PHÙNG TRUNG TẬP LUAT DAN SU VIET NAM BINH GIAI VA AP DUNG TRACH NHIEM BOI THUONG THIET HAI NGOAI HOP DONG (SÁCH CHUYEN KHAO) TRUNG TAM THONG TIN THU VIEN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI PHÒNG DOC__I24.4 9 ES ger! NHA XUAT BAN CONG AN NHAN DAN 1837-2017/CXBIPH/3-146/CAND LOI NÓI DAU Bộ luật Dân sự của nước Cộng xã hội Chu nghĩa Việt Nam năm 2015 là Bộ luật Dân sự thứ ba của Nhà nước dân chủ nhân dân. Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 nhằm mục dich cung cấp cho độc giả sự thống nhất trong cách hiểu những quy định cua Bộ luật Dân sự năm 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, áp dụng những quy định trong chế định này để giải quyết các tranh chấp bôi thường thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mang, danh du, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và bồi thường trong một số trường hợp cụ thể là trường hợp phòng vệ chính đáng; vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; do lam 6 nhiễm môi trường; do cây cối; nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra; do xâm phạm thi thể; xâm phạm mo md; vi phạm quyển lợi của người tiêu dùng và bồi thường trong những trường hợp cụ thể khác. Cuốn sách chuyên khảo “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” là một trong PGS. PHÙNG TRUNG TẬP những tập của Bộ sách khoa học mang tên “Luật Dân sự Việt Nam - Binh giải và áp dụng”, theo thứ tự các Phan trong Bộ luật và theo những nội dung quy định tại các chế định của Bộ luật.
Hy vọng, nội dung cuốn sách chuyên khảo này sẽ dap ứng được những nhu câu của độc giả trong việc tìm hiếu, học tập, nghiên cứu, giảng dạy, áp dụng những quy định cua Bộ luật Dân sự năm 2015 vê trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Nội dung cuốn sách ham chứa nhiễu vấn dé nên khó tránh khỏi những sai sót nhất định. Mong độc giả góp ý để lan tái bản nội dung cuốn sách được hoàn thiện hon. Tác giả trân trọng giới thiệu cuốn sách chuyên khảo tới bạn đọc! TÁC GIẢ PHAN THỨ NHẤT KHÁI NIỆM VÀ ĐIÊU KIỆN PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG Chương | KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ Trách nhiệm dân sự là một căn cứ làm phát sinh một quan hệ nghĩa vụ của chủ thể xác định được.
Chủ thể là cá nhân, người đại điện của pháp nhân, các tổ chức không có tư cách pháp nhân có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại hoặc hành vi vi phạm những cam kết trong hợp đồng. Người có hành vi trái pháp luật phải bổi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bổi thường thiệt hai do hành vi trái pháp luật và do hành vi vi phạm hợp đồng dựa trên các căn cứ pháp lý tương ứng với từng loại trách nhiệm. - Thứ nhất, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; PGS.
PHÙNG TRUNG TẬP Thứ hai, trách nhiệm do hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng. Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng được hiểu là bên có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng nhưng đã không thực hiện, thực hiện không đúng những điều đã thỏa thuận trong hợp đồng. Các quyền và nghĩa vụ dan sự do các bên của hợp đồng thỏa thuận hợp pháp, phat sinh hiệu lực nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng những điều thỏa thuận, hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng là hành vi trái pháp luật. Hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên kia hợp đồng là hành vi trái pháp luật.
Bên có hành vi vi phạm hợp đồng có trách nhiệm dân sự do hành vi trái pháp luật gây ra. Trách nhiệm dân sự bối thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng phát sinh từ các căn cứ: Có hành vi vi phạm hợp đồng (hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng); Có thiệt hại xảy ra; Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng và thiệt hại xảy ra; Hành vi vi phạm hợp dong là hành vi có lỗi. Tuy nhiên, hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng là hành vi trái pháp luật, trong nhiều trường hợp hành vi vi phạm hợp đồng chưa gây ra thiệt hại, chưa có thiệt hại nhưng trách nhiệm dân sự của bên vi phạm hợp đồng vẫn phát sinh. Trong trường hợp này, hành vi vi phạm hợp dong là hành vi trái pháp luật, người vi phạm hợp đồng có trách nhiệm bổi thường.
6 TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG Trách nhiệm bổi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm luật định. Hành vi gây thiệt hại cho người khác về tài sản, tính mạng, sức khỏe, các lợi ích nhân thân khác (danh dự, uy tín, nhân phẩm, bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, vi phạm hình ảnh.), người có hành vi gây thiệt hại phải bồi thường. Trách +hiệm bổi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm pháp lý do luật định. Căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp luật gây ra phải thỏa mãn 04 điều kiện: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại; người gây thiệt hại có lỗi vô ý hoặc cố ý.
Trách nhiệm bổi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính, hoạt động tố tụng và hoạt động thi hành án. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (có hiệu lực từ ngày 01 - 01 - 2010) điều chỉnh các quan hệ giữa một bên là các cơ quan công quyển trong hoạt động tố tụng, thi hành án và một bên là cá nhân, pháp nhân bị thiệt hại. Cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh than do có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thì trách nhiệm bồi thường thuộc về nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm béi thường thiệt hại do hành vi trai pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, hoạt động tố tụng và hoạt động thi hành án.
PHUNG TRUNG TAP Thiệt hai ngoài hợp dong không những phát sinh từ hành vi trái pháp luật, mà còn phát sinh do tài sản gây ra. Tài sản của chủ sở hữu gây thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng thì chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp tài san có trách nhiệm bổi thường. Trong nhiều trường hợp, chủ sở hữu tài sản không có lỗi vẫn có trách nhiệm bối thường (trách nhiệm do nha cửa, vật kiến trúc, cây cối, nguồn nguy hiểm cao độ gây ra), không cần điểu kiện lỗi, chủ sở hữu phải bổi thường. Hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi trái pháp luật, mặc dù chưa gây thiệt hại cho bên bị vi phạm, nhưng bên có hành vi vi phạm hợp dong có trách nhiệm boi thường.
Nguyên tắc này được quy định tại Điều 725, 726 Dân luật Trung kỳ và Điều 684, 685 Dân luật Bac kỳ. Diéu 725 Dan luật Trung kỳ quy định: “Người mắc nợ không thi hành một phần hay toàn bộ nghĩa vụ ma không có bằng chứng rằng vì một duyên có ngoài, không phải lỗi mình, dù không có ý gian mặc lòng, cũng có thể phải bồi tổn hại, hoặc vì không thi hành hoặc vì thi hành chậm”. Theo Điều 726 Dân luật Trung kỳ, thì người vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm bổi thường trong trường hợp: “Nếu vì gặp tình thế mà sức người không chống lại được hay vì có ngau nhiên, ma người mac nợ bị ngăn trở không giao cho hay không làm được cái mình đã ưóc, hay là làm cái gì mình không được làm, thời không phải bồi tốn hại”. Trường hợp này coi như trường hợp bất khả kháng.
Khi nói đến trách nhiệm bổi thường là để cập đến TRÁCH NHIỆM BỔI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG một tình thế buộc một người phải thực hiện một hành vi hoặc có trách nhiệm gánh chịu những bất lợi về tài sản hoặc về nhân thân của người mang trách nhiệm đó. Trong một xã hội nhất định, với bất kỳ một quan hệ xã hội nào thì bên cạnh các quyền xác định được đều gắn với trách nhiệm của các bên chủ thể tham gia quan hệ. Tuy nhiên, theo tính chất của từng loại trách nhiệm thì trách nhiệm được phân ra theo đối tượng điều chỉnh của từng ngành luật khác nhau hoặc tính chất của từng loại quan hệ tài sản khác nhau để xác định. Tương ứng với các doi tượng điểu chỉnh của mỗi một ngành luật thì trách nhiệm pháp lý cũng được Nhà nước quy định trong một phạm vi và có những đặc điểm khác nhau như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự.
Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng, các quyền nhân thân mà trước đó giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không có giao kết hợp đồng hoặc giữa họ có giao kết hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi vi phạm hợp đồng. Hành vi gây thiệt hai ngoài hợp đồng là hành vi xâm phạm đến nhóm khách thể được pháp luật bảo vệ. Hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ được các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng phải là hành vi gây ra một thiệt hại xác định được và hành vi gây thiệt hại là hành vi trái 9 PGS.
PHÙNG TRUNG TẬP pháp luật. Hành vi vi phạm hợp đồng là hanh vi của người có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng nhưng đã không thực hiện đúng hợp đồng như đã cam kết, gây thiệt hại cho bên cùng giao kết hợp đồng thì phải bổi thường. Nhưng trong nhiều trường hợp, người vi phạm hợp đồng tuy chưa gây thiệt hại về tài sản vẫn phải chịu trách nhiệm tài sản. Trách nhiệm này thường được áp dụng trong hợp đồng dat cọc và hợp đồng về khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng (các bên tham gia hợp đồng thỏa thuận về khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng).