Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về ý thức pháp luật của doanh nhân. Chương II: Thực trạng và một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao ý thức pháp luật của doanh nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 5 CHUONG I MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE Ý THỨC PHÁP LUAT CUA DOANH NHAN VIET NAM 1. Khai niém doanh nhan va khai niém, dac diém ý thức pháp luật của doanh nhân Việt Nam 1.
Khái niệm doanh nhân Việt Nam Trước tiên, chúng ta xem xét khái niệm “doanh nhân” theo cách giải thích của các từ điển. Từ điển Từ và ngữ Hán - Việt xuất bản tại nhà xuất bản Văn học, Hà Nội (2003) của GS. Nguyễn Lân chú giải từ “doanh” theo theo ba nghĩa (1) doanh là lo toan làm ăn; (2) là đầy đủ va (3) là biển lớn. Hiểu theo nghĩa (1), thì doanh nhân có nghĩa rất rộng, gồm tất cả những người làm việc trong lĩnh vực kinh tế, trước hết là nhóm những người làm công việc quản lý kinh tế, bao gồm những người làm công việc quản lý nhà nước về kinh tế và những người hoạt động trong các doanh nghiệp, cả doanh nghiệp công ích không có mục tiêu vị lợi lẫn doanh nghiệp kinh doanh vi lợi.
Quan niệm như trên là quá rộng, không phân biệt được doanh nhân với những dạng người khác cùng trong lĩnh vực hoạt động kinh tế. Trần Ngoc Thêm trong bài Báo cáo “Văn hóa doanh nhân và văn hóa doanh nhân Việt Nam” tại Hội thảo Văn hóa doanh nhân Việt Nam tổ chức ở TP Hồ Chí Minh (2006) đã chú giải kinh doanh theo nghĩa den là “quản lý kinh tế” còn doanh nhân là “người quản lý (việc làm ăn)”, “là người làm kinh doanh”. Cuốn Bài giảng Văn hóa kinh doanh do Đại học kinh tế quốc dân xuất bản năm 2006 do Dương Thị Liễu (chủ biên) đã chọn cách giải thích từ Hán - Việt “doanh” là lãi, “nhân” là người; “doanh nhân” là người làm kinh doanh đê kiêm lời. Vậy doanh nhân là khái niệm rộng chỉ nhiều loại đối tượng người theo lĩnh vực hoạt động (sản xuất, dịch vụ, thương mại, .) và quy mô khác nhau (cá thé, hộ gia đình, doanh nghiệp,.
Hiện nay, trên thé giới cũng như nước ta, nói đến doanh nhân là người ta nghĩ ngay tới nhóm đối tượng tiêu biểu nhất của nó là 6 những người sáng lập và lãnh đạo các doanh nghiệp, nhất là các tập đoàn, công ty lớn. Hiểu như vậy đúng nhưng chưa đủ. Ngoài ra, khái niệm doanh nhân còn được định nghĩa dựa trên đặc diém nghề nghiệp và tính cách của họ, chăng hạn: - Ong Vii Tién Lộc, Chu tịch Phòng Thuong mại và công nghiệp Việt Nam định nghĩa: “Doanh nhân là nhà đầu tư, là nhà quản lý, là người chèo lái con thuyền doanh nghiệp mà điểm khác biệt của doanh nhân với những người khác là ở chỗ họ là người dám chấp nhận mạo hiểm, rủi ro khi dẫn thân vào con đường kinh doanh”. - Nhà nghiên cứu Vũ Quốc Tuấn, trong bài “Doanh nhân — một góc nhìn? » trên báo Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần, ngày 13/10/2007, viết “Nói một cách chặt chẽ, doanh nhân là những người chủ doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh doanh nghiệp của mình, những người được cử hoặc được thuê để quản lý doanh nghiệp, thực hiện nhiệm vụ kinh doanh; trách nhiệm và lợi ích của họ gắn liền với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, mà yêu cầu đầu tiên của họ là phải có đủ điều kiện để sáng tạo, không ngừng phát triển doanh nghiệp”.
- Sách Bài giảng Văn hóa kinh doanh của Đại học kinh tế quốc dân viết: “Doanh nhân là người làm kinh doanh, là chủ thể lãnh đạo, chịu trách nhiệm trước xã hội và pháp luật. Doanh nhân có thể là chủ một doanh nghiệp, là người sở hữu và điều hành, Chủ tịch công ty, Giám đốc công ty hoặc cả hai”. Các cách định nghĩa như trên cho chúng ta thấy một quan điểm toàn điện hơn về doanh nhân nhưng thường bị dài vì phải liệt kê một số đặc điểm và đối tượng khác nhau. Mặt khác, ba định nghĩa trên đều bỏ qua một nhóm đối tượng gồm hàng triệu người hiện đang theo đuổi nghề nghiệp kinh doanh cá thé (doanh nhân cá nhân) và những hộ kinh doanh không lập doanh nghiệp; mà chính sự đóng góp của họ với tư cách là các chủ thé kinh doanh đông đảo nhất đã tạo nên nét đặc sắc của văn hóa doanh nhân và văn hóa kinh doanh Việt Nam.
7 Dựa vào những định nghĩa trên đây và căn cứ vào thực tiễn xã hội nước ta hiện nay có thê suy ra có ba tiêu chí cơ bản đê xác định họ có phải là doanh nhân bao gôm: Thứ nhất, hoạt động, hành vi cua họ có một mục tiêu chính là kiếm lợi nhuận, làm giàu, là ban sản pham, dịch vụ ra thị trường; Thứ hai, họ có điểu kiện hành nghề và đặc điểm tâm lý phù hợp (về thời gian, vốn, tư liệu sản xuất, quan điểm, kiến thức và kỹ năng. hay nói cách khác, là đạt chuẩn nhất định về nhân cách doanh nhán) với hoạt động kinh doanh và đó là công việc chính của họ; Thứ ba, nguôn thu nhập chính của họ từ hoạt động nay [1]. Tóm lại qua các quan điểm trên có thể hiểu một cách ngắn gọn, doanh nhân là những người có điều kiện hành nghề phù hợp với hoạt động kinh doanh thường xuyên, có mục tiêu kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận và đó là công việc tạo ra nguồn thu nhập chính cho họ. Cần phân biệt khái niệm doanh nhân và khái niệm thương nhân.
Theo các phân tích ở trên thì có thể thấy khái niệm doanh nhân rộng hơn khái niệm thương nhân. Theo Điều 6 Luật thương mại năm 2005, “7Thương nhân bao gồm tô chức kinh tế được thành lập hợp pháp, ca nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh ”. Theo định nghĩa Thương nhân ở trên thì thương nhân chính là các doanh nhân hoạt động trong lĩnh vực thương mại (mua bán, lưu thông, phân phối, " Xét về mặt lịch sử thì thương nhân thường là bộ phận xuất hiện sớm nhất trong giới doanh nhân. Ngoài thương nhân, những người làm sản xuất, và các loại hình dịch vụ khác (đầu tư, tư vấn, du lịch.) có mục đích kinh doanh đều là doanh nhân.
Vậy ở nước ta hiện nay, doanh nhân là một cộng đồng xã hội chứ không phải là giai cấp hay tầng lớp xã hội.I Lê nin đã đưa ra một định nghĩa chuẩn về giai cấp là những tap đoàn người khác nhau về (1) địa vị của họ trong một hệ thống xã hội nhất định, (2) khác nhau về quan hệ của họ đối với tư liệu sản xuất, (3) khác nhau về vai trò của họ trong những tô chức lao động xã hội, và (4) khác nhau về cách thức hưởng thu và phan của cải xã hội mà họ được hưởng. Từ quan điểm này, chúng ta có thé phân tích tính chất xã hội của doanh nhân nước ta hiện nay. Trước tiên, doanh nhân Việt Nam là một cộng đồng gồm nhiều triệu cá nhân được hình thành chủ yếu trong thời kỳ đổi mới, gồm nhiều nhóm, nhiều bộ phận thuộc về các giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội nước ta. Doanh nhân hiện nay có lịch sử thành phần xuất thân, trưởng thành và bản thân họ đang hoạt động trong nhiều giai tang xã hội khác nhau: nông dan, công nhân, sinh viên, trí thức, cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang, người kinh doanh cá thể, tiểu thương, tiêu chủ, chủ doanh nghiệp vừa và lớn.
Thứ hai là về địa vị, vai trò của doanh nhân trong xã hội và trong hệ thống sản xuất: doanh nhân là một bộ phận nhân dân hay một lực lượng xã hội, có vai trò là những chiến sỹ tiên phong trong mặt trận kinh tế, là lực lượng quan trọng, nòng côt đê thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”. về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất: doanh nhân không chỉ gồm bộ phận các ông bà chủ có quyền sở hữu các tư liệu sản xuất của doanh nghiệp - thành phần cốt lõi và tiêu biểu nhất của khái niệm doanh nhân, được gọi là các nhà kinh doanh hay nhà doanh nghiệp — mà còn bao gồm cả những cán bộ, công nhân viên tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó, những người này có thể không có quyền hoặc có một phần quyền sở hữu doanh nghiệp tủy thuộc vào tỷ lệ cô phan của doanh nghiệp mà ho nắm giữ với tư cách là cổ đông của công ty. Thứ tư, về quy mô thu nhập và cách thức sử dụng của cải thu được, thì doanh nhân có một điểm chung là thường dành phần lớn tài sản họ có được nhờ kinh doanh dé tái đầu tư nhằm không ngừng mở rộng quy mô kinh doanh. Khái niệm và đặc điểm ý thức pháp luật của doanh nhân Việt Nam 1.
Khai niệm ý thức pháp luật của doanh nhân Ý thức pháp luật là một hình thái quan trọng của ý thức xã hội, nó ra đời, tồn tại và phát triển từ nhu cầu khách quan của đời sống xã hội. Từ nhu cầu khách quan đó của đời sống xã hội con người phản ánh tôn tại xã hội và hình thành ở họ những tư tưởng, quan điểm, quan niệm về sự cần thiết phải điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật. Vì vậy, ý thức pháp luật xã hội tại mỗi giai đoạn nhất định không chỉ bao gồm các tư tưởng, quan điểm, quan niệm pháp luật thịnh hành, phổ biến trong xã hội mà còn bao gồm các tư tưởng, quan điểm, quan niệm pháp luật của các thời đại trước còn lưu giữ lại và những tư tưởng, quan điểm, quan niệm pháp luật manh nha là mầm mống cho hệ ý thức pháp luật trong tương lai. Trong ý thức pháp luật thường tồn tại cả những quan tư tưởng, quan điểm, quan niệm pháp luật đúng đắn, phù hợp với điều kiện của xã hội hiện tại, có ảnh hưởng tích cực đến lợi ích và sự phát triển xã hội, nhưng cũng có thể có cả những tư tưởng, quan điểm, quan niệm pháp luật sai lầm, không phù hợp làm ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển xã hội.
Ý thức pháp luật xã hội xuất phát từ ý thức pháp luật của cá nhân, nhưng do ảnh hưởng của nhiều yếu tố mà các cá nhân có ý thức pháp luật không giống nhau. Dé ý thức pháp luật của cá nhân trở thành ý thức pháp luật của cả xã hội nó phải được bổ sung, nâng lên thành những tư tưởng, quan điểm pháp luật mang tính phổ biến, thịnh hành trong xã hội dưới dạng các học thuyết, tổng kết lý luận pháp luật.