mở đầu cho Hoàng Việt luật lệ: “Dé xem hình luật của các triều đại trước của nước Việt ta, mỗi triều đại thành lập từ Lý, Trần, Lê đều có pháp chế riêng cho mỗi triều đại, mà đầy đủ hơn cả là bộ Luật Hồng Đức”. Trong Quốc triều hình luật, quyền sở hữu đã được quy định tương đối toàn diện trên cơ sở đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của cộng đồng và của cá nhân. Quyền sở hữu trong Quốc triều hình luật là chế định pháp luật vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan. Quyền sở hữu mang tính chủ quan vì nó là sự ghi nhận của nhà nước phong kiến thời Lê, mặt khác quyền sở hữu cũng mang tính khách quan, bởi vì về bản chất các quan hệ pháp luật về sở hữu phản ánh các quan hệ kinh tế về sở hữu, chúng như mọi hiện tượng xã hội khác thuộc thượng 267 tầng kiến trúc tồn tại một cách tương đối độc lập.
Như vậy, quyền sở hữu trong Quốc triều hình luật là một phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong chế độ sở hữu của nhà Lê. Quốc triều hình luật đưa ra ba hình thức sở hữu đó là sở hữu nhà nước, sở hữu làng xã và sở hữu tư nhân. Về sở hữu nhà nước: Thông qua hình thức sở hữu nhà nước, nhà Lê muốn củng cô triều đại của minh, gắn chặt quyền lợi của quan lại và quân sĩ theo nhà Lê, kiểm soát đất đai và thần dân. Khi quy định về quyền sở hữu, Quốc triều hình luật rat chú trọng đến quyền sở hữu ruộng đất, nhất là van đề điền thổ.
Đảm nhận sứ mệnh lịch sử to lớn là giải quyết toàn bộ các vấn đề xã hội, trong đó phải đem lại ruộng đất cho nhân dân và quân sĩ để làm ăn sinh sống là một trong những vấn đề quan trọng được đặt ra cấp thiết cho việc trị vì đất nước của nhà Lê. Như vậy, một mặt nhà Lê khăng định quyền sở hữu tối cao của mình đối với lãnh thổ quốc gia, một mặt nhà Lê thực hiện việc chế độ ban cấp lộc điền và quân điền. Có thé nói lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, Nhà nước trung ương ban hành quy chế day đủ về việc cấp ruộng lộc cho các quý tộc — thông qua chế độ lộc dién.Nha nước còn thực hiện quyền sở hữu đối với đất dai bằng chính sách đối với bộ phận ruộng đất công — làng xã còn lại — gọi là phép quân điền. Bản chất của chính sách này là sự can thiệp của Nhà nước vào việc phân chia ruộng đất công của làng xã.
Thông qua phép quân điền, nhà Lê khăng định quyền sở hữu của Nhà nước đối với ruộng đất công của làng xã, trên cơ sở đó tiễn hành thu tô thuế cho từng loại đất nhằm mở rộng quy mô sở hữu ruộng đất của Nhà nước. Sau khi được chia ruộng đất thì người được chia đất phải nộp tô thuế cho nhà nước, nếu không nộp thì bị trừng phạt rất nặng. Ví dụ: Điều 299: “Về số thuế thóc các ruộng, quan các lộ phải chiếu số thực có ruộng của các làng, mà đốc thúc các quan huyện đòi bắt các xã trưởng đem thóc nộp vào kho cho đúng phép.”; Điều 299: “Các quan viên giấu giém cho dân đinh khỏi phải đóng thuế và sai dịch, thì cứ một người xử phạt 60 trượng, biếm hai tư, càng nhiều người càng tăng thêm tội, và vẫn phải truy thu tiền thuế dịch nộp vào kho”; Điều 327: “Nếu những quan thu tiền thuế và những đồ phải thu đã thu được mà để quá kỳ không nộp vào kho, nếu quá 2 tháng, 3 tháng, cho là tội giấu giém, quá 4 tháng trở lên cho là ăn trộm. 99 Về hình thức sở hữu làng xã: Quyên sở hữu vê ruộng dat của lang xã bị 268 Nhà nước can thiệp tương đối mạnh mẽ.
Các làng xã buộc phải chấp hành cách phân chia ruộng đất công theo quy định của Nhà nước đặt ra.Tuy nhiên, trong phạm vi nhất định, quyền sở hữu của lang xã vẫn được chính quyền trung ương và luật lệ thừa nhận trong một chừng mực nhất định. Nhà nước trung ương vẫn cho phép làng xã có quyền sở hữu, quản lý đối với ruộng đất nhất định như ruộng đình, chùa, sông, ngòi, đường xá, thành quach. Điều này được thé hiện thông qua một số điều luật như Điều 350: “Những ruộng đất công có chỗ bỏ hoang mà quan trông coi không tâu để xin chia cho người cày ruộng khai khẩn, thì xử tội biém hay phạt (nơi nào dân ít ruộng nhiều thì không luận tội). Sau ba năm khai khan thành phục rồi, mà không nộp một nửa hoa lợi vào của công, thì xử biém ba tư.
Bắt kẻ cay ruộng phải bồi thường tiền giá ruộng”;Điều 352: “Những đầm bãi công hay tư, cho phép những dân xã gần đó được lĩnh canh, đánh cá mà nộp thuế theo đúng ngạch thuế; nếu quan trong coi hay người chủ tự ý tăng thuế thì phải trả lại số tăng cho dân”; Điều 353: “Nếu ruộng đất không vào số công, dân chiếm ở đã lâu, mà khai gian là của riêng mình hay là đem những van khế và dấu vết đã lâu đời ra mà cố tranh, thì phải biém hai tu. Việc Nhà nước thừa nhận quyền sở hữu và quản lý đối với một số ruộng đất của làng xã đã góp phần bảo vệ quyên lợi cho làng xã trong phạm vi nhất định. Theo đó, nêu xây dựng các công trình chung mà phạm vào ruộng đất công của làng xã thì Nhà nước phong kiến trung ương sẽ đền bù tuỳ theo giá trị; hoặc Nhà nước cam dân, quan lại không được phép lẫn chiếm những khu vực thuộc sở hữu làng xã, nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt. Qua đây, ta thấy được pháp luật nhà Lê cũng đã có những quy định rất cụ thể bảo vệ quyền lợi cho sở hữu làng xã trong những trường hợp nhất định.
Về hình thức sở hữu tư nhân: Sở hữu tư nhân cũng đã được chú ý, coi trọng trong Quốc triều hình luật. Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu lớn của những quan lại, quý tộc được Nhà nước ban cấp ruộng đất, sở hữu nhỏ của những người nông dân do có sức lao động, có quyền mua ruộng dat và tích tụ đất đai. Dưới thời Lê, Nhà nước thực hiện chính sách ban cấp ruộng đất cho công than, quan lại, quý tộc với quy mô lớn, số lượng nhiều, đồng thời cho phép họ có quyền định đoạt như mua bán, chuyển nhượng, thừa kế, trừ trường hợp phạm tội, dẫn đến sở hữu tư nhân về đất đai trở nên phổ biến trong thời kỳ này. Quoc triêu hình luật không có quy định nào nêu bật vê khái niệm sở hữu 269 tư nhân nhưng đã đề cập đến loại hình sở hữu này thông qua những quy định cụ thé về phân chia tài sản trong gia đình ở những trường hợp nhất định.
Các quy định được thê hiện khá rõ trong chương Điền sản. Các quy định pháp luật trong chương này nhằm mục đích phân chia tài sản, ruộng đất của vợ chồng trong những trường hợp nhất định. Tài sản được phân chia ở đây bao gồm ruộng đất và tài sản của chồng (phu tông điền sản), ruộng đất và tài sản của vợ (thê tông điền sản), ruộng đất và tài sản của cả hai vợ chồng làm ra khi kết hôn (tần tảo điền sản). Theo Điều 374:““chồng cùng vợ trước có con, vợ sau không có con, hay vợ cùng chồng trước có con, chồng sau không con, mà chồng chết trước không có chúc thư, thì điền sản thuộc về con vợ trước hay con chồng trước.Nếu điền sản là của chồng và vợ trước làm ra, thì chia làm hai phan, vợ trước va chồng mỗi người một phan, phan của vợ trước dé riêng cho con, còn phần của chồng thì lại chia như trước.”; Điều 376: “vợ chồng đã có con với nhau nếu một người chết trước, sau đó con cũng lại chết thì điền sản thuộc về chồng hay vợ”.Thông qua những quy định này, chúng ta thấy được việc ghi nhận quyền sở hữu tài sản rất cụ thể thể hiện thông qua mối quan hệ về thừa kế tài sản của người chết dé lại.
Pháp luật thời kỳ này ngoài việc bảo vệ quyền sở hữu đất đai hợp pháp của tư nhân còn có những quy định bảo vệ sự xâm phạm đến sở hữu các loại tài sản khác. Ví dụ: quy định mức lãi suất tối đa trong vay nợ (15 đồng kẽm/ 1 quan tiền) và cho phép người cho vay có thé đến nhà người vay tiền bắt nợ bằng dé đạc nếu quá hạn mà không trả. Ngược lại, pháp luật cũng nghiêm cắm người bắt nợ không được lấy số tài sản quá số tiền mình đã cho vay (Điều 591 Quốc triều Hình luật). Các quy định liên quan đến quan hệ mua bán, cầm cố, chuyên nhượng ruộng đất và điền sản cũng được quy định cụ thể.
Ngoài ra, các quy định liên quan đến quyền sở hữu tư nhân còn được tìm thấy rất nhiều trong Quốc triều hình luật (Vi dụ: Điều 375, 376, 377, 380, 382,. Về nội dung quyền sở hữu: Trong Quốc triều hình luật, nội dung quyên sở hữu cũng đã được đề cập đến tương đối rõ nét. Quyền chiếm hữu cũng đã được đề cập đến trong một số điều luật điển hình như Điều 356, 361, 384, 386, 603. Trong các điều luật này, chúng ta thấy được bong dáng nội dung quyền chiếm hữu ở trong đó.
Cụ thé, trường hợp những tá điền cấy nhờ ruộng ở nhà của 270 người khác, mà dở mặt tranh làm của mình, thì phạt 60 trượng, biém hai tư; nếu người chủ ruộng đất có văn tự xuất trình thì người tá điền phải bồi thường gấp đôi số tiền ruộng đất, không có văn tự thì trả nguyên tiền thôi (Điều 356). Quy định tại Điều 603: cho người ta thuê thuyền mà cố cãi rang không cho thuê, dé đòi thuyền lại, thì xử biém một tư, và phải bồi thường tiền thuê gấp đôi. Qua điều luật này, pháp luật ghi nhận quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản (thuyền) của người thuê, bảo vệ quyên chiêm hữu cho người này. Quyền sử dụng tài sản được đề cập đến trong một số điều luật cụ thê.
Ví dụ: trường hợp nô tỳ bán trộm ruộng đất của chủ thì bị xử phạt, ruộng đất phải trả lại cho chủ và trả tiền mua cho người mua. Nếu người mua không biết thì vẫn khai thác, sử dụng mảnh đất trên, nếu biết mà cứ mua thì cũng bị xử phạt (Điều 386). Quyền định đoạt đối với tài sản cũng được thể hiện thông qua các điều luật cụ thê thông qua quan hệ mua bán, cho vay được thực hiện thông qua hình thức như văn khế hoặc khẩu ước.