CHƯƠNG 1 TÓNG QUAN ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU 1. LY DO CHON DE TAI Nhiều nhà đầu tư đã nhận thấy, thị trường chứng khoán là nơi có thể mang lại khả năng sinh lời cao cho vốn đầu tư của họ, nhưng đó cũng là nơi đồng tiền dễ bay hơi nhất. Thị trường chứng khoán thay đổi theo từng giây trôi qua. Chính sự biến động của thị trường đã tạo ra kinh nghiệm cho các nhà đầu tư.
Họ luôn tìm hiểu các phương pháp dự báo xu hướng biến động của thị trường để có thể kiếm được lợi nhuận tối ưu. Vì thế, mối liên hệ giữa tỉ suất sinh lợi chứng khoán và độ biến động đã trở thành chủ đề thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua. Các bài nghiên cứu đã tìm thây xu hướng chung là khi giá chứng khoán giảm xuống thì độ biến động tỉ suất sinh lợi sẽ tăng (Black, 1976; Christie, 1982; Cheung and Ng, 1992). Tuy nhiên, Duffee (1995) đã tìm thấy bằng chứng là tỉ suất sinh lợi của chứng khoán và độ biến động lợi nhuận chứng khoán có thể có mối tương quan cùng chiều.
Để tìm ra kết quả chính xác cho mối tương quan giữa tỉ suất sinh lợi và độ biến động, các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều phương pháp phân tích khác nhau. Một số phương pháp nổi bật như mô hình GARCH trung bình (Baillie va DeGennaro, 1990) mô hình hồi quy nhị phân (Chen và Zhou, 2001), mô hình hồi quy gần như không tương quan SUR kết hợp với EGARCH (1,1) (Tabak và Guerra, 2007), mô hình độ biến động ngẫu nhiên trung bình SVM (Koopman và Hol Uspensky, 2002). Các nghiên cứu cũng được thực hiện đa dạng tại các thị trường chứng khoán trên thế giới, có thể kê đến nghiên cứu của Duffee, G. vào năm 1995 thực hiện trên dữ liệu của 2494 doanh nghiệp giao dịch trên sàn chứng khoán New York; nghién ctru cua Koopman, S.
va Hol Uspensky, E. vào năm 2002 tại ba thị trường Hoa Kỳ, Anh Quốc và Nhật Bản; các tác gia Han, Q. vào năm 2012 đã thực hiện nghiên cứu của họ tại thị trường Hàn Quốc. Câu hỏi đặt ra là liệu ở thị trường Việt Nam, mối quan hệ giữa tỉ suất sinh lợi của chứng khoán và độ biến động của chúng có tồn tại và diễn ra theo chiều hướng như thế nào? So với các quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Anh Quốc, Nhật Bản.
thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá trẻ. Thị trường chứng khoán chỉ mới chính thức ra đời hơn hai mươi năm khi Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước được thành lập ngày 28/11/1996 theo Nghị định số 75/CP của Chính phủ. Ngoài ra, thị trường chứng khoán Việt Nam không hiệu quả ở dạng yếu, khi đó, giá chứng khoán thay đổi không ngẫu nhiên (Phạm Đình Long và Nguyễn Thanh Huyền, 2017). Đồng thời, tâm lý đám đông đang chỉ phối thị trường, hành vi của một nhóm nhỏ các nhà đầu tư cũng có thể gây ra tác động cho cả thị trường (Nguyễn Thùy Linh, 201 1).
Từ những lý do đó, bài viết này tập trung nghiên cứu về đề tai “Ti suất sinh lợi của chứng khoán và độ biến động của chúng: Phân tích tại thị trường Việt Nam”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Xuất phát từ lý do chọn đề tài, bài viết sẽ tập trung trả lời cho những câu hỏi, đồng thời cũng là mục tiêu nghiên cứu của bài như sau: + Có tồn tại hay không mối tương quan giữa tỉ suất sinh lợi của chứng khoán và độ biến động của chúng tại thị trường Việt Nam? + Nếu có, mối tương quan giữa tỉ suất sinh lợi của chứng khoán và độ biến động của chúng tại thị trường Việt Nam diễn ra theo chiều hướng như thế nào? (Đồng biến, nghịch biến hay là không có sự tương quan?) + Các đặc trưng của doanh nghiệp về quy mô và đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng như thế nào đến độ biến động tỉ suất sinh lợi hay không? 1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề xem xét mối tương quan giữa tỉ suất sinh lợi của chứng khoán và độ biến động của chúng tại thị trường Việt Nam, phương pháp tiếp cận của bài chủ yếu dựa trên nghiên cứu của Duffee (1995). Phương pháp ước lượng được sử dụng trong bài là phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (OLS) và phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (GLS).
Phần mềm hỗ trợ được sử dụng để xác định các kết quả nghiên cứu là phần mém Stata 14. Bài viết tập trung nghiên cứu dữ liệu của các chứng khoán niêm yết tại San Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh và Sàn Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Số lượng mã chứng khoán quan sát là 105 mã.
Thời gian nghiên cứu là giai đoạn từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2016. Dữ liệu được lấy theo ngày và được biến đổi trong quá trình phân tích. Dữ liệu thu thập gồm giá đóng cửa của chứng khoán, số lượng cô phiếu lưu hành và giá trị nợ của doanh nghiệp. Dữ liệu được cung cấp từ cơ sở đữ liệu Thomson Reuters tại Việt Nam.
NỘI DUNG BÀI NGHIÊN CỨU Ngoài các phần lời cam đoan, danh mục từ viết tắt, bảng biều, bài nghiên cứu bao gồm năm phần chính như sau: + + + + + Tổng quan về đề tài nghiên cứu; Tóm tắt các bài nghiên cứu trước đây: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu; Thảo luận kết quả nghiên cứu; Rút ra kết luận. ĐÓNG GOP CUA DE TAI Các bài nghiên cứu về mối tương quan giữa tỉ suất sinh lợi của chứng khoán và độ biến động của chúng được thực hiện ở nhiều thị trường chứng khoán khác nhau trên thế giới. Tại thị trường Việt Nam, chủ đề về độ biến động tỉ suất sinh lợi chứng khoán cũng đã được quan tâm trong thời gian qua. Tuy nhiên, các bài nghiên cứu đó chỉ dừng lại ở việc quan sát quan sát mối tương quan này trên dữ liệu hàng ngày hoặc hàng năm, hay quan sát mối tương quan giữa độ biến động tỉ suất sinh lợi và các biến khác như tính thanh khoản, tỉ lệ sở hữu nước ngoài trong doanh nghiệp.
Bài nghiên cứu này được kỳ vọng sẽ đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm cho mối tương quan giữa tỉ suất sinh lợi của chứng khoán và độ biến động của chúng. Mối tương quan trong bài được phân tích theo tần suất hàng ngày, hàng tháng và hàng quý. Từ đó, kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp một cái nhìn bao quát về chiều hướng mối tương quan giữa tỉ suất sinh lợi và độ biến động. Bên cạnh đó, kết quả này cũng được kỳ vọng cung cấp thêm tài liệu có nhiều ý nghĩa thiết thực cho các nhà nghiên cứu lý thuyết, các nhà làm chính sách và các nhà đầu tư trên thị trường.
Đối với nhà hoạch định chính sách, bài nghiên cứu có thể trở thành tài liệu tham khảo để kiểm chứng các điều kiện kinh doanh hiện tại, từ đó đưa ra các chiến lược kinh doanh hiệu quả. Đối với nhà đầu tư, sự hiểu biết về mối quan hệ giữa tỉ suất sinh lợi và độ biến động của chứng khoán giúp họ lựa chọn danh mục chứng khoán tối ưu và dự phòng các rủi ro. CHƯƠNG 2 TONG QUAN CAC NGHIEN CUU TRUOC DAY 2. KHUNG LÝ THUYET LIEN QUAN DEN Ti SUAT SINH LQI VA DO BIEN DONG.
Khái niệm về độ biến động tỉ suất sinh lợi và phương pháp đo lường. Theo cuốn sách “ETF Trading and Investing Strategies (Collection)” của các tac gia Tom Lydon, Leslie N. Masonson, Marvin Appel xuất ban năm 201 1, định nghĩa độ biến động tỉ suất sinh lợi (gọi tắt là độ biến động) là một thước đo sự phân tán tỉ suất sinh lợi chứng khoán hay các chỉ số thị trường. Độ biến động có thê được đo bằng độ lệch chuẩn hoặc phương sai của tỉ suất sinh lợi.
Thông thường, độ biến động càng cao, rủi ro của chứng khoán càng lớn. Khositkulporn (2013) cho rằng độ biến động là một phương pháp trong thống kê dùng đề đo lường xu hướng thay đổi của giá chứng khoán qua thời gian. Nếu giá chứng khoán càng dao động trong một khoảng lớn thì độ biến động càng cao và ngược lại. Độ biến động thường được xem như là một tín hiệu xấu vì nó đại diện cho sự không chắc chắn và rủi ro.
Tuy nhiên, trong trường hợp, nhà đầu tư mua chứng khoán ở giá đáy và bán được ở giá đỉnh thì độ biến động càng lớn càng tốt. Theo Brooks (2014), mô hình đơn giản nhất đo lường độ biến động là thực hiện ước lượng trên các dữ liệu lịch sử. Biến động lịch sử được tính toán đơn giản bằng phương sai (hoặc độ lệch chuẩn) của lợi nhuận trong một giai đoạn lịch sử, và sau đó dự báo biến động cho các giai đoạn trong tương lai. Biến động lịch sử là một mức chuẩn cho việc so sánh khả năng dự báo độ biến động của các mô hình thời gian phức tạp hơn.
Cũng theo Brooks (2014), tất cả các mô hình định giá các quyền chọn tài chính đòi hỏi một sự ước lượng hoặc dự báo về độ biến động như là một biến đầu vào. Với giá của một quyền chọn giao dịch thu được từ dữ liệu giao dịch, có thể dự báo độ biến động trong suốt vòng đời của quyền chọn được hàm ý bởi phương pháp định giá của quyền chọn. Ví dụ, nếu sử dụng mô hình Black-Scholes tiêu chuẩn với điều kiện giá quyền chọn, thời gian đáo hạn, tỉ lệ lãi suất phi rủi ro, giá thực hiện và giá trị hiện tại của tài sản cơ sở đều được xác định cụ thể trong các hợp đồng quyền chọn hoặc có sẵn từ dữ liệu thị trường. Do đó, với tất cả các dữ liệu cho trước này, có thể sử dụng phương pháp số học, để tính toán được độ biến động ngụ ý của quyền chọn.
Độ biến động ngụ ý là dự báo của thị trường về sự biến động tỉ suất sinh lợi của tài sản cơ sở trong suốt vòng đời của quyền chọn. Có một số phương pháp khác nhau đề đo lường độ biến động của tỉ suất sinh lợi chứng khoán từ các dữ liệu lịch sử. Theo tác giả Parkinson (1980): n 1 2 VOL,„ = ¬›3 es d=1 Dựa trên công thức này, Duffee (1995) đã tính độ biến động của tỉ suất sinh lợi chứng khoán như sau: Li va cong su (2011) thi su dụng công thức: 1 n VOLit = TÔ, Inữỷ,) d=1 Theo Chen và cộng sự (2013): if n-1 n VOLie = |=) (ria — MEAN)? d=1 Trong đó VOL;¿ là độ biến động tỉ suất sinh lợi của chứng khoán i, trong khoảng thời gian t; z¡„ là tỉ suất sinh lợi của chứng khoán i vào ngày thứ d; n là số ngày giao dịch của cô phiếu ¡ trong khoảng thời gian t.