến quá trình CPH nhằm tìm ra những vấn đề khó khăn và bất cập trong triển khai thực hiện.
Trên cở sở đó, các tác giả đều đã đề xuất các 5 z nhóm giải pháp đẩy nhanh tiến trình CPH DNNN trong phạm vi nghiên cứu của mình. Các nghiên cứu điển hình về vấn đề vốn, quản lý vốn và chính sách quản lý vốn nhà nước trong các công ty cổ phần Trong nghiên cứu “Nhà nƣớc với tƣ cách là nhà đầu tƣ: CPH, tƣ nhân hóa và chuyển đổi DNNN tại Việt Nam”(2006), của Scott Cheshier và các cộng sự tiếp cận vấn đề CPH trên góc độ nâng cao vai trò của nhà nƣớc trong các DNNN. Nghiên cứu đã cho thấy tình trạng thất thoát và phân quyền không chính thức thời kỳ kế hoạch hóa tập trung đã dẫn tới giảm vai trò của chính quyền trung ƣơng trong sở hữu và kiểm soát các DNNN. Nghiên cứu khẳng định nhà nƣớc có ba mối quan tâm lớn: VNN phải đƣợc bảo toàn, các tổng công ty phải đáp ứng những chỉ tiêu/mục tiêu do nhà nƣớc đề ra và các tổng công ty phải phát triển những ngành công nghiệp chủ đạo.
Nhƣ vậy, để DNNN phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, vấn đề đặt ra là phải bảo toàn và phát triển VNN trong các DN sau CPH. Làm thế nào để quản lý tốt VNN trong DN sau CPH? Câu trả lời có trong một số nghiên cứu sau. Đề tài “Hệ thống hoá và đánh giá hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về vấn đề sử dụng VNN đầu tƣ vào kinh doanh” năm 2006, Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ƣơng (CIEM) chú trọng phân tích, đánh giá hệ thống văn bản pháp luật về chính sách đầu tƣ vốn của Nhà nƣớc vào kinh doanh và vai trò chủ sở hữu VNN. Qua đó nghiên cứu chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế, phƣơng thức đầu tƣ vốn và quản lý vốn tại DN, đƣa ra kiến nghị về giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý vốn nhằm tăng cƣờng tính chủ động cho DN, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong quá trình triển khai, xác định đƣợc chức năng vai trò của chủ sở hữu VNN, đánh giá thực trạng quản lý VNN tại DNNN và tình hình sắp xếp, đổi mới DNNN.
6 z Quản lý VNN dù bằng cách nào thì cũng theo khuôn khổ pháp lý. Chính vì vậy, sự xuất hiện chính sách quản lý VNN tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý VNN. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện sẽ nảy sinh “Những tồn tại, vƣớng mắc ở chính sách quản lý VNN tại DN sau CPH và một số giải pháp khắc phục”(2009), tác giả Trần Xuân Long cho rằng bên cạnh quá trình sắp xếp và CPH DNNN, việc quản lý VNN tại các DN sau CPH là một vấn đề cần đƣợc quan tâm và sớm giải quyết nhằm thực hiện đồng bộ quản lý giám sát của nhà nƣớc trên cả hai vai trò QLNN và chủ sở hữu vốn. Cũng trong nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra có 5 vƣớng mắc lớn trong cơ chế quản lý VNN tại DN sau CPH đó là: bất cập trong chính sách đối với ngƣời đại diện; chƣa có hƣớng dẫn cụ thể và hình thức phân phối lợi nhuận; chƣa có đánh giá cụ thể và đầy đủ về việc các tập đoàn, tổng công ty cho các công ty con, công ty liên kết vay vốn; xuất hiện hiện tƣợng đầu tƣ đan xen trong nội bộ tập đoàn, tổng công ty ảnh hƣởng đến hiệu quả vốn đầu tƣ; nhiều DN thuộc các tập đoàn, tổng công ty cùng hoạt động trong ngành nghề giống nhau dẫn đến cạnh tranh lẫn nhau đã ảnh hƣởng không nhỏ đến năng lực tài chính và hiệu quả sử dụng vốn tại DN.
Những vƣớng mắc này chỉ đƣợc giải quyết nếu nhƣ có một hành lang pháp lý đồng bộ. Vì vậy, trong một nghiên cứu khác “Chính sách quản lý VNN tại các DN sau CPH (2009), tác giả Trần Xuân Long khẳng định: quản lý VNN tại DN sau CPH chƣa có qui định cụ thể riêng nên dẫn đến công tác quản lý VNN trong các DN sau CPH phát sinh nhiều vƣớng mắc trong đại diện chủ sở hữu VNN, vấn đề ngƣời đƣợc cử làm đại diện VNN tại DN sau CPH. Do đó, tác giả đã đề xuất một số hƣớng hoàn thiện nhằm tạo lập một khuôn khổ hành lang pháp lý cho công tác quản lý VNN trong DN sau CPH. Đề tài nghiên cứu “Cải cách phƣơng thức quản lý, giám sát phần VNN tại DN” năm 2009 của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ƣơng (CIEM).
Công trình tập trung làm rõ một số nội dung cơ bản của phƣơng 7 z thức quản lý và giám sát VNN đầu tƣ tại DN, trong đó khuyến nghị cần sớm đổi mới, tăng quyền chủ động hoạt động sản xuất kinh doanh, tự chủ về tài chính, giảm sự can thiệp của cơ quan Nhà nƣớc trong quá trình hoạt động kinh doanh, tăng cƣờng giám sát thông qua kiểm toán độc lập, tiêu chuẩn của ngƣời đại diện chủ sở hữu, tách biệt chức năng quản lý kinh tế và chức năng QLNN trong DN và hƣớng đến giảm dần số lƣợng DNNN ở một số lĩnh vực ngành nghề không cần thiết nắm giữ. Đề tài nghiên cứu “Cơ chế chính sách tài chính đối với DNNN sau cổ phần hoá” năm 2010, Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ƣơng (CIEM) đề cập đến quản lý VNN tại các DNNN sau CPH và nâng cao hiệu quả quản lý vốn tại DN, thông qua việc ban hành các tiêu chí đối với ngƣời đại diện vốn, cơ chế phối hợp của nhóm ngƣời đại diện vốn tại DN; tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp tài chính cho ngƣời quản lý DN; phẩm chất chính trị, đạo đức, nghiệp vụ cho cán bộ QLNN về tài chính đối với DN cũng nhƣ quyền lợi trách nhiệm của ngƣời đại diện vốn; sự phối hợp, kiểm tra và giám sát của các cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền trong quản lý VNN tại DN. Báo cáo nghiên cứu “Các vấn đề tài chính phát sinh khi chuyển toàn bộ DNNN sang hoạt động theo Luật DN từ 01/07/2010”, năm 2011, Công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ƣơng (CIEM). Nghiên cứu đã đánh giá tổng thể khung pháp lý liên quan đến DNNN trƣớc và sau chuyển đổi, trong đó chú trọng đến khía cạnh vốn và tài chính của DN; chỉ ra những khác biệt về khung pháp lý thay đổi giữa Luật DNNN năm 2003 và Luật DN năm 2005 trên khía cạnh về chủ sở hữu, đại diện chủ sở hữu, quản lý vốn và làm rõ những khoảng trống pháp lý, dự báo những phát sinh trong quá trình thực hiện nhƣ: chƣa có quy định pháp lý đối với chủ sở hữu vốn và đại diện chủ sở hữu tại các DN quốc phòng, an ninh.
Tóm lại, các nghiên cứu về VNN và quản lý VNN, đặc biệt là quản lý VNN trong các CTCP đã đƣợc thực hiện thời gian qua. Tuy nhiên, các 8 z nghiên cứu điển hình nêu trên mới chỉ tiếp cận ở góc độ nào đó của vấn đề quản lý vốn, hoặc trong phạm vi một DN cụ thể. Vì vậy, chƣa khái quát đƣợc một bức tranh toàn cảnh về công tác quản lý VNN trong các CTCP của một địa phƣơng nhƣ tỉnh Lạng Sơn. Điều đó dẫn đến thiếu đi các căn cứ quan trọng để chính phủ và các tỉnh thiết lập một khuôn khổ để thực hiện tốt vai trò quản lý đối với các CTCP.
Trong bối cảnh đó, học viên đã chọn “Quản lý vốn nhà nước trong các công ty cổ phần của tỉnh Lạng Sơn" là đề tài nghiên cứu. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn nhà nƣớc trong các công ty cổ phần 1. Vốn nhà nước trong các công ty cổ phần 1. Vốn và vai trò của vốn trong Doanh nghiệp Vốn là một phạm trù kinh tế trong lĩnh vực tài chính, gắn liền với nền sản xuất hàng hoá.
Vốn là tiền huy động vào sản xuất nhằm mục đích sinh lợi, hay nói cách khác, tiền chỉ là vốn khi đƣợc đƣa vào trong sản xuất lƣu thông.Mác cho rằng: "Nhƣ vậy là giá trị đƣợc ứng ra lúc ban đầu không những đƣợc bảo tồn trong lƣu thông, mà còn thay đổi đại lƣợng của nó, còn cộng thêm một giá trị thặng dƣ, hay đã tự tăng thêm giá trị. Chính sự vận động ấy biến giá trị đó thành tƣ bản" [3, trang 228].