Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN GÂY RA 1. hái niệm, bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra Trong lịch sử xã hội loài người, ở mỗi một giai đoạn khác nhau, con người ta được sinh ra và được hưởng thụ những giá trị tinh thần và vật chất khác nhau. Nhưng có một điểm chung của con người trong các giai đoạn phát triển đó là con người được sinh ra trong xã hội nào cũng đều có những nhu cầu cơ bản.
Từ những nhu cầu thiết yếu nhất như ăn, mặc, ở cho đến những nhu cầu cao hơn về kinh tế, chính trị, xã hội, … Đây là những nhu cầu khách quan gắn với sự tồn tại, phát triển tất yếu của con người và xã hội. “Các nhu cầu khách quan của con người tạo ra quyền con người. Một nhu cầu cơ bản của con người, về logic, sẽ tạo ra một quyền” [110; tr. Như vậy, về bản chất, quyền con người không phải là ý chí chủ quan của một giai cấp, một tầng lớp hay một con người cụ thể, mà nó là quyền tự nhiên và được hình thành một cách khách quan ngay từ khi con người được sinh ra.
Ở mỗi một thời kì lịch sử khác nhau, mỗi một quốc gia khác nhau, quyền con người được ghi nhận và bảo vệ ở các mức độ và phạm vi khác nhau. Trong xã hội ngày nay, vấn đề bảo vệ quyền con người ngày càng được quan tâm sâu sắc và nó giống như một cuộc cách mạng đang hàng ngày được tiến hành ở mỗi Châu lục, mỗi quốc gia, mỗi tầng lớp, … khác nhau. Việc bảo vệ quyền con người được thực hiện bằng nhiều công cụ khác nhau, mà một trong những công cụ có tính hiện thực nhất đó là công cụ pháp lý. Tức là “để thực hiện quyền con người ở nghĩa tự nhiên cần phải thể chế hóa quyền đó thành các quyền pháp lý” [110;tr.
Thực tế hiện nay cho thấy, pháp luật Việt Nam đang ngày càng thể hiện sự hoàn thiện trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó thể hiện ngay trong bản Hiến pháp năm 2013, trong đó quyền con người tiếp tục được ghi nhận và được khẳng định ở một vị trí quan trọng. Trong các văn bản pháp luật được ban hành sau đó, quyền con người cũng được ghi nhận và bảo đảm cả về mức độ và phạm vi. Và để bảo đảm cho công dân được hưởng các quyền con người thực sự, quan điểm lập pháp của Nhà nước ta cũng hướng tới việc ghi nhận cho các công dân được quyền tự do trong việc thực hiện các hành vi nhằm thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của mình.
Tuy nhiên, sự tự do của mỗi người luôn nằm trong mối quan hệ với sự tự do của những người khác, tức là việc thực hiện quyền tự do của mình cũng phải bảo đảm quyền tự do của người khác. Nhà tư tưởng Motesquieu cũng đã đưa ra quan điểm về tự do như sau: “Tự do là quyền được làm tất cả những điều mà pháp luật không cấm. Nếu một công dân làm điều trái luật thì anh ta không còn được tự do nữa; vì nếu để anh ta tự do làm thì mọi người đều được làm trái luật cả” [37;tr. Tư tưởng này về sau được cụ thể hóa trong nhiều văn kiện quốc tế về quyền con người, 14 trong đó tại Điều 4 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 cũng khẳng định: “Tự do bao gồm quyền có thể làm mọi điều không gây hại cho người khác.
Như vậy việc thực hành các quyền tự nhiên của mỗi người chỉ bị giới hạn trong việc bảo đảm cho các thành viên khác của xã hội được hưởng các quyền đó; các giới hạn này chỉ có thể do pháp luật quy định” [93; Điều 4]. Theo các tư tưởng trên, tự do phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật và sự tôn trọng các quyền của người khác. Sự tự do của mỗi người khi đã vượt quá giới hạn cho phép của luật (làm những điều trái luật) có thể gây ra những thiệt hại cho người khác. Suy rộng ra, điều đó có nghĩa rằng việc ghi nhận và bảo đảm hiện thực hóa các quyền con người nếu không có sự kiểm soát bằng các thiết chế sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực không chỉ đối với từng cá nhân, mà nó còn có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn vong của cả một quốc gia, dân tộc.
Như vậy, bảo đảm quyền con người không chỉ là sự ghi nhận và cho phép mỗi công dân được tự do thực hiện các hành vi mà luật không cấm, mà đó còn là việc xây dựng các thiết chế nhằm ngăn chặn hành vi lạm dụng quyền tự do và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi chủ thể trước những sự vi phạm đó. Qua những phân tích này cho thấy, việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người là một trong những cơ sở quan trọng cho việc hình thành và phát triển của các chế định pháp luật, trong đó có chế định TNBTTH ngoài hợp đồng. Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của các chế định pháp luật có thể thấy chế định TNBTTH ngoài hợp đồng là một trong những chế định có lịch sử hình thành và phát triển sớm trong các chế định pháp luật dân sự (xem chi tiết trong phụ lục 2). Trên thế giới, quá trình hình thành và phát triển của chế định TNBTTH ngoài hợp đồng trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó có hai giai đoạn điển hình đó là giai đoạn bồi thường dựa trên chế độ tư nhân phục cừu và bồi thường dựa trên chế độ thục kim.
Ở Việt Nam, trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, chế định TNBTTH ngoài hợp đồng được hình thành và phát triển cũng chịu ảnh hưởng của các tư tưởng pháp luật của các quốc gia trên thế giới trong từng thời kỳ khác nhau. Do đó, quan điểm về BTTH trong các thời kỳ khác nhau cũng có sự thay đổi rõ rệt. Trong thời kì phong kiến, chế định trách nhiệm dân sự nói chung, TNBTTH ngoài hợp đồng nói riêng “được quy định sơ sài và tản mát, các quy định này không phân biệt rõ trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự” [111;tr. Tức là trong thời kỳ này, TNBTTH được thể hiện trong các văn bản pháp luật về hình sự và người gây thiệt hại thường phải chịu cả trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự.
Các quy định pháp luật đều nhằm hướng tới bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị chứ không chú trọng vào việc bảo vệ quyền con người trong xã hội. Cùng với sự phát triển của xã hội và công cuộc đấu tranh giành độc lập, các quy định về BTTH ngoài hợp đồng cũng có những thay đổi cho phù hợp với thực tế đời sống xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, chế định TNBTTH ngoài hợp đồng dựa trên nền tảng của các quy định mang tính nguyên tắc của trách nhiệm dân sự. Theo đó, TNBTTH 15 ngoài hợp đồng là trách nhiệm của người phải bồi thường với người được bồi thường.
Các quy định về BTTH ngoài hợp đồng hướng tới bảo vệ quyền lợi của những người bị thiệt hại, và sâu xa hơn là nhằm hướng tới bảo vệ quyền con người và các quyền cơ bản của công dân. Trong khoa học pháp lý dân sự, khi nói đến TNBTTH ngoài hợp đồng, hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng nhất cho rằng TNBTTH ngoài hợp đồng xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật (hành vi gây thiệt hại). Đây không chỉ là quan điểm của các học giả nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận về BTTH ngoài hợp đồng, mà đó cũng là quan điểm của các học giả nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng. Có thể minh chứng cho quan điểm này bằng một số khái niệm như sau: “Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng, các quyền nhân thân …” [76;tr.8]; hay “TNBTTH ngoài hợp đồng là quy định của luật dân sự nhằm buộc người có hành vi xâm phạm đến tài sản, sức khỏe, tính mạng, … của các chủ thể khác mà gây thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại mà mình gây ra ” [42;tr.
Các khái niệm này đều được xây dựng dựa trên căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại Điều 604 BLDS 2005, trong đó nguyên nhân gây ra thiệt hại được xác định là hành vi xâm phạm các đối tượng được pháp luật bảo vệ. Trước thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực, các khái niệm được đưa ra hoàn toàn phù hợp với quan điểm lập pháp của Việt Nam. Tuy nhiên, BLDS 2015 được thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017) đã có sự thay đổi cơ bản về TNBTTH ngoài hợp đồng, trong đó nguyên nhân dẫn đến thiệt hại được đề cập tại Điều 584 Bộ luật này không chỉ có hành vi mà còn có hoạt động của tài sản. Điều này cho thấy, khi BLDS 2015 có hiệu lực thi hành, các quan điểm về TNBTTH ngoài hợp đồng sẽ phải thay đổi cho phù hợp với quan điểm của các nhà lập pháp.
Tức là khái niệm TNBTTH ngoài hợp đồng không chỉ được xây dựng trên cơ sở hành vi gây thiệt hại, mà còn phải dựa vào cả trường hợp tài sản gây ra thiệt hại, nhưng vẫn dựa trên nền tảng của trách nhiệm dân sự nói chung. Theo đó, khái niệm TNBTTH ngoài hợp đồng có thể được hiểu như sau: “TNBTTH ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự mà trong đó một hoặc nhiều chủ thể phải bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu khi các đối tượng được pháp luật bảo vệ bị xâm phạm” Trong khoa học pháp lý thế giới, có nhiều học thuyết về TNBTTH ngoài hợp đồng được hình thành, phát triển qua nhiều thời kì lịch sử khác nhau. Trong đó có hai học thuyết điển hình vẫn còn tồn tại trong khoa học pháp lý dân sự hiện đại, đó là học thuyết cổ điển (quan điểm cổ điển) và học thuyết trách nhiệm khách quan (quan điểm trách nhiệm khách quan; hay còn gọi là lý thuyết rủi ro). 16 Những người theo thuyết cổ điển cho rằng, “cần phải có một sự quá thất (có lỗi) mới có trách nhiệm dân sự” [60; tr.