Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật của Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân dưới góc độ so sánh" được nghiên cứu sinh Khamkeng Lorbriayao thực hiện tại Hà Nội năm 2023, thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế (Mã số: 9380107), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Vũ Thị Hồng Vân và TS. Nguyễn Thị Yến.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) được mở rộng ở cả ba cấp độ: quốc gia, khu vực và quốc tế. Mặc dù hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ này đã từng bước hình thành nhằm cân bằng vị thế giữa người tiêu dùng (NTD) và thương nhân, song các tranh chấp về quyền và lợi ích giữa hai chủ thể này vẫn liên tục gia tăng về quy mô, mức độ phức tạp cũng như tính chất xuyên biên giới.

Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các đạo luật chuyên ngành đầu tiên về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đều được ban hành vào năm 2010 (Luật Bảo vệ NTD năm 2010 của Lào và Luật BVQLNTD năm 2010 của Việt Nam). Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ thi hành, thực tiễn giải quyết tranh chấp (GQTC) tại Lào bộc lộ nhiều hạn chế do hoạt động xây dựng pháp luật còn cứng nhắc, chưa tính hết các đặc thù của môi trường pháp lý nội địa. Thống kê từ Báo cáo thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Lào (2021) chỉ ra rằng trong giai đoạn 2017 – 2020, số lượng tranh chấp giữa NTD và thương nhân tại Lào đã tăng 25% so với giai đoạn 2013 – 2016. Xuất phát từ sự tương đồng về bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội nhưng có sự khác biệt về trình độ phát triển kỹ thuật lập pháp giữa hai quốc gia, việc nghiên cứu so sánh chế định GQTC giữa NTD với thương nhân giữa pháp luật Lào và Việt Nam là khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của Lào và Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quan hệ pháp luật BVQLNTD, bản chất tranh chấp và các phương thức GQTC giữa NTD với thương nhân.
  2. Phân tích, so sánh các quy định pháp luật của Lào và Việt Nam về GQTC giữa NTD với thương nhân, chỉ ra các điểm tương đồng, khác biệt, thành tựu và hạn chế trong quy định cũng như thực tiễn thi hành.
  3. Đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về GQTC giữa NTD với thương nhân cho Lào và Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về quan hệ pháp luật, chủ thể, khách thể, nội dung và các phương thức GQTC giữa NTD với thương nhân.
  2. Nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật quốc tế tiêu biểu về các mô hình GQTC giữa NTD và thương nhân để rút ra bài học kinh nghiệm.
  3. So sánh quy định pháp luật Lào và Việt Nam trên 4 nhóm nội dung: (i) Nhận diện quan hệ pháp luật BVQLNTD; (ii) Địa vị pháp lý của các chủ thể; (iii) Trình tự, thủ tục GQTC; (iv) Cơ chế bảo đảm thi hành kết quả GQTC.
  4. Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật GQTC tại Lào và Việt Nam.
  5. Đề xuất các giải pháp lập pháp và giải pháp hỗ trợ thực thi phù hợp với từng quốc gia.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn của hệ thống pháp luật Lào và Việt Nam về GQTC giữa NTD với thương nhân, cùng kinh nghiệm pháp luật liên quan của một số quốc gia trên thế giới.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định điều chỉnh năm phương thức GQTC cơ bản: thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án và khiếu nại tiêu dùng (biện pháp hành chính).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn áp dụng chủ yếu từ khi ban hành Luật Bảo vệ NTD năm 2010 của Lào và Luật BVQLNTD năm 2010 của Việt Nam đến thời điểm nghiên cứu (năm 2023).
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và tổng thuật các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước có liên quan theo bốn nhóm nội dung chính:

1. Nhóm công trình về nhận diện quan hệ pháp luật bảo vệ người tiêu dùng

  • Duncan Fairgieve & Richard S. Goldberg (2017) trong công trình Product Liability (Oxford University Press) phân tích khái niệm trách nhiệm sản phẩm, thẩm quyền và việc lựa chọn luật áp dụng trong các tranh chấp tiêu dùng có yếu tố nước ngoài tại các nước phát triển (Mỹ, Úc, New Zealand, Canada, Pháp, Đức).
  • Nguyễn Trọng Điệp (2014) trong luận án tiến sĩ Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ở Việt Nam hiện nay (Học viện Khoa học Xã hội) đã làm rõ lý luận về "tính bất cân xứng" trong quan hệ BVQLNTD và nguyên tắc điều hòa pháp lý.
  • Phôthilat Phôm Phô Thi (2019) trong luận án tiến sĩ Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Lào hiện nay (Đại học Quốc gia Lào) đã hệ thống hóa bản chất quan hệ pháp luật BVQLNTD tại Lào.
  • Giesele Rühl (2011) trong bài viết Consumer protection in choice of law (Cornell International Law Journal) làm rõ lý thuyết bất cân xứng thông tin (information asymmetry) và vị thế bên yếu thế (weaker party).
  • Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơ (2012), Lê Hồng Hạnh & Trần Thị Quang Hồng (2010), Sith Ma la vông (2015) phân tích các khía cạnh chủ thể và đặc điểm quan hệ pháp luật tiêu dùng.

2. Nhóm công trình về địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ GQTC

  • Iain Ramsay (2007) trong Consumer Law and Policy: Text and Materials on Regulating Consumer Markets (Hart Publishing) phân tích vai trò can thiệp của Nhà nước và trách nhiệm của các chủ thể tương ứng với từng phương thức giải quyết.
  • Cao Xuân Quảng (2022) trong luận án tiến sĩ Cải cách pháp luật về trách nhiệm của thương nhân trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Đại học Quốc gia Hà Nội) phân nhóm trách nhiệm thương nhân dưới các góc độ xã hội, kinh tế, chính trị và pháp lý.
  • Cuốn Sổ tay công tác bảo vệ NTD (2006) của NXB Chính trị quốc gia và bài viết của Bùi Nguyên Khánh (2010) phân tích địa vị pháp lý của người tiêu dùng và thương nhân theo từng phương thức giải quyết tranh chấp cụ thể.

3. Nhóm công trình về trình tự, thủ tục GQTC

  • Các nghiên cứu quốc tế về cơ chế ADR và cơ chế tư pháp đặc thù: Báo cáo của Ủy ban châu Âu (2011) về Cross-Border Alternative Dispute Resolution in the European Union; Báo cáo của CCA-SER về Alternative consumer dispute resolution in the EU; nghiên cứu của Bruce Zucker & Monica Her (1985) về hệ thống Tòa án khiếu kiện nhỏ (Small Claims Court); Anika Afviang, Reri Mant, Ema Rahmawati (2020); nghiên cứu của Roger Van den Bergh & Louis Visscher (2018) về chức năng phòng ngừa của cơ chế khởi kiện tập thể (collective actions/class action).
  • Tại Việt Nam và Lào: Dương Quỳnh Hoa (2011) nghiên cứu về cơ chế ADR thương mại; Phan Thị Thanh Thủy (2018) nghiên cứu về cơ chế kiện tập thể tại các nước ASEAN; Trần Văn Nam, Nguyễn Thị Như Quỳnh, Phan Đức Chung, Thomas G. Giglione (2022) và Trần Văn Nam, Nguyễn Bình Minh, Trần Văn Hải, Thomas G. Giglione (2022) nghiên cứu về cơ chế GQTC trực tuyến (ODR), hợp đồng thông minh, ứng dụng Blockchain, RPA và AI; Kouvangra Sonethanou & Chansavath Chanthavong (2019) nghiên cứu so sánh pháp luật ASEAN; Phondeth Tavanh (2018) nghiên cứu về ADR tại Lào.

4. Nhóm công trình về cơ chế bảo đảm thi hành kết quả GQTC

  • Nguyễn Trọng Điệp & Nguyễn Tiến Đạt (2017) đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật trọng tài để bảo đảm thi hành phán quyết trong tranh chấp tiêu dùng.
  • Trần Thị Thuận Giang & Lê Trần Quốc Công (2021) nghiên cứu cơ chế bảo đảm thực thi thỏa thuận hòa giải trực tuyến theo kinh nghiệm Liên minh Châu Âu.
  • NaLan Thammathava trong luận văn thạc sĩ đề xuất cơ chế công nhận và thi hành kết quả thương lượng, hòa giải ngoài Tòa án tại Lào.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu đơn lẻ về pháp luật BVQLNTD của một quốc gia, hoặc tập trung vào một phương thức giải quyết cụ thể mà chưa có công trình nào ở trình độ tiến sĩ luật học tiến hành so sánh toàn diện hệ thống pháp luật Lào và Việt Nam về GQTC giữa NTD với thương nhân trên cả 4 nhóm quy định (nhận diện quan hệ, địa vị pháp lý, trình tự thủ tục, và cơ chế bảo đảm thi hành kết quả). Hơn nữa, các công trình trước chưa cập nhật đầy đủ các điểm mới của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015 của Việt Nam cũng như các biến chuyển mới của thương mại điện tử xuyên biên giới đối với môi trường pháp lý của Lào.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết về sự bất cân xứng thông tin và bên yếu thế: NTD trong quan hệ với thương nhân luôn ở thế yếu về thông tin, năng lực tài chính và khả năng đàm phán hợp đồng. Do đó, pháp luật cần thiết lập các nguyên tắc đặc thù để bảo vệ NTD, can thiệp vào quyền tự do hợp đồng truyền thống nhằm thiết lập sự công bằng thực chất.
  • Trường phái pháp luật thực định kết hợp các giá trị tự nhiên: Tiếp cận pháp luật như hệ thống quy phạm bắt buộc do Nhà nước ban hành nhưng phải bắt nguồn từ thực tiễn khách quan, bảo đảm quyền tự định đoạt trước hết của NTD khi phát sinh tranh chấp.
  • Khung phân tích 4 nhóm quy định: (1) Nhận diện quan hệ pháp luật; (2) Địa vị pháp lý của các bên; (3) Trình tự, thủ tục của từng phương thức GQTC; (4) Cơ chế công nhận và bảo đảm thi hành kết quả GQTC.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng chỉ đạo xuyên suốt, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

  • Chương 1: Phương pháp tiếp cận hệ thống liên ngành (kinh tế học, luật học, chính trị học); phương pháp phân tích, tổng hợp quy phạm và khái niệm lý luận; phương pháp đối chiếu kinh nghiệm quốc tế.
  • Chương 2: Phương pháp luật học so sánh (so sánh chức năng, so sánh quy phạm và thực tiễn áp dụng giữa Lào và Việt Nam); phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp xã hội học pháp luật nhằm đánh giá hiệu quả thi hành.
  • Chương 3: Phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp logic và xã hội học pháp luật để xây dựng hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Lào: Luật Bảo vệ NTD năm 2010, Nghị định số 102/2012/GOV, các văn bản tố tụng dân sự và quản lý thương mại.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: Luật BVQLNTD năm 2010, Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Luật Trọng tài thương mại năm 2010.
  • Các chuẩn mực và văn bản quốc tế: Luật mẫu UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế (1985), Hiến chương ASEAN, Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Kinh tế ASEAN, các chỉ thị và quy định của EU, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Đài Loan, Singapore, Canada.
  • Báo cáo thống kê, tài liệu tọa đàm và án lệ từ các cơ quan quản lý và nghiên cứu của Lào và Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân và pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân

Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, đặc điểm và nền tảng lý luận về tranh chấp tiêu dùng và pháp luật điều chỉnh:

  1. Khái niệm và đặc điểm của các chủ thể:

    • Người tiêu dùng: Luận án xác định NTD là cá nhân thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng cá nhân hoặc gia đình, không vì mục đích thương mại hay lợi nhuận. Việc giới hạn NTD là cá nhân phản ánh đúng bản chất bảo vệ bên yếu thế, bởi các pháp nhân, tổ chức kinh tế có vị thế và điều kiện đàm phán tốt hơn.
    • Thương nhân: Là tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi thương mại một cách độc lập, thường xuyên, mang tính nghề nghiệp và có đăng ký kinh doanh hợp pháp.
  2. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp giữa NTD với thương nhân:

    • Tranh chấp được định nghĩa là sự bất đồng, mâu thuẫn hoặc xung đột về lợi ích, quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật BVQLNTD, trong đó NTD là bên bị thiệt hại hoặc cho rằng bị thiệt hại yêu cầu khôi phục quyền lợi hợp pháp.
    • Các đặc điểm đặc thù:
      • Không mang tính chất thương mại sinh lời;
      • Xuất phát từ vị thế bất cân xứng về thông tin và kinh nghiệm;
      • Nội dung chủ yếu gắn với nghĩa vụ của thương nhân khi đưa hàng hóa, dịch vụ vào lưu thông (chất lượng sản phẩm, thông tin quảng cáo, hợp đồng theo mẫu);
      • Thời điểm phát sinh thường sau giao dịch nhưng có thể phát sinh trước khi hàng hóa lưu thông chính thức đối với các sản phẩm có nguy cơ an toàn cao (thuốc lá, thực phẩm biến đổi gen, năng lượng hạt nhân);
      • Giá trị tranh chấp phần lớn có quy mô kinh tế không lớn nhưng tần suất phát sinh cao.
  3. Hệ thống các phương thức giải quyết tranh chấp:

    • Thương lượng: Quá trình hai bên tự đàm phán, giải quyết nội bộ, không có sự tham gia của bên thứ ba, mang tính tự nguyện tuyệt đối.
    • Hòa giải (ngoài tố tụng): Phương thức có sự hỗ trợ của bên thứ ba độc lập (hòa giải viên) nhằm giúp các bên tìm kiếm giải pháp đồng thuận mà không bắt buộc tuân theo thủ tục tố tụng tư pháp nghiêm ngặt.
    • Trọng tài: Phương thức tài phán phi nhà nước do các bên tự nguyện thỏa thuận lựa chọn, hội đồng trọng tài ban hành phán quyết có giá trị chung thẩm và bắt buộc thi hành.
    • Tòa án: Phương thức tài phán công quyền nhân danh quyền lực Nhà nước, tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng tư pháp chặt chẽ, bản án/quyết định được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước.
    • Biện pháp hành chính (Khiếu nại tiêu dùng): Cơ chế yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền can thiệp, xử lý vi phạm hành chính và bảo vệ quyền lợi NTD.
  4. Đặc điểm của pháp luật GQTC tiêu dùng:

    • Bảo đảm quyền tự định đoạt trước hết của NTD (NTD được ưu tiên lựa chọn phương thức ngay cả khi có thỏa thuận trọng tài lập sẵn trong điều kiện giao dịch chung do thương nhân soạn thảo).
    • Đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian và giảm thiểu chi phí cho NTD.
  5. Kinh nghiệm quốc tế:

    • Mô hình Tòa án khiếu kiện nhỏ (Small Claims Court) tại Hoa Kỳ (giải quyết các vụ việc dưới 3.000 - 15.000 USD tùy tiểu bang bằng thủ tục đơn giản) và Indonesia.
    • Cơ chế khởi kiện tập thể (Class Action / Collective Action) nhằm hỗ trợ chi phí và vị thế cho nhóm NTD.
    • Phương thức giải quyết tranh chấp trực tuyến (ODR) ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa quy trình (RPA) và chuỗi khối (Blockchain) tại EU và các nước phát triển.

Chương 2: Thực trạng pháp luật của Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân dưới góc độ so sánh

Chương 2 tiến hành phân tích, đối chiếu thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành giữa hai quốc gia theo 4 nhóm nội dung:

Nhóm nội dung so sánh Quy định pháp luật Lào Quy định pháp luật Việt Nam
1. Nhận diện quan hệ pháp luật Quy định tại Luật Bảo vệ NTD năm 2010. Khái niệm NTD và thương nhân còn mang tính định tính, chưa phân định ranh giới rõ ràng trong các giao dịch phi lợi nhuận của tổ chức. Quy định tại Luật BVQLNTD năm 2010, Luật Thương mại năm 2005. NTD được xác định là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân, gia đình, tổ chức.
2. Địa vị pháp lý của các chủ thể Trách nhiệm của thương nhân và quyền của NTD được quy định nhưng thiếu cơ chế bảo đảm thực thi cụ thể; vai trò của các tổ chức xã hội bảo vệ NTD còn hạn chế. Xác lập tương đối chi tiết quyền và nghĩa vụ của các bên; các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi NTD có địa vị pháp lý độc lập, được quyền đại diện khởi kiện.
3. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp Phụ thuộc lớn vào biện pháp hành chính (khiếu nại tại cơ quan nhà nước); trình tự tố tụng tại Tòa án rườm rà, chưa có thủ tục rút gọn chuyên biệt; thủ tục ADR chưa có hướng dẫn kỹ thuật chi tiết. Ghi nhận đầy đủ 4 phương thức (thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án) và thủ tục hành chính. BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thủ tục rút gọn cho các vụ án dân sự và tranh chấp tiêu dùng có giá trị nhỏ.
4. Cơ chế bảo đảm thi hành kết quả Chỉ có bản án, quyết định của Tòa án mới được bảo đảm cưỡng chế thi hành. Kết quả hòa giải thành ngoài tòa án chưa có cơ chế công nhận tư pháp để thi hành trực tiếp. Bản án của Tòa án và phán quyết trọng tài có giá trị cưỡng chế thi hành; BLTTDS năm 2015 có Chương công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án nhưng điều kiện áp dụng còn phức tạp.

Đánh giá thực tiễn thi hành:

  • Tại Lào: NTD chủ yếu lựa chọn biện pháp khiếu nại hành chính tại các cơ quan quản lý do niềm tin vào cơ quan công quyền và sự thiếu vắng các thiết chế bổ trợ tư pháp chuyên nghiệp. Thủ tục Tòa án ít được sử dụng do án phí, lệ phí cao và thời gian kéo dài. Các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án (ADR) phát triển chậm.
  • Tại Việt Nam: Các phương thức thương lượng, hòa giải diễn ra phổ biến nhưng thiếu sự hướng dẫn chuẩn hóa về quy trình kỹ thuật. Tố tụng trọng tài đối với tranh chấp tiêu dùng chưa phát triển do thiếu trọng tài viên chuyên trách và chi phí cao. Tố tụng tòa án tuy đã có quy định thủ tục rút gọn trong BLTTDS năm 2015 nhưng việc áp dụng trên thực tế còn vướng mắc về điều kiện chứng cứ và thẩm quyền. Sự bùng nổ của thương mại điện tử làm phát sinh nhiều tranh chấp quy mô nhỏ, xuyên biên giới chưa được bao quát hiệu quả bởi khung pháp lý truyền thống.

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật của Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân

Chương 3 đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp cụ thể cho từng quốc gia:

1. Định hướng hoàn thiện chung

  • Bảo đảm nguyên tắc cân bằng lợi ích nhưng ưu tiên bảo vệ bên yếu thế (NTD) trước, trong và sau tranh chấp.
  • Đơn giản hóa thủ tục tố tụng, giảm chi phí và thời gian giải quyết.
  • Thúc đẩy xã hội hóa hoạt động GQTC thông qua các thiết chế phi nhà nước và tổ chức xã hội bảo vệ NTD.
  • Phát triển các phương thức GQTC trực tuyến (ODR) thích ứng với nền kinh tế số và thương mại điện tử xuyên biên giới.

2. Nhóm giải pháp đối với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

  • Hoàn thiện quy định nhận diện quan hệ pháp luật: Chuẩn hóa khái niệm NTD theo hướng khẳng định NTD là cá nhân tiêu dùng cuối cùng; phân định rõ ranh giới thương nhân trong môi trường kinh doanh truyền thống và thương mại điện tử.
  • Hoàn thiện địa vị pháp lý chủ thể: Bổ sung cơ chế bảo vệ quyền của tổ chức xã hội bảo vệ NTD, trao quyền cho tổ chức này đại diện khởi kiện vì lợi ích cộng đồng NTD.
  • Hoàn thiện trình tự, thủ tục:
    • Xây dựng quy trình kỹ thuật chuẩn cho thương lượng và hòa giải;
    • Thiết lập thủ tục rút gọn tại Tòa án đối với các vụ kiện tiêu dùng có giá trị nhỏ;
    • Giảm mức thu án phí, lệ phí tòa án và lệ phí trọng tài đối với các tranh chấp tiêu dùng.
  • Hoàn thiện cơ chế bảo đảm thi hành kết quả: Bổ sung quy định công nhận tư pháp đối với biên bản hòa giải thành ngoài Tòa án, cho phép cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành trực tiếp.
  • Giải pháp hỗ trợ thi hành: Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ hành chính, thẩm phán; mở rộng dịch vụ "một cửa" tiếp nhận khiếu nại tiêu dùng.

3. Nhóm giải pháp đối với Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

  • Hoàn thiện quy định nhận diện và thủ tục:
    • Bổ sung cơ chế khởi kiện tập thể (Class Action) vào pháp luật tố tụng dân sự nhằm giải quyết các hành vi vi phạm diện rộng của thương nhân;
    • Hoàn thiện khung pháp lý về giải quyết tranh chấp trực tuyến (ODR), công nhận giá trị pháp lý của hợp đồng thông minh và chứng cứ điện tử thông qua ứng dụng Blockchain, RPA và AI;
    • Sửa đổi các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong BLTTDS năm 2015 để dễ dàng kích hoạt đối với tranh chấp tiêu dùng giá trị nhỏ.
  • Hoàn thiện cơ chế bảo đảm thi hành: Hoàn thiện quy trình công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, đặc biệt là hòa giải trực tuyến; thiết lập cơ chế thi hành phán quyết trọng tài nhanh chóng.
  • Giải pháp hỗ trợ thi hành: Nghiên cứu khả năng hình thành Tòa án chuyên trách hoặc bộ phận chuyên trách về tranh chấp tiêu dùng trong hệ thống Tòa án nhân dân; tăng cường nguồn lực tài chính và pháp lý cho Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt lý luận:

    • Bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận về quan hệ pháp luật BVQLNTD, làm sâu sắc bản chất pháp lý của "tính bất cân xứng" và nguyên tắc bảo đảm quyền tự định đoạt trước hết của NTD trong GQTC.
    • Phân định rõ mối liên hệ giữa pháp luật dân sự chung và pháp luật chuyên ngành BVQLNTD, xác lập cơ sở lý thuyết cho việc can thiệp của Nhà nước vào quan hệ hợp đồng tiêu dùng để thiết lập sự bình đẳng thực chất.
    • Luận giải cơ sở lý luận của việc áp dụng các phương thức phi tòa án, cơ chế tư pháp rút gọn và mô hình ODR trong tranh chấp tiêu dùng.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn và lập pháp:

    • Cung cấp một công trình nghiên cứu so sánh chuyên sâu đầu tiên giữa pháp luật Lào và Việt Nam về 4 nhóm quy định GQTC giữa NTD với thương nhân trong bối cảnh thực thi Luật Bảo vệ NTD năm 2010 của hai nước.
    • Chỉ ra các điểm nghẽn thực tế trong việc công nhận hiệu lực cưỡng chế đối với biên bản thương lượng, hòa giải thành ngoài tòa án tại Lào và Việt Nam.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp có tính khả thi cao giúp các cơ quan lập pháp Lào tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp của Việt Nam và quốc tế, tránh các bất cập thực tiễn mà Việt Nam đã trải qua.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu trong phạm vi pháp luật thực định của Lào và Việt Nam từ năm 2010 đến 2023 trên 5 phương thức giải quyết tranh chấp cơ bản. Các dữ liệu thực tiễn tại Lào phụ thuộc vào nguồn báo cáo đã công bố, chưa bao quát hết tất cả các tranh chấp phát sinh trong khu vực phi chính thức.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu cơ chế hợp tác tư pháp quốc tế song phương giữa Lào và Việt Nam trong việc xử lý các tranh chấp tiêu dùng xuyên biên giới phát sinh từ các sàn thương mại điện tử.
    • Đánh giá tác động pháp lý khi hai quốc gia ban hành hoặc sửa đổi đạo luật mới về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giai đoạn tiếp theo.
    • Nghiên cứu sâu hơn về khía cạnh kỹ thuật và bảo mật dữ liệu của nền tảng ODR ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong khu vực ASEAN.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Là tài liệu tham khảo trực tiếp cho Quốc hội, Bộ Công Thương, Bộ Tư pháp của Lào và Việt Nam trong quá trình rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các đạo luật tố tụng liên quan.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật chuyên khảo về luật học so sánh, luật kinh tế, lý thuyết về bảo vệ bên yếu thế và các cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án (ADR/ODR).
  • Đối với các tổ chức xã hội và hiệp hội bảo vệ NTD: Hỗ trợ luận cứ pháp lý để nâng cao vai trò đại diện, tư vấn và hỗ trợ người tiêu dùng khởi kiện hoặc tham gia các quy trình hòa giải, thương lượng.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án quan niệm người tiêu dùng chỉ nên là cá nhân mà không bao gồm tổ chức?

Luận án chỉ rõ bản chất của pháp luật BVQLNTD ra đời nhằm bảo vệ bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng. Các tổ chức, pháp nhân (doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình) vốn có tư cách pháp lý, quy mô vốn, năng lực quản trị và khả năng đàm phán hợp đồng tốt hơn cá nhân, do đó việc điều chỉnh quan hệ của họ nên thuộc về pháp luật dân sự và thương mại thông thường, không cần thiết phải áp dụng cơ chế bảo vệ đặc thù của luật tiêu dùng.

2. Nguyên tắc "bảo đảm quyền tự định đoạt trước hết của NTD" được thể hiện như thế nào trong GQTC?

Xuất phát từ vị thế bất cân xứng, pháp luật cho phép NTD được ưu tiên lựa chọn phương thức GQTC phù hợp với điều kiện của mình mà không bị ràng buộc tuyệt đối bởi các điều khoản mẫu hoặc thỏa thuận trọng tài do thương nhân đơn phương soạn thảo sẵn trước khi tranh chấp phát sinh.

3. Tỷ lệ gia tăng tranh chấp tiêu dùng tại Lào trong giai đoạn 2017 – 2020 là bao nhiêu?

Theo Báo cáo thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Lào (2021) được trích dẫn trong luận án, số lượng tranh chấp giữa NTD với thương nhân tại Lào giai đoạn 2017 – 2020 đã tăng 25% so với giai đoạn 2013 – 2016.

4. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay trong phương thức hòa giải ngoài Tòa án tại Lào và Việt Nam là gì?

Điểm nghẽn lớn nhất là cơ chế bảo đảm thi hành: thỏa thuận hòa giải thành giữa NTD và thương nhân chưa được tự động bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước như bản án Tòa án. Tại Lào chưa có cơ chế công nhận tư pháp đối với biên bản hòa giải thành, còn tại Việt Nam cơ chế công nhận theo BLTTDS năm 2015 vẫn còn điều kiện phức tạp, khiến việc thực thi phụ thuộc chủ yếu vào sự tự nguyện của thương nhân.

5. Luận án đề xuất ứng dụng những công nghệ nào để hỗ trợ phương thức ODR tại Việt Nam?

Luận án ghi nhận các công trình đề xuất ứng dụng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) để xác thực và chống giả mạo thông tin, cùng với quy trình tự động hóa bằng robot (RPA) và trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm rút ngắn thời gian giải quyết và nâng cao độ chính xác của kết quả xử lý tranh chấp thương mại điện tử.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của NCS. Khamkeng Lorbriayao là công trình nghiên cứu chuyên khảo về mặt luật học so sánh giữa Lào và Việt Nam trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp tiêu dùng. Bằng việc phân tích toàn diện 4 nhóm quy định pháp luật và đánh giá thực tiễn thi hành của 5 phương thức GQTC, luận án đã làm sáng tỏ các luận cứ lý luận về sự bất cân xứng vị thế và nguyên tắc bảo vệ quyền tự định đoạt của NTD. Các giải pháp được đề xuất trong luận án vừa đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật nội định của Lào dựa trên việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp của Việt Nam, vừa định hướng phát triển các mô hình tố tụng hiện đại (thủ tục rút gọn, kiện tập thể, ODR) phù hợp với bối cảnh kinh tế số và thương mại điện tử.