Chương 1: Tổng quan về trách nhiệm sản phẩm. Chương 2: Thực trạng các quy định về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam. 8 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM 1.1 Lịch sử phát triển của trách nhiệm sản phẩm Trách nhiệm sản phẩm là một vấn đề pháp lý được các nước trên thế giới đặc biệt quan tâm, nhất là các nước phát triển, nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và trật tự sản xuất, lưu thông hàng hóa trên thị trường một cách an toàn, lành mạnh.
Để có cơ sở pháp lý cho mục tiêu đó, rất nhiều nước đã xây dựng chế định trách nhiệm sản phẩm thành một đạo luật riêng hoặc xây dựng chế định này trong luật bảo vệ người tiêu dùng nhằm điều chỉnh tích cực vấn đề này. Chế định pháp luật này được áp dụng đầu tiên ở Hoa Kỳ và sau đó được tiếp nhận bởi các quốc gia ở Châu Âu (ở cấp độ Liên minh Châu Âu1 và quốc gia thuộc Liên minh2), ở Châu Á (Nhật Bản3, Hàn Quốc4, Trung Quốc5, các quốc gia ASEAN6). Nhà sản xuất, nhà phân phối hay nhà xuất khẩu nếu vi phạm các quy định của luật trách nhiệm sản phẩm thì sẽ phải hứng chịu những hậu quả rất nặng nề như thu hồi toàn bộ hàng hóa, đền bù thiệt hại và đặc biệt là người tiêu dùng sẽ mất lòng tin đối với sản phẩm của doanh nghiệp. Và một khi doanh nghiệp đã có những tiền lệ bị kiện cáo liên quan đến trách nhiệm sản phẩm thì khó mà có thế được chấp nhận ở những thị trường này nữa.
Quá trình hình thành pháp luật về trách nhiệm sản phẩm về căn bản xảy ra đồng thời với xu hướng suy yếu của học thuyết về tính quan hệ mật thiết của hợp đồng (The doctrine of Privity) hay còn gọi là quy tắc phải có quan hệ hợp đồng. Theo học thuyết về tính quan hệ mật thiết của hợp đồng, không thể trao quyền hay áp đặt nghĩa vụ theo hợp đồng cho bất kỳ chủ thể nào không phải là một bên của hợp đồng đó. Tính quan hệ 1 Chỉ thị số 85/374/EEC ban hành ngày 25/7/1985 của Uỷ ban của EC để hài hoà hoá các quy định bắt buộc trong lĩnh vực pháp luật và hành chính của quốc gia thành viên về trách nhiệm của các sản phẩm bị khuyết tật. 2 Cộng hoà Liên bang Đức đã ban hành Luật trách nhiệm sản phẩm năm 1989 với nhiều nội dung lấy từ các chỉ thị của EU về trách nhiệm sản phẩm; Vương quốc Tây Ban Nha ban hành Luật trách nhiệm sản phẩm số 22 ngày 06/04/1994; Vương quốc Hà Lan ban hành Luật trách nhiệm sản phẩm số 53 ngày 13/09/1990.
3 Luật trách nhiệm sản phẩm của Nhật Bản có hiệu lực vào tháng 7 năm 1995. 4 Luật Trách nhiệm sản phẩm của Hàn Quốc ban hành năm 2000. 5 Luật chất lượng sản phẩm của Trung Quốc ban hành năm 1993. 6 Luật về người tiêu dùng Philippines thông qua năm 1992; Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Malaysia có hiệu lực vào ngày 15 tháng 11 năm 1999; Luật Trách nhiệm đối với Sản phẩm không an toàn của Thái Lan được ban hành ngày 13 tháng 2 năm 2008.
9 mật thiết của hợp đồng đưa đến một cách hiểu là chỉ có các bên trong quan hệ hợp đồng mới có thể kiện để yêu cầu thực thi quyền hay đòi bồi thường thiệt hại cho mình7. Với quan niệm của học thuyết tính quan hệ mật thiết của hợp đồng thì một người bị thiệt hại chỉ có thể kiện một người có hành vi bất cẩn nếu người đó mà là một bên trong giao dịch với người bị thiệt hại. Như vậy, nghĩa vụ của một người phải có sự cẩn trọng hợp lý chỉ xuất phát từ hợp đồng và chỉ người nào cùng tham gia quan hệ hợp đồng đó mới có thể kiện vì sự vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng này. Điều đó cũng có nghĩa là khi một nhà sản xuất bất cẩn bán một sản phẩm cho một người kinh doanh bán lẻ và người kinh doanh bán lẻ đó lại bán sản phẩm cho khách hàng thì người sản xuất không phải chịu trách nhiệm gì cả8.
Khách hàng khi đó không có bất kỳ biện pháp nào để yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại vì không phải người bán lẻ mà chính nhà sản xuất mới là người gây ra thiệt hại. Đây là quan điểm được tái khẳng định trong án lệ Torgeson v. Schultz (1908) năm 1908 của Tòa Phúc thẩm New York9. Quan điểm ấy phải đợi đến năm 1916, trong vụ MacPherson v.
Buick Motor Company, 216 N. 382 (1916) mới bị bãi bỏ. Phán quyết của vụ MacPherson v. Buick Motor Company (1916)10 trở thành phán quyết mang tính lịch sử mà theo đó, nhà sản xuất các sản phẩm có khuyết tật thuộc loại “nguy hiểm từ trong nội tại” (inherently dangerous) sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với các thiệt hại mà người sử dụng sản phẩm đó phải gánh chịu ngay cả khi giữa người sử dụng sản phẩm và nhà sản xuất không có quan hệ hợp đồng trực tiếp.
Thuật 7 Jane Stapleton (1994), Product liability (Law in context), Cambrigde University Press, London, United Kingdom, p 15 - 16. James Barnes, and others (2001), Business Law and the Regulatory Environment: Concepts and Cases, McGraw-Hill Irwin, pp.Edward White, “The Origins of Consumer Rights in Tort Law” trong John W. Court Cases: An Encyclopedia (2nd ed), New York: Routledge, pp. Buick Motor Co.
10 ngữ “nguy hiểm từ trong nội tại” được giải thích theo nghĩa là đặc biệt nguy hiểm với lý do xuất phát từ chính khuyết tật chứ không phải giải thích bằng chính sự nguy hiểm. Chẳng hạn như cái giàn đỡ bị lỗi, hay một lọ cà phê gây nổ có thể được xem như là nguy hiểm từ trong nội tại. Với phán quyết này, lần đầu tiên, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được pháp luật Hoa Kỳ coi là một nguồn để truy cứu trách nhiệm sản phẩm đối với nhà sản xuất11. Tuy nhiên, cơ sở để quy trách nhiệm trong vụ việc này là chế định bồi thường thiệt hại do lỗi bất cẩn (lỗi vô ý).
Nhà sản xuất đã có lỗi không kiểm tra về khả năng chịu tải của sản phẩm (chiếc mô tô) khi chạy với tốc độ tối đa cho phép và không đưa ra các cảnh báo cần thiết. Với việc công nhận lý thuyết về sự bất cẩn, vụ việc có tính ngoại lệ này được xem như là đã phá bỏ quy tắc về tính quan hệ mật thiết của hợp đồng. Án lệ MacPherson nhanh chóng trở thành một quy định có tính dẫn dắt, và trong các vụ việc có xem xét về sự bất cẩn, thì quy tắc phải có quan hệ hợp đồng đã không còn được áp dụng. Sự đồng cảm ngày càng tăng của công chúng đối với các nạn nhân của sự bất cẩn trong các ngành sản xuất cũng đóng góp vào sự suy vong của quy tắc này.
Từ những năm 1930 đến những năm 1960 tại Mỹ, các nhà luật gia và các luật sư đưa ra những quan điểm về việc áp dụng trách nhiệm sản phẩm mà không cần lỗi của nhà sản xuất12 hay còn gọi là trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt (strict liability). Một loạt các lý giải đã được đưa ra cho trách nhiệm nghiêm ngặt: sự bất cẩn thường rất khó để chứng minh; trách nhiệm nghiêm ngặt có thể được hình thành do một loạt các hành động vi phạm nghĩa vụ đảm bảo; trách nhiệm nghiêm ngặt khuyến khích các nhà sản xuất tạo ra sự an toàn cần thiết đối với sản phẩm; các nhà sản xuất ở vị trí tốt nhất để hoặc là loại trừ tính gây hại, hoặc là bảo hiểm hoặc phân bổ chi phí rủi ro; nhà sản xuất 11 G.Edward White, “The Origins of Consumer Rights in Tort Law” trong John W. Court Cases: An Encyclopedia (2nd ed), New York: Routledge, pp. 12 Nguyễn Thị Tường Vi (2009), Pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Cộng đồng Châu Âu và Việt Nam, Khoá luận tốt nghiệp, ĐH Luật Tp.
11 một sản phẩm tạo ra niềm tin cho người tiêu dùng rằng sản phẩm là an toàn và cần được gắn với sản phẩm. Phán quyết của tòa án tối cao bang California (Hoa Kỳ) về vụ Escola v. Coca Cola Bottling Co. of Fresno, 24 Cal.2d 436 (1944) là phán quyết đầu tiên cho loại trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt của nhà sản xuất.
Trong vụ kiện này, nguyên đơn là một nữ bồi bàn, trong quá trình phục vụ thì vỏ chai Coca Cola phát nổ làm nguyên đơn bị thương ở tay. Trong quá trình tranh tụng, mặc dù nguyên đơn không chứng minh được lỗi của công ty sản xuất vỏ chai trên, nhưng thẩm phán Roger John Traynor cho rằng, bị đơn là người chịu trách nhiệm sản xuất và đưa ra thị trường các loại vỏ chai đảm bảo an toàn cho người sử dụng, đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm đối với các khuyết tật xảy ra trong điều kiện thông thường mà bị đơn không thể lường trước được13. Cuối cùng, vào năm 1963, trong vụ việc Greenman kiện Yuba Power Products, Inc.2d 89714, Toà án tối cao California đã khẳng định quy tắc về trách nhiệm nghiêm ngặt đối với các sản phẩm có khuyết tật. Trong một thời gian ngắn, quy tắc về trách nhiệm nghiêm ngặt đã được thừa nhận và áp dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ.
Đối với trách nhiệm bảo đảm, một sự giới hạn tương tự về việc phải có quan hệ hợp đồng cũng được áp dụng, một phẩn bởi vì bảo đảm được xem là một phần không tách rời của các hợp đồng bán hàng. Bắt đầu vào đầu thế kỷ 20, một ngoại lệ của quy tắc phải có quan hệ hợp đồng cũng đã hình thành với các vụ việc liên quan đến sản phẩm tiêu dùng (thức ăn, đồ uống, thuốc) và cuối cùng là các sản phẩm sử dụng trực tiếp cho cơ sở (ví dụ mỹ phẩm), và bảo đảm trong các vụ việc này được mở rộng đến người sử dụng cuối cùng. Trong các trường hợp mà có sự bảo đảm rõ ràng, chẳng hạn như sự bảo đảm được tuyên bố đối với công chúng nói chung, thì yêu cầu phải có quan 13 Escola v. Coca Cola Bottling Co.
of Fresno, 24 Cal. Yuba Power Products, Inc, 59 Cal. 12 hệ hợp đồng đã được loại bỏ trong những năm 30 thế kỷ XX. Chẳng hạn như một tuyên bố trong tài liệu kèm theo sản phẩm ô tô rằng kính chắn gió chống vỡ sẽ tạo thành một sự bảo đảm rõ ràng đối với người mua về việc kính chắn gió không thể vỡ15.