Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại, quan hệ kinh doanh, thương mại (KDTM) giữa các cá nhân, tổ chức ngày càng mở rộng, phong phú và phát sinh nhiều mối quan hệ phức tạp. Đi cùng với sự gia tăng các giao dịch kinh tế là tần suất phát sinh các tranh chấp KDTM. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các thương nhân thường lựa chọn cơ quan Tòa án làm thiết chế tài phán chính thống, bởi phán quyết của Tòa án nhân danh quyền lực Nhà nước và được đảm bảo thực thi bằng các biện pháp cưỡng chế pháp lý chặt chẽ.

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 ra đời đã tạo cơ sở pháp lý cụ thể hơn trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân (TAND) cấp huyện theo loại việc, theo cấp và theo lãnh thổ. Tuy nhiên, quá trình áp dụng pháp luật tại các TAND cấp huyện trên thực tế vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập và lúng túng giữa các quy phạm tố tụng và pháp luật nội dung. Xuất phát từ quá trình thực tập và thực tiễn xét xử tại TAND quận Thanh Xuân (thành phố Hà Nội) – một địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh, tập trung nhiều doanh nghiệp và số lượng tranh chấp KDTM chiếm tỷ lệ lớn – đề tài khóa luận "Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Toà án nhân dân cấp huyện và thực tiễn tại Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội" đã được thực hiện.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ những vấn đề lý luận và quy định pháp luật hiện hành về thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM của TAND cấp huyện; nhận diện những hạn chế, vướng mắc trong các quy định và thực tiễn áp dụng; từ đó đề xuất các giải pháp lập pháp và thực thi nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND quận Thanh Xuân.

Để hoàn thành mục đích trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện trong việc giải quyết tranh chấp KDTM.
  2. Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KDTM của TAND cấp huyện.
  3. Khảo sát thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KDTM của TAND quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
  4. Nhận diện những hạn chế, nhược điểm trong quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại TAND quận Thanh Xuân, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thẩm quyền của TAND cấp huyện và thực tiễn thực hiện tại TAND quận Thanh Xuân, Hà Nội.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian và nội dung: Các vấn đề lý luận nền tảng (khái niệm, ý nghĩa, cơ sở xác định thẩm quyền); các quy định trong BLTTDS năm 2015 về thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM của TAND cấp huyện; thực tiễn xét xử tại TAND quận Thanh Xuân, Hà Nội.
    • Về thời gian: Khảo sát thực tiễn số liệu xét xử sơ thẩm giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết hướng dẫn và văn bản nghiệp vụ của hệ thống Tòa án tại Việt Nam, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (các điều khoản trọng tâm: Điều 30, Điều 35, Điều 36, Điều 39, Điều 40) và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004.
  • Luật Tổ chức TAND năm 2014 (đặc biệt là Điều 45 về cơ cấu tổ chức TAND cấp huyện).
  • Luật Thương mại năm 2005 (Điều 1, Điều 7).
  • Luật Doanh nghiệp năm 2014.
  • Nghị định số 78/2015/NĐ-CP và Nghị định số 01/2021/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.
  • Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
  • Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/09/2019 của TANDTC về giải đáp một số vướng mắc trong công tác xét xử.

Ngoài hệ thống văn bản quy phạm, tác giả kế thừa và tham khảo các công trình nghiên cứu chuyên ngành luật học như luận văn của Vũ Thị Vân Anh (2020), Đặng Huy Hoàng (2021), Bùi Thị Phương Đông (2022), cùng các bài viết nghiên cứu của Nguyễn Duy Phương (2015), Nguyễn Minh Quốc Việt (2023).

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng gồm:

  • Phương pháp luận: Dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Phương pháp cụ thể: Phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp lý luận, phương pháp so sánh pháp luật (đối chiếu BLTTDS 2004 với BLTTDS 2015; so sánh giữa pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung), và phương pháp thống kê tư pháp (tập hợp, phân loại số liệu thực tế các vụ án được thụ lý, giải quyết).
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu sơ kết, tổng kết công tác thụ lý và xét xử án KDTM do Bộ phận Thống kê của TAND quận Thanh Xuân cung cấp từ năm 2018 đến năm 2022, kết hợp với các hồ sơ vụ án điển hình phát sinh tại đơn vị.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Toà án nhân dân cấp huyện

Chương 1 làm sáng tỏ khái niệm: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM của TAND cấp huyện là quyền xem xét, giải quyết, xét xử một tranh chấp KDTM cụ thể và quyền hạn ban hành các phán quyết, quyết định khi xem xét giải quyết tranh chấp đó theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng dân sự. Việc phân định thẩm quyền mang 3 ý nghĩa cốt lõi: là cơ sở pháp lý để TAND cấp huyện thụ lý đúng thẩm quyền; là căn cứ bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự đến đúng cơ quan tài phán; và là công cụ giúp tiết kiệm chi phí, thời gian tố tụng cho cả người dân lẫn Tòa án.

Cơ sở quy định thẩm quyền được xây dựng từ:

  • Cơ sở lý luận: Phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy Tòa án theo đơn vị hành chính lãnh thổ (Việt Nam có 64 TAND cấp tỉnh và 705 TAND cấp huyện theo mô hình Luật Tổ chức TAND 2014) và đòi hỏi khách quan về việc giải quyết kịp thời, đúng đắn tranh chấp KDTM trong nền kinh tế hội nhập (WTO, APEC, IMF, APTA).
  • Cơ sở thực tiễn: Nhu cầu bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch, bảo vệ tài sản hợp pháp của thương nhân thông qua cơ quan tài phán công có hiệu lực cưỡng chế cao.

Về quy định pháp luật thực định:

  1. Thẩm quyền theo loại việc (khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015): BLTTDS 2015 bãi bỏ phương pháp liệt kê cứng nhắc của khoản 1 Điều 29 BLTTDS 2004, thay bằng quy định khái quát: Mọi tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Hai dấu hiệu pháp lý bắt buộc phải tồn tại song song gồm: "có đăng ký kinh doanh" và "có mục đích lợi nhuận" (theo tinh thần giải thích tại Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP).
  2. Thẩm quyền theo cấp (điểm b khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 36 BLTTDS 2015): TAND cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các tranh chấp KDTM quy định tại khoản 1 Điều 30 (mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đại diện, đại lý, ký gửi, vận chuyển, xây dựng...). Theo Điều 45 Luật Tổ chức TAND 2014, việc thành lập Tòa chuyên trách (Tòa Kinh tế) ở cấp huyện là không bắt buộc; nếu chưa lập Tòa chuyên trách, Chánh án phân công Thẩm phán Tòa Dân sự xét xử. Các tranh chấp KDTM phức tạp (quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tranh chấp giữa người chưa phải thành viên với công ty, tranh chấp nội bộ công ty) thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh.
  3. Thẩm quyền theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn (Điều 39 và Điều 40 BLTTDS 2015):
    • Về lãnh thổ: Ưu tiên TAND nơi bị đơn cư trú, làm việc (cá nhân) hoặc nơi có trụ sở (tổ chức); cho phép các bên thỏa thuận bằng văn bản chọn TAND nơi cư trú/trụ sở của nguyên đơn; đối với tranh chấp có đối tượng là bất động sản, BLTTDS 2015 bổ sung từ "chỉ", khẳng định thẩm quyền duy nhất thuộc về TAND nơi có bất động sản.
    • Về sự lựa chọn của nguyên đơn: Nguyên đơn được quyền nộp đơn tại TAND nơi cư trú/trụ sở cuối cùng của bị đơn hoặc nơi có tài sản của bị đơn (nếu không rõ nơi cư trú/trụ sở); nơi thực hiện hợp đồng; nơi đặt chi nhánh (nếu tranh chấp từ chi nhánh); hoặc nơi có một trong các bất động sản (nếu bất động sản ở nhiều địa phương).

Chương 2: Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội và kiến nghị

TAND quận Thanh Xuân là một trong 30 TAND cấp quận, huyện trực thuộc TAND thành phố Hà Nội, được thành lập từ tháng 01/1997. Trung bình mỗi năm đơn vị thụ lý và giải quyết trên 1.300 vụ án các loại, trong đó án KDTM dao động khoảng 100 vụ/năm, chủ yếu là tranh chấp hợp đồng kinh tế và hợp đồng tín dụng.

Bảng thống kê số lượng vụ án KDTM tại TAND quận Thanh Xuân giai đoạn 2018 - 2022:

Năm Thụ lý (cũ + mới) (Vụ) Giải quyết (Vụ) Chuyển hồ sơ (Vụ)
2018 128 72 01
2019 106 66 00
2020 147 91 01
2021 163 97 02
2022 187 125 02

Đánh giá kết quả thực tiễn:

  • Ưu điểm: 100% các đơn khởi kiện thụ lý đều tuân thủ đúng thẩm quyền theo loại việc và theo cấp. Đối với thẩm quyền theo lãnh thổ, dù mỗi năm xử lý từ 200 - 250 đơn khởi kiện KDTM, TAND quận Thanh Xuân đã kiểm soát tốt hồ sơ; các trường hợp thụ lý chưa đúng lãnh thổ đều được phát hiện sớm để ra quyết định chuyển hồ sơ sang Tòa án có thẩm quyền và xóa tên trong sổ thụ lý, không để phát sinh tình trạng bản án bị cấp phúc thẩm hủy do sai thẩm quyền.
  • Nhược điểm và vướng mắc thực tiễn:
    1. Khó khăn trong việc xác định chủ thể: Khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 yêu cầu các bên phải "có đăng ký kinh doanh", vô hình trung loại trừ các chủ thể kinh doanh hợp pháp nhưng không thuộc diện phải đăng ký kinh doanh theo Nghị định 01/2021/NĐ-CP (hộ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, người làm muối, người bán hàng rong, kinh doanh lưu động...). Khóa luận dẫn chứng vụ án Công ty TNHH K kiện ông Nguyễn Minh T (cá nhân có xe tải 5 tấn, không đăng ký kinh doanh) đòi bồi thường 95,2 triệu đồng do làm rơi hỏng 7/35 máy điều hòa khi vận chuyển. Các Thẩm phán có quan điểm trái chiều: một bên coi là tranh chấp KDTM vì bản chất hợp đồng có mục đích lợi nhuận, bên khác lại khẳng định là tranh chấp hợp đồng vận chuyển dân sự do ông T không đăng ký kinh doanh.
    2. Khó khăn khi xác định mục đích lợi nhuận: Thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết mới ngoài Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP. Tòa án khó xác định bản chất khi một doanh nghiệp ký hợp đồng phục vụ phúc lợi nội bộ (như hợp đồng cung cấp suất ăn trưa cho nhân viên giữa Công ty A và Công ty B) hoặc xung đột với khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại 2005.
    3. Đương sự cung cấp thông tin sai lệch hoặc thỏa thuận thẩm quyền vô hiệu: Nhiều hợp đồng thỏa thuận chọn TAND cấp tỉnh xử lý tranh chấp mua bán hàng hóa thông thường (vô hiệu do trái thẩm quyền theo cấp); hoặc bị đơn thay đổi địa chỉ trụ sở mà nguyên đơn không nắm được. Ví dụ: Vụ án Ngân hàng TMCP D kiện Công ty CP Tập đoàn đầu tư và thương mại L tranh chấp hợp đồng tín dụng, khi Tòa án xác minh tại Phòng Đăng ký kinh doanh thì bị đơn đã đổi trụ sở sang quận Bắc Từ Liêm, buộc Ngân hàng phải rút đơn để nộp lại tại TAND quận Bắc Từ Liêm.
    4. Bản án bị hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán: Giai đoạn 2018 - 2022 vẫn còn một số bản án KDTM bị cấp phúc thẩm tuyên hủy do Thẩm phán vi phạm thủ tục tống đạt tố tụng hoặc đánh giá chứng cứ chưa đảm bảo độ tin cậy.

Nguyên nhân: Mâu thuẫn giữa quy định tố tụng (BLTTDS) và pháp luật nội dung (Luật Thương mại, Bộ luật Dân sự); tồn tại 3 luồng quan điểm khác nhau về việc giải thích khái niệm "có đăng ký kinh doanh"; văn bản hướng dẫn thi hành chậm ban hành; nhận thức pháp luật của người dân chưa cao; áp lực khối lượng công việc lớn khi toàn TAND quận Thanh Xuân chỉ có 15 Thẩm phán (trong đó 3 Thẩm phán lãnh đạo), 8 Thư ký (tỷ lệ 1 Thư ký phục vụ 2 - 3 Thẩm phán), cơ sở vật chất xây dựng từ cuối thập niên 90 đã xuống cấp.

Kiến nghị giải pháp:

  1. Hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Ban hành nghị quyết hướng dẫn thống nhất khái niệm "có đăng ký kinh doanh" tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 theo hướng mở rộng: không bắt buộc tất cả các bên phải có đăng ký kinh doanh mà căn cứ vào bản chất thương mại và mục đích sinh lời của giao dịch.
    • Hướng dẫn cụ thể hoặc bãi bỏ tiêu chí "có mục đích lợi nhuận" tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 vì chủ thể khi đăng ký kinh doanh đã hàm chứa mục đích sinh lời, tránh quy định mang tính hình thức.
    • Sửa đổi, mở rộng Điều 40 BLTTDS 2015 về quyền tự do lựa chọn Tòa án: Cho phép các bên khi có sự thỏa thuận thống nhất được quyền lựa chọn bất kỳ TAND cấp huyện sơ thẩm nào để giải quyết (tương tự như nguyên tắc thỏa thuận trọng tài thương mại), không bị giới hạn cứng nhắc bởi địa giới hành chính.
  2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Tăng cường đào tạo, tập huấn kiến thức kinh tế và nghiệp vụ xét xử KDTM cho Thẩm phán, Thư ký; bổ sung biên chế Thư ký Tòa án; cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất và nâng cao chế độ đãi ngộ, phụ cấp cho cán bộ tư pháp.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu: Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các quy định về thẩm quyền sơ thẩm giải quyết tranh chấp KDTM của TAND cấp huyện theo BLTTDS 2015; cung cấp số liệu thực tế giai đoạn 2018 - 2022 của TAND quận Thanh Xuân với tổng số 731 vụ án KDTM thụ lý và 451 vụ án được giải quyết.
  • Giải pháp đề xuất: Đưa ra 3 nhóm kiến nghị hoàn thiện kỹ thuật lập pháp đối với Điều 30 và Điều 40 BLTTDS 2015, đồng thời chỉ ra các giải pháp cụ thể về tổ chức cán bộ, tập huấn chuyên môn nhằm khắc phục tình trạng quá tải và hạn chế nghiệp vụ tại TAND cấp cơ sở.
  • Đóng góp khoa học: Khóa luận phân tích sâu sắc sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật thương mại nội dung đối với việc xác định tư cách chủ thể và mục đích lợi nhuận; làm rõ thực trạng giải quyết án KDTM tại một Tòa án cấp quận có tốc độ đô thị hóa cao tại Thủ đô Hà Nội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu giới hạn phạm vi khảo sát số liệu thực tiễn tại một đơn vị duy nhất là TAND quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội trong mốc thời gian 2018 - 2022; nội dung chỉ tập trung vào thẩm quyền xét xử sơ thẩm các tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền TAND cấp huyện theo quy định của BLTTDS năm 2015.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh thực tiễn áp dụng thẩm quyền xét xử KDTM tại nhiều TAND cấp huyện thuộc các vùng kinh tế, địa phương khác nhau; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế phân định thẩm quyền đối với các loại tranh chấp KDTM đặc thù (như tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, phá sản doanh nghiệp hoặc tranh chấp nội bộ công ty).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự, Luật Kinh tế; cán bộ nghiên cứu pháp luật; Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và chuyên viên pháp chế tại các doanh nghiệp.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Hệ thống 3 luồng quan điểm pháp lý trong việc xác định tiêu chí "có đăng ký kinh doanh" tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015.
    • Các vụ án thực tế phát sinh vướng mắc về thẩm quyền thụ lý tại TAND quận Thanh Xuân (vụ kiện tranh chấp hợp đồng vận chuyển, tranh chấp chuyển nhượng phụ kiện viễn thông, tranh chấp tín dụng ngân hàng).
    • Đề xuất mở rộng quyền tự do lựa chọn Tòa án của đương sự theo Điều 40 BLTTDS 2015.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nêu ra mấy dấu hiệu bắt buộc để một tranh chấp được xác định là tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện theo Điều 30 BLTTDS 2015? Theo khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015, vụ việc phải thỏa mãn đồng thời 2 dấu hiệu: (1) Tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại và có mục đích lợi nhuận; (2) Tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể là cá nhân, tổ chức đều có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.

2. Số lượng vụ án KDTM được thụ lý và giải quyết tại TAND quận Thanh Xuân giai đoạn 2018 - 2022 biến động như thế nào? Số lượng thụ lý tăng dần qua các năm: từ 128 vụ (năm 2018), 106 vụ (năm 2019), 147 vụ (năm 2020), 163 vụ (năm 2021) đến 187 vụ (năm 2022). Tương ứng, số vụ giải quyết tăng từ 72 vụ (2018) lên 125 vụ (2022), với tổng số thụ lý 5 năm là 731 vụ và giải quyết 451 vụ.

3. Vụ án Công ty TNHH K kiện ông Nguyễn Minh T về hợp đồng vận chuyển phản ánh vướng mắc pháp lý gì? Vụ án phản ánh xung đột trong xác định tư cách chủ thể: Ông Nguyễn Minh T là cá nhân sở hữu xe tải vận chuyển hàng hóa có tính cước nhưng không đăng ký kinh doanh. Thẩm phán giải quyết coi đây là tranh chấp KDTM vì có mục đích sinh lời, trong khi quan điểm khác cho rằng đây là tranh chấp hợp đồng dân sự do ông T không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo đúng câu chữ tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015.

4. Khóa luận chỉ ra thực trạng tổ chức và biên chế tại TAND quận Thanh Xuân như thế nào? Đơn vị có 15 Thẩm phán (trong đó có 3 Thẩm phán lãnh đạo) và 8 Thư ký Tòa án. Tỷ lệ biên chế này dẫn đến tình trạng quá tải khi một Thư ký phải giúp việc cho 2 đến 3 Thẩm phán, kết hợp với cơ sở vật chất xây dựng từ cuối thập niên 90 chưa đáp ứng tốt nhu cầu làm việc.

5. Tác giả đề xuất định hướng sửa đổi quyền lựa chọn Tòa án của đương sự theo Điều 40 BLTTDS 2015 như thế nào? Tác giả đề xuất không nên ràng buộc cứng nhắc đương sự theo địa giới hành chính nếu hai bên đã đạt được thỏa thuận bằng văn bản; nên cho phép các bên tự do lựa chọn bất kỳ TAND cấp huyện sơ thẩm nào thuận tiện nhất để nộp đơn khởi kiện, tương tự như cơ chế thỏa thuận lựa chọn tổ chức Trọng tài thương mại.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Lê Ngọc Khánh đã phân tích có hệ thống các quy định của BLTTDS năm 2015 về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của TAND cấp huyện, đồng thời phản ánh khách quan bức tranh thực tiễn áp dụng tại TAND quận Thanh Xuân trong giai đoạn 2018 - 2022. Công trình đã nhận diện rõ nét những xung đột giữa luật hình thức và luật nội dung xung quanh tiêu chí chủ thể và mục đích lợi nhuận, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao chất lượng tư pháp cấp cơ sở. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với công tác nghiên cứu, đào tạo cũng như hoạt động xét xử trong lĩnh vực tố tụng dân sự.