CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG VÀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ TRONG HỢP ĐỒNG 1. Lý luận chung về hợp đồng 1. Khái niệm Trong cuộc sống, một phần không nhỏ các quan hệ xã hội được tạo lập bởi các hợp đồng: mua bán hàng hóa, cho vay, cho thuê, thành lập công ty, v.v Vậy hợp đồng là gì? Theo Nguyễn Ngọc Khánh, thật khó có thể nói chính xác thuật ngữ “hợp đồng” có từ khi nào.
Chỉ biết rằng thuật ngữ này có nguồn gốc từ một từ tiếng La- tinh là “contractus”, phát sinh từ động từ “contrahere”, có nghĩa là “ràng buộc”.1 Từ gốc La-tinh này, các ngôn ngữ khác đã phát triển thuật ngữ “hợp đồng” trong ngôn ngữ của riêng mình, ví dụ, “contract” trong tiếng Anh hay “contrat” trong tiếng Pháp, v.v Tại Việt Nam, thuật ngữ “hợp đồng” hay “khế ước” chỉ thực sự được sử dụng khi được đưa vào Bộ Dân luật Giản yếu Nam kỳ 1899, rồi Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931 và Bộ Dân luật Trung kỳ 1936. Ban đầu, trong ngôn ngữ của La Mã cổ đại, “contractus” mang nghĩa chỉ sự ràng buộc của mọi loại nghĩa vụ, không chỉ riêng nghĩa vụ hợp đồng. Sau đó, Gaius đã giới hạn nghĩa của thuật ngữ này lại, chỉ mang nghĩa cho nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, và đồng thời phân biệt giữa nghĩa vụ phát sinh từ vi phạm và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.2 Trong pháp luật La Mã cổ đại, không tìm thấy một định nghĩa nào cho thuật ngữ “contractus”. Tuy nhiên, Ulpianus đã ghi lại một phát biểu của Pedius rằng “không có hợp đồng, không có nghĩa vụ…” (nullum esse contractum, nullam obligationem…).3 1 Nguyễn Ngọc Khánh (2006), “Hợp đồng: Thuật ngữ và Khái niệm”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 2006(8), tr.
2 Reinhard Zimmermann (1990), The Law of Obligations: Roman Foundations of the Civilian Tradition, Juta, Cape Town, p. 9 Trong pháp luật hiện đại, thuật ngữ “hợp đồng” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng chúng ta vẫn có thể tìm ra được điểm chung giữa các định nghĩa đó. Theo Black‟s Law Dictionary, hợp đồng là “một sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người mà tạo lập nên các nghĩa vụ có thể thi hành, hay nói cách khác được công nhận theo pháp luật. Treitel, hợp đồng là “một thỏa thuận làm phát sinh nghĩa vụ được pháp luật công nhận hoặc thi hành.”5 Theo Bộ luật Dân sự Pháp 1804 (sửa đổi, bổ sung bởi Sắc lệnh 2016-131), hợp đồng là “sự thống nhất ý chí giữa hai hoặc nhiều người nhằm tạo lập, thay đổi, chuyển giao hoặc chấm dứt các nghĩa vụ.”6 The Bộ luật Dân sự Liên bang Nga 1994, hợp đồng “được thừa nhận như một sự thỏa thuận được giao kết bởi hai hoặc nhiều người về việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự.”7 Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, hợp đồng là “sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”8 Từ một số định nghĩa về hợp đồng trên, có thể xác định hai vấn đề trọng tâm trong khái niệm về hợp đồng, đó là: (i) sự thỏa thuận giữa các bên, và (ii) tạo lập một hậu quả pháp lý.9 Do đó, một cách chung nhất, hợp đồng có thể được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều người nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hoặc quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Black (2004), Black’s Law Dictionary 8th ed. Treitel (2011), Treitel on the Law of Contract (13th ed.), Sweet&Maxwell, London, p. 6 Điều 1101, Bộ luật Dân sự Pháp (sửa đổi, bổ sung bởi Sắc lệnh 2016-131).1, Bộ luật Dân sự Liên bang Nga 1994. 8 Điều 385, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015.
9 Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật Hợp đồng – Phần chung, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 10 Ngô Huy Cương (2013), sđd, tr. Nguyên tắc tự do ý chí (a) Nội dung của nguyên tắc Hợp đồng, như đã đề cập ở trên, có đặc điểm là sự thỏa thuận giữa các bên.
Emerson và John. W Hardwick, “thỏa thuận là sự gặp gỡ của các ý chí,”11 hay chính là sự thống nhất của các ý chí. Người ta thừa nhận rằng nền tảng của luật hợp đồng là tự do ý chí.12 Không có tự do ý chí không thể hình thành hợp đồng và ngược lại.13 Vào thế kỷ 18, với sự phát triển của trường phái pháp luật tự nhiên, học thuyết tự do ý chí phát triển mãnh mẽ ở Pháp và sau đó lan sang các nước phương Tây khác. Học thuyết cho rằng cá nhân chỉ có thể bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình được tuyên bố trực tiếp thông qua các hợp đồng hoặc gián tiếp thông qua pháp luật.14 Bằng cách các cá nhân tự do thể hiện ý chí, tự do thương lượng, kinh tế sẽ được phát triển thông qua tự do cạnh tranh (laisser faire).
Bởi vậy, các Bộ luật Dân sự được phát triển thời đó, như Bộ luật Dân sự Pháp 1804 hay Bộ luật Dân sự Đức 1896, thực sự bị ảnh hưởng sâu sắc bởi học thuyết tự do ý chí, tôn trọng và ủng hộ thỏa thuận của các bên một cách tuyệt đối. Tại Thông luật, tự do hợp đồng là một học thuyết trung tâm của luật hợp đồng cổ điển.15 Học thuyết này đặc biệt phát triển trong thế kỷ 19, và cũng được công nhận ở trạng thái tuyệt đối. Thẩm phán Anh George Jessel tại một phán quyết vào năm 1875 đã phát biểu: “…một người đủ tuổi và đủ hiểu biết phải có quyền tự do tuyệt đối trong giao kết hợp đồng và những hợp đồng được giao kết một cách tự do và tự nguyên phải được tôn trọng và thi hành bởi Tòa án. Vì thế…bạn không được, 11 Ngô Huy Cương (2013), sđd, tr.
12 Ngô Huy Cương (2013), sđd, tr. 13 Nguyễn Thị Thu Trang (2018), “Quyền con người và giới hạn tự do hợp đồng”, Tạp chí Pháp luật và Phát triển. 14 Ngô Huy Cương (2013), sđd, tr. 15 Ngô Huy Cương (2013), sđd, tr.
11 dù là ít, can thiệp vào sự tự do hợp đồng này.”16 Thẩm phán Anh Bramwell tại một phán quyết khác vào năm 1883 cũng khẳng định: “…không phải một hợp đồng giữa hai người tự nguyện giao kết là không thể không hợp lý, nhưng sự thật rằng một hợp đồng được giao kết tự nguyện là bằng chứng mạnh mẽ nhất có thể cho thấy đó là một thỏa thuận hợp lý, và tôi phải yêu cầu bằng chứng mạnh mẽ nhất có thể, hoặc bằng chứng còn hơn cả sự có thể đó, để cho tôi thấy rằng đây là một hợp đồng không hợp lý.”17 Mặc dù thời kỳ hoàng kim của tự do ý chí, tự do hợp đồng là vào thế kỷ 18 và thế kỷ 19, nhưng những ý niệm về tự do ý chí, tự do hợp đồng đã xuất hiện trong trong pháp luật La Mã và Hy Lạp cổ đại. Quan điểm của pháp luật Hy Lạp cổ đại được Demosthenes ghi lại trong tác phẩm của mình: “không có gì có hiệu lực lớn hợp đồng [này]”. Bởi sự ảnh hưởng của quan niệm này, đã có những chủ thể, một cách nghiêm túc, yêu cầu tòa án công nhận và cho thi hành các hợp đồng mà nội dung là để thực hiện một tội phạm.18 Trong pháp luật La Mã, tự do hợp đồng được phản ánh qua một số châm ngôn như “các bên trong hợp đồng có quyền tự do để có được [lợi ích] tốt hơn” hay “khi một người tạo lập hợp đồng, như anh ta tuyên bố bằng lời nói, [hợp đồng] sẽ trở thành luật. Bởi quan điểm này, tòa án La Mã dường như không quan tâm, và không can thiệp vào hợp đồng giữa các bên trong những trường hợp như có bất cân bằng trong thỏa thuận hay hợp đồng có quy định điều khoản phạt quá bất công.19 Hiện nay, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 tại Điều 3 đã ghi nhận nguyên tắc tự do ý chí, tự do hợp đồng như sau: “…Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận.
Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo 16 Printing and Numerical Registering Company v. Sampson (1875) LR 19 Eq 462, 46. 17 Manchester, Sheffield and Lincolnshire Railway Co. 18 Arthur Chrenkoff (1996), “Freedom of Contract: A New Look at the History and Future of the Idea”, Australian Journal of Legal Philosophy, 21, p.
12 đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng….” (b) Giới hạn của nguyên tắc Tự do ý chí nói chung hay tự do hợp đồng nói riêng là cần thiết cho sự phát triển của kinh tế, xã hội. Trong quá khứ, rất nhiều quốc gia đã ủng hộ một sự tự do tuyệt đối, vô hạn. Tuy nhiên, sự tự do tuyệt đối, vô hạn đó trong một số mối quan hệ đã bị lợi dụng và đưa đến kết quả là một sự bất công trong hợp đồng, ví dụ quan hệ cho vay nặng lãi, quan hệ lao động, v.v Đây là điều mà không một ai mong muốn trong xã hội. Vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa cấp tiến (progressivism) và chủ nghĩa tự do xã hội (social liberalism) lên ngôi, chủ yếu quan tâm đến sự bất công và sự khác biệt trong xã hội.
Chủ nghĩa này cho rằng tự do hợp đồng được những người có ưu thế sử dụng như một công cụ để duy trì ưu thế của mình và giữ cho tầng lớp yếu thế hơn không thể có sức mạnh.20 Bởi vậy, quan điểm cổ điển về tự do hợp đồng tuyệt đối không thể đứng vững trước sự phản đối mạnh mẽ này. Trong tác phẩm Chủ nghĩa tự do (Liberalism), Hobbhouse đã trình bày quan điểm cho rằng hợp đồng giữa các bên không có cùng vị thế không thể là một hợp đồng tự do: “Thỏa thuận như vậy là một thỏa thuận ép buộc. Một người yếu thế hơn, như một người đang chênh vênh trên vách núi, sẽ đồng ý trao toàn bộ tài sản của anh ta cho bất kỳ người nào quăng cho anh ta một sợi dây mà không đòi hỏi thêm bất kỳ điều kiện nào khác. Một sự đồng thuận thực sự phải là một sự đồng thuận có tự do, và sự tự do đầy đủ trong đồng thuận yêu cầu sự cân bằng ở cả hai bên trong thỏa thuận.” Ví dụ, trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động và người lao động không bao giờ có thể ở vị trí cân bằng trong thỏa thuận: người sử dụng lao động có nhiều sự lựa chọn, có thể tìm thấy rất nhiều người phù hợp với vị trí công việc, còn người lao động nếu không đồng ý làm việc sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề tài chính trong cuộc sống.