Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng theo mẫu, kiểm soát hợp đồng theo mẫu và pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng. Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện. Chương 3: Yêu cầu, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng tại Việt Nam. 8 PHẦN TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Khái quát chung về tình hình nghiên cứu đề tài 1. Các công trình nghiên cứu về hợp đồng theo mẫu Hợp đồng theo mẫu thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả phương Tây từ khá sớm, đặc biệt là các nghiên cứu về sự ra đời, phát triển và vai trò của hợp đồng theo mẫu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống tiêu dùng của người dân. Một trong những bài viết xuất hiện sớm nhất bàn về các điều khoản mẫu trong hợp đồng tiêu dùng là bài viết của Friedrich Kessler với tiêu đề “Hợp đồng gia nhập - Một vài suy nghĩ về vấn đề tự do hợp đồng” năm 1943. 1 Trong bài viết, tác giả phân tích nguyên nhân kinh tế của việc xuất hiện các hợp đồng đại trà theo mẫu (the standardized mass contract; the standardized contract); vai trò của việc hình thành các điều khoản theo mẫu; nguyên nhân của việc bên yếu thế thường không có khả năng giao kết hợp đồng với các điều khoản tốt hơn.
Đồng thời, tác giả cũng phân tích sự bất cập, lúng túng của các toà án tại hệ thống án lệ trong việc giải thích hợp đồng gia nhập với nguyên tắc tự do hợp đồng. Tiếp sau bài viết của Friedrich Kessler, chức năng của hợp đồng theo mẫu được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu khác, như: bài viết “Hợp đồng gia nhập: Bài luận về tái cấu trúc” của T Rakoff năm 1983; 2 bài viết “Hợp đồng theo mẫu” của Avery W. Katz năm 1998; 3 bài viết "Hợp đồng theo mẫu trong thời đại điện tử toàn cầu: Các lựa chọn thay thế của châu Âu" của James R. Maxeiner năm 2003; 4 bài viết “Xem xét lại chính sách bảo vệ người tiêu dùng” của MJ Trebilcock năm 2003; 5 cuốn sách “Công bằng trong Hợp đồng Tiêu dùng: Các vụ việc về Điều khoản không công bằng” của Chris Willet năm 2007; 6 “Một đề nghị bạn không thể thương lượng: Một số suy nghĩ về tính kinh tế của hợp đồng tiêu dùng theo mẫu” của Aristides N.
Hatzis năm 2008; 7 “Hợp đồng theo mẫu” của Clayton P. Gillette năm 1 Friedrich Kessler (1943), Contract of Adhesion- Some Thought about Freedom of Contract, Columbia University Review, Vol 43, p. 2 T Rakoff (1983), Contracts of Adhesion: An Essay in Reconstruction, 96 Harvard L Rev, p. Katz, “Standard Form Contracts” in Peter Newman (e.d), The New Palgrave Dictionary of Economics and the Law vol.
Maxeiner (2003), “Standard-Terms Contracting in the Global Electronic Age: European Alternatives” 28(1) Yale Journal of International Law. 5 MJ Trebilcock (2003), “Rethinking Consumer Protection Policy” in Rickett and Telfer International Perspectives on Consumers’ Access to Justice, Cambridge: Cambridge University Press. 6 Chris Willett (2007), Fairness in Consumer Contracts: The case of Unfair Terms (Markets and the Law), Ashgate Publishing Limited. Hatzis, “An Offer You Cannot Negotiate: Some Thoughts on the Economics of Standard Form Consumer Contracts” in Hugh Collins (ed.), Standard Contract Terms in Europe: A Basis for and a Challenge to European Contract Law, Wolters Kluwer Law 2008.
9 2009; 8 bài viết “Cần phân biệt nghiêm ngặt hai hình thức kiểm soát công bằng” của Phillip Hellwege năm 2015 9… Tại những bài viết trên, các tác giả thường lập luận lợi ích của hợp đồng theo mẫu dưới góc độ tiêu chuẩn hoá hợp đồng có thể làm giảm chi phí giao dịch. 10 Việc áp dụng các điều khoản theo mẫu cho vô số giao dịch có thể dẫn đến giảm chi phí kí kết hợp đồng, bao gồm không chỉ chi phí đàm phán mà còn cả chi phí soạn thảo hợp đồng. 11 Đặc biệt, việc giảm các chi phí này mang lại lợi ích không chỉ cho những người soạn thảo mà còn cho cả đối tác vì về lí thuyết, nó có thể cho phép các nhà soạn thảo đưa ra giá thấp hơn. 12 Bên cạnh đó, hợp đồng theo mẫu là phương tiện cần thiết để các doanh nghiệp kiểm soát đại lí trong các giao dịch mang tính đại trà.
13 Các hợp đồng theo mẫu được áp dụng để giảm chi phí đại lí bằng cách không cho phép các đại lí được phép đồng ý với bất kì sửa đổi nào đối với các điều khoản hợp đồng ban đầu. Hơn nữa, hợp đồng theo mẫu còn là phương tiện để các nhà cung cấp củng cố thêm tính pháp lí của giao dịch bên cạnh các quy định pháp luật, từ đó xác lập chiến lược quản lí rủi ro cho họ. 14 Chẳng hạn trong các nghiên cứu này, bàn về vai trò của hợp đồng theo mẫu trong giao dịch với người tiêu dùng dưới góc độ quản trị doanh nghiệp, có bài viết của tác giả T Rakoff với tiêu đề “Hợp đồng gia nhập: Bài luận về tái cấu trúc” năm 1983. Tác giả nhận định các tài liệu mẫu sẽ thúc đẩy tính hiệu quả trong hoạt động của các tổ chức có cấu trúc phức tạp, đồng thời giúp củng cố cấu trúc quyền lực nội bộ trong các tổ chức này và giúp đưa ra quyết định giải quyết khiếu nại khác nhau giữa các người tiêu dùng.
Nhìn nhận theo góc độ kinh tế, có bài viết của tác giả MJ Trebilcock “Xem xét lại chính sách bảo vệ người tiêu dùng” năm 2003. 15 Bài viết đưa ra lập luận dưới góc độ kinh tế về người tiêu dùng cận biên (am hiểu các điều khoản về quyền lợi được nêu trong hợp đồng theo mẫu) và người tiêu dùng ngoại biên (ít thông tin hơn, ít hung hăng hơn hay mua sắm từ xa) và chỉ ra các nguy cơ quy luật “tỷ lệ những người tiêu dùng cận biên có thể dễ dàng điều chỉnh toàn bộ thị trường còn lại và chi phối nhóm người tiêu dùng ngoại biên trong việc tiếp cận và đàm phán các điều khoản hợp đồng 8 Clayton P. Gillette (2009), “Standard Form Contracts”, NYU Law and Economics Research Paper No. 9 Phillip Hellwege (2015), “It is Necessary to Strictly Distinguish Two Forms of Fairness Control” 4(4) Journal of European Consumer and Market Law.
Gillette, tlđd; Avery W. 12 Chris Willett, tlđd; Friedrich Kessler, tlđd. 14 Phillip Hellwege, tlđd; James R. 15 MJ Trebilcock (2003), “Rethinking Consumer Protection Policy” in Rickett and Telfer International Perspectives on Consumers’ Access to Justice, Cambridge: Cambridge University Press.
10 theo mẫu với doanh nghiệp” bị phá bỏ, dẫn tới nhóm người tiêu dùng ngoại biên sẽ dễ có khả năng bị vi phạm quyền lợi do chính sự thiếu hiểu biết thông tin về các điều khoản trong hợp đồng giao kết của mình. Bên cạnh các công trình nghiên cứu đối với hợp đồng bản giấy mang tính truyền thống, trước sự phát triển của xu hướng giao kết hợp đồng qua Internet, nhiều nhà nghiên cứu đã đặt ra vấn đề liệu có sự khác nhau về bản chất, mức độ cần thiết phải can thiệp bằng pháp luật giữa loại hình giao kết hợp đồng theo mẫu dạng giấy và dạng điện tử hay không, qua đó kịp thời đưa ra các đánh giá, đề xuất nhằm đáp ứng sự thay đổi của thời đại. Có thể kể đến một số các công trình như: - Bài viết “Hợp đồng theo mẫu trong kỷ nguyên điện tử” năm 2002 của tác giả Robert A. Hillman và Jeffrey J.
Trong bài viết này, các tác giả Robert Hillman và Jeffrey Rachlinski đề cập đến việc liệu các rủi ro gây ra cho người tiêu dùng bởi các thông tin soạn sẵn trên Internet có yêu cầu một lăng kính mới mà qua đó các tòa án nên xem xét các loại hợp đồng này hay không. Trong quá trình phân tích về các hợp đồng soạn sẵn trên giấy và trên Internet, các tác giả xem xét các yếu tố xã hội, yếu tố về nhận thức và tính hợp lý có ảnh hưởng đến sự hiểu biết của người tiêu dùng về các mẫu soạn sẵn trong mối quan hệ so sánh với các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. - Bài báo “Học thuyết hợp đồng điện tử 2.0: Hợp đồng theo mẫu trong kỷ nguyên mua sắm trực tuyến” năm 2008 của tác giả Shmuel I. Becher và Tal Z.
Công trình nghiên cứu này tập hợp các phân tích về hợp đồng tiêu dùng trực tuyến có tính đến dòng chảy mới của thông tin. Trong đó, (i) cung cấp nền tảng cần thiết cho các hợp đồng tiêu dùng theo mẫu với sự đóng góp lớn của các học thuyết về “luật và kinh tế học” (“law and economics”) và “luật và kinh tế học hành vi” (“behavioral law and economics”); (ii) mở rộng khái niệm về luồng thông tin từ người tiêu dùng đã ký kết hợp đồng đến người tiêu dùng chưa giao kết; (iii) xem xét luồng thông tin những giai đoạn này trong bối cảnh và sự tác động cụ thể của Internet; (iv) xem xét lại việc phân tích các tác động khác nhau của hợp đồng theo mẫu tiêu dùng, tập trung vào thiết lập trực tuyến và sự tác động của các xu hướng trực tuyến và (v) các khuyến nghị về chính sách cho phù hợp với tình hình mới. Bên cạnh rất nhiều các công trình nghiên cứu cổ điển mang đầy tính lý luận, bước sang những năm 2000 bắt đầu xuất hiện xu hướng nghiên cứu mới - các nghiên 16 Robert A. Rachlinski (2002), Standard-Form Contracting in the Electronic Age, New York University Law Review, Vol.
Zarsky (2008), E-Contract Doctrine 2.0: Standard Form Contracting in the Age of Online User Participation, Michigan Telecommunications and Technology Law Review [Vol. 11 cứu mang tính thực nghiệm. Những nghiên cứu này được thực hiện nhằm thu hẹp dần khoảng cách giữa các vấn đề lý thuyết dựa vào trực giác và niềm tin với các dữ liệu thực tế. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau: - Bài viết “Cạnh tranh và Chất lượng của Hợp đồng theo mẫu: Nghiên cứu thực nghiệm về Hợp đồng bản quyền phần mềm” năm 2005 của tác giả Florencia Marotta-Wurgler, là một bài báo nằm trong chuỗi nghiên cứu về Luật và Kinh tế của trường Đại học New York 18.
Các tác giả cho biết mặc dù các hình thức theo mẫu đã phổ biến, tuy nhiên vẫn còn ít nghiên cứu thực nghiệm về nội dung và các yếu tố quyết định hình thức này. Do đó, các tác giả đã thực hiện một phân tích toàn diện về 647 hợp đồng bản quyền phần mềm, đặc biệt chú ý đến vai trò của các lực lượng cạnh tranh trong việc định hình các điều khoản theo mẫu.