Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH TÀI PHÁN ĐỐI VỚI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ GÂY RA 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của chế định tài phán đối với bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra 1. Khái niệm chế định tài phán đối với bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự thực chất là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đối với hành vi gây oan, sai trong hoạt động tố tụng hình sự. Để làm rõ khái niệm chế định tài phán đối với bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, trước hết cần phải làm rõ một số thuật ngữ, khái niệm liên quan như oan, sai, bồi thường và tài phán.
Trong Tiếng Việt, oan được hiểu là không làm mà phải chịu, bị quy cho tội mà bản thân không phạm, phải chịu sự trừng phạt mà bản thân không đáng chịu [31, tr.749] hoặc là bị quy tội không đúng, phải chịu sự trừng phạt một cách sai trái, vô lý [63, tr.1269]; sai được hiểu là không đúng, không hợp với lẽ phải, lẽ công bằng [52, tr.786] hoặc không phù hợp với cái hoặc điều có thật, mà có khác đi, chệch đi so với nhau, không khớp với nhau; không phù hợp với yêu cầu khách quan, lẽ ra phải khác; không phù hợp với phép tắc, những điều quy định [31, tr. Trong tố tụng hình sự, oan là tình trạng của một người không thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị các cơ quan tiến hành tố tụng xác định họ phạm tội và thực hiện các biện pháp tố tụng bất lợi đối với họ như khởi tố, tạm giam, truy tố, xét xử. Sai trong tố tụng hình sự thì thể hiện ở nhiều trường hợp, nhiều mức độ và nguyên nhân khác nhau. Việc điều 12 tra, truy tố, xét xử sai có cả nguyên nhân do vô ý, cố ý từ phía những người tiến hành tố tụng, từ việc thiếu thận trọng, thiếu khách quan hay áp dụng sai pháp luật, đánh giá sai lệch về chứng cứ hoặc sự kiện khách quan không bộc lộ được đúng bản chất của vụ án.
Sai trong tố tụng hình sự có thể là quy kết không đúng hành vi của người phạm tội hoặc tính chất, mức độ hành vi dẫn đến việc đưa ra quan điểm xử lý, mức xử lý không phù hợp, không đầy đủ. Tuy nhiên, sai cũng có thể là vô ý hay cố ý dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm hoặc xử lý không đúng với bản chất hành vi, sự việc hoặc mức xử lý quá nhẹ so với tính chất của nó. Cả oan và sai đều có thể gây thiệt hại về vật chất và tinh thần cho đối tượng bị điều tra, truy tố, xét xử cũng như những người liên quan đến vụ án. Nói đến đối tượng bị oan thì thường được hiểu đó là người bị pháp luật xử lý không đúng, quá mức.
Tuy nhiên, đối tượng của hành vi làm sai thì được hiểu rộng hơn, bao gồm hầu hết mọi đối tượng liên quan đến vụ án, trong đó có cả đối tượng bị oan. Nói cách khác, sự thiệt hại của cá nhân, tổ chức không chỉ giới hạn khi họ vướng vào vòng tố tụng. Theo ngôn ngữ Tiếng Anh, “bồi thường thiệt hại” và “đền bù tổn thất” đều là “compensation”. Tuy nhiên, trong ngôn ngữ tiếng Nhật hai khái niệm này lại được phân biệt rõ ràng.
Theo đó, đền bù được hiểu là biện pháp, cách thức để hỗ trợ cho những mất mát, thiếu hụt; còn bồi thường là một nghĩa vụ phải thực hiện để khắc phục một hậu quả do sự vi phạm gây ra [46]. Trong ngôn ngữ Tiếng Việt, bồi thường được hiểu là sự đền bù những tổn hại đã gây ra, còn đền bù là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao [63, tr. Hoặc theo cách giải thích khác thì bồi thường là đền trả lại các sự tổn hại [54, tr. Theo nghĩa Hán- Việt, bồi tức là đền, trả lại [49, tr.109]; thường là đền bồi, thường tiền [49, tr.
Với các nghĩa đó, bồi thường được hiểu là sự bù đắp, đền bù lại sự mất mát, thiệt hại bằng một giá trị vật chất khác có 13 giá trị tương xứng hoặc biểu trưng. Và như vậy, trong Tiếng Việt, không có sự phân biệt rõ ràng giữa bồi thường và đền bù. Thuật ngữ “tài phán” có nguồn gốc từ tiếng Latin là “jurisdictio”, trong tiếng Anh là từ “jurisdiction” có nghĩa là tổng thể những quyền hạn của Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền về việc đánh giá khía cạnh pháp lý của những sự kiện cụ thể, trong đó có việc giải quyết tranh chấp và áp dụng chế tài. Trong Tiếng Việt thì tài phán chỉ được hiểu đơn giản là phân xử, xét xử [54, tr.
Và trong thuật ngữ pháp lý, tài phán cũng được hiểu đồng nghĩa với xét xử [61, tr.865], có nghĩa là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc đó, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc [61, tr. Như vậy, tài phán được hiểu là toàn bộ các hoạt động, hành vi của cơ quan hay cá nhân có thẩm quyền theo luật định trong việc giải quyết các vụ việc tranh chấp pháp lý. Quyền tài phán là quyền năng theo pháp luật, phù hợp với pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Hiện nay, có hai cách hiểu cơ bản về khái niệm tài phán: Cách hiểu thứ nhất, coi tài phán chỉ là hoạt động xét xử các tranh chấp pháp lý giữa các chủ thể có yêu cầu và Toà án có thẩm quyền giải quyết theo một trình tự tố tụng.
Theo cách hiểu này thì tài phán đồng nghĩa với xét xử. Cách hiểu thứ hai, coi tài phán là toàn bộ các hoạt động xem xét, đánh giá và đưa ra phán quyết về một vụ việc tranh chấp pháp lý, có thể bao gồm cả việc xem xét lại cơ chế giải quyết liên quan đến tranh chấp của cơ quan khác trước đó (Ví dụ như việc Toà án xem xét lại quy trình và nội dung giải quyết khiếu nại trong vụ kiện hành chính). Quyền tài phán không chỉ được trao cho cơ quan Toà án mà còn được trao cho một số cơ quan chức năng 14 khác thực hiện theo luật định (cơ quan hành chính, thanh tra, trọng tài…). Theo cách hiểu này thì khái niệm tài phán rộng hơn khái niệm xét xử.
Quyền tài phán thể hiện quyền năng của chủ thể được pháp luật trao quyền giải quyết tranh chấp pháp lý. Cũng có loại quyền năng không phải do pháp luật trực tiếp đặt ra hoặc trao quyền mà do quy phạm pháp luật cho phép cá nhân, tổ chức liên quan thiết lập. Hiện nay, trên thế giới tồn tại các khái niệm mô hình tổ chức tài phán điển hình như tài phán hiến pháp, tài phán hành chính và tài phán tư pháp. Tài phán hiến pháp được hiểu là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của các đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành.
Ở Mỹ và Anh, khái niệm này thường dùng thuật ngữ “jusdical review”- nghĩa là kiểm tra tư pháp. Tuỳ theo điều kiện của từng nước mà có mô hình tài phán bảo hiến khác nhau như có thể giao cho Toà án tư pháp xem xét văn bản đã được ban hành khi có tranh chấp hay theo sự kiện pháp lý cụ thể (American model) hay giao cho nghị viện phê chuẩn văn bản trước khi được Tổng thống phê chuẩn (French model) hay thành lập cơ quan chuyên trách để kiểm tra (European model) hoặc trao thẩm quyền hỗn hợp vừa do Toà án bảo hiến giải quyết, cũng có thể do Toà án khác giải quyết đối với từng vụ việc cụ thể (Mixed model) [3]. Tài phán hành chính được hiểu là hoạt động giải quyết các tranh chấp phát sinh trong việc thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước hay các tranh chấp nảy sinh trong quá trình điều hành, quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước, trong đó chủ yếu là việc xem xét phán quyết về tính đúng đắn, tính hợp pháp của các quyết định hay hành vi quản lý của cơ quan quản lý nhà nước và công chức nhà nước với tư cách là các chủ thể quản lý, mang trách nhiệm công vụ. 15 Và mô hình tài phán chung nhất là tài phán tư pháp, thực hiện hoạt động xét xử những vụ việc về hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại.
Theo đó, đối tượng của tài phán tư pháp rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội, gồm cả quan hệ giữa công dân, tổ chức với nhau trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, lao động. và quan hệ giữa nhà nước và công dân trong lĩnh vực hình sự. Tuy nhiên, tài phán tư pháp không thể có thẩm quyền truy tố cơ quan công quyền và các nhà chức trách hành chính trong việc nó thực thi chức năng quản lý nhà nước theo công pháp và theo pháp luật hành chính, trừ trường hợp cá nhân người thi hành công vụ vi phạm pháp luật về dân sự, hình sự…).Vì vậy, có quan điểm cho rằng, tài phán tư pháp là tài phán của nhà nước đối với dân. Chế định hay chế định pháp luật hoặc định chế pháp luật là tập hợp một nhóm quy phạm pháp luật có đặc điểm giống nhau để điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội tương ứng trong phạm vi một ngành luật hoặc nhiều ngành luật.
Chế định có thể được hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Nghĩa chung và rộng là các yếu tố cấu thành cơ cấu pháp lý của thực tại xã hội, nghĩa hẹp là tổng thể các quy phạm, quy tắc của một vấn đề pháp lý. Từ những phân tích nêu trên, có thể kết luận: Chế định tài phán đối với bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra là tổng hợp các quy định pháp luật về cơ chế hoạt động của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết yêu cầu về bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây oan, sai của người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.