Tổng quan luận án
Luận án "Vấn đề pháp lý trong đổi mới chính trị ở Việt Nam (từ nửa sau những năm 80 đến nửa sau những năm 90 của thế kỷ XX)" (nguyên văn tiếng Nga: Правовые проблемы политического обновления во Вьетнаме (со второй половины 80-x гг. до второй половины 90-х гг. XX века)) được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Thành (Нгуен Ван Тхань) dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Luật học A. Verchenko (А. Верченко). Công trình được bảo vệ năm 1998 tại Viện Luật thuộc Đại học Xã hội Quốc gia Moskva (Московский государственный социальный университет - Юридический институт), thuộc chuyên ngành 12.00.01 – Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, lịch sử các học thuyết chính trị và pháp lý.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ bối cảnh chuyển đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế và đời sống nội bộ của các nước xã hội chủ nghĩa nửa cuối thập niên 1980. Tại Việt Nam, sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12/1986), công cuộc đổi mới toàn diện được khởi xướng nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài từ cuối thập niên 1970. Mặc dù trọng tâm ban đầu đặt vào cải cách kinh tế chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực tiễn đòi hỏi phải đồng thời đổi mới hệ thống chính trị và tăng cường vai trò của pháp luật. Hệ thống pháp lý cũ vốn mang nặng tính mệnh lệnh hành chính, duy ý chí và bị chi phối bởi tư tưởng coi chính trị đứng trên pháp luật, dẫn đến hiện tượng hư vô chủ nghĩa pháp lý (nhihilism pháp lý) và vi phạm pháp chế. Việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để thể chế hóa đường lối đổi mới chính trị thành các chuẩn mực pháp luật, xác định vai trò của công cụ pháp lý trong việc bảo đảm ổn định chính trị và thúc đẩy dân chủ hóa là đòi hỏi cấp bách của giai đoạn này.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: trước thời điểm luận án được thực hiện, các công trình nghiên cứu về pháp luật Việt Nam chủ yếu tiếp cận theo từng phân ngành luật riêng lẻ (Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Hình sự) hoặc chỉ xem xét pháp luật gắn với các sự kiện chính trị nhất thời. Chưa có công trình tổng quan lý luận chuyên sâu nào phân tích toàn diện vai trò của pháp luật như một phương thức và công cụ cốt lõi bảo đảm cho quá trình đổi mới hệ thống chính trị tại Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi từ nửa sau thập niên 1980 đến nửa sau thập niên 1990.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Phân tích các tiền đề kinh tế - xã hội và nhân tố quốc tế thúc đẩy sự cần thiết của đổi mới chính trị và việc nâng cao vai trò của pháp luật tại Việt Nam.
- Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa cải cách kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị, luận giải sự tương thích giữa chuyển đổi kinh tế thị trường với yêu cầu thượng tôn pháp luật.
- Đánh giá thực trạng và phương hướng đổi mới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, giải quyết vấn đề phân định chức năng giữa tổ chức Đảng và bộ máy nhà nước.
- Nghiên cứu quá trình đổi mới tổ chức, hoạt động của các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước (Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp), cải cách bộ máy hành chính nhà nước và hoàn thiện hệ thống tư pháp theo tinh thần Hiến pháp năm 1992.
- Xác định quy luật và đề xuất các giải pháp pháp lý nhằm củng cố, mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự phát triển và vai trò của pháp luật Việt Nam trong tiến trình đổi mới đời sống chính trị của đất nước. Phạm vi không gian là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Phạm vi thời gian tập trung từ nửa sau những năm 1980 (bắt đầu từ Đại hội VI năm 1986) đến nửa sau những năm 1990 (thời điểm hoàn thành luận án năm 1998, trọng tâm khảo sát văn bản đến năm 1996).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã điểm lại các cụm công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm chính:
Nhóm thứ nhất gồm các văn kiện chính thức, bài phát biểu và công trình chuyên luận của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam:
- Các tác phẩm của Nguyễn Văn Linh: За обновление мышления и стиля работы (Đổi mới tư duy và phong cách làm việc, 1987), На пути глубоких и всесторонних изменений (Trên con đường đổi mới sâu sắc và toàn diện, Hà Nội: Sự thật, 1989).
- Tác phẩm của Trường Chinh: Обновление – актуальное требование страны и эпохи (Đổi mới – Yêu cầu cấp thiết của đất nước và thời đại, Hà Nội: Sự thật, 1987).
- Các bài viết và phát biểu của Đỗ Mười: Xây dựng nhà nước của nhân dân: Thành tựu, kinh nghiệm đổi mới (1991); Một số vấn đề về đổi mới và chỉnh đốn Đảng (1992); Hình thành nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền (1992); Hoàn thiện bộ máy nhà nước và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước (1992).
- Các bài phát biểu chỉ đạo của Võ Chí Công tại Hội nghị toàn quốc Hội đồng nhân dân (tháng 4/1990) về đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân; bài phát biểu của Võ Văn Kiệt tại Hội nghị các cơ quan tư pháp (1993).
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu chuyên ngành luật học và khoa học chính trị của các học giả Việt Nam từ cuối thập niên 1980 đến giữa thập niên 1990:
- Về hiến pháp và phát triển nhà nước: Thái Vĩnh Thắng (1988), Hoàng Văn Hảo (1989, 1990), Ngô Đức Mạnh (1990), Nguyễn Văn Thảo (1991), Nguyễn Văn Yểu (1993), Hoàng Thị Ngân (1993).
- Về đổi mới bộ máy hành chính, chính quyền địa phương và quản lý kinh tế: Đoàn Trọng Truyến (1992), Lưu Văn Mẫn (1992), Dương Đức Đãng (1992), Nguyễn Niên (1989, 1994), Nguyễn Duy Quý (1992), Đào Huy Thoàn (1996), Đặng Xuân Sơn (1997).
- Về đổi mới tổ chức Đảng, cải cách tư pháp và phòng chống tội phạm: Đào Trí Úc (1988), Nguyễn Ngọc Quảng (1991), Nguyễn Văn Thọ (1991), Nguyễn Văn Tài (1993), Lê Minh Thảo (1993), Lê Văn Cảm (1996), Vũ Oanh, Lê Hữu Nghĩa, Lê Văn Giảng (1993).
Nhóm thứ ba gồm các nghiên cứu của giới luật học và đông phương học Liên Xô/Nga:
- Các nghiên cứu nền tảng từ cuối thập niên 1950 của N. P. Kazanskaya.
- Các công trình chuyên sâu trong thập niên 1980 và 1990 của V. A. Mkhitaryan, T. T. Mkhitaryan, B. A. Strashun, A. A. Muravyov, E. B. Kumacheva, E. Glazunova thuộc Viện Nhà nước và Pháp luật (Viện Hàn lâm Khoa học Nga - RAN), Viện Phương Đông (RAN) và Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị Quốc tế (RAN).
Vị trí của luận án được xác lập thông qua việc kế thừa các phân tích cụ thể của những tác giả đi trước, đồng thời khắc phục tính phân tán cục bộ bằng cách đặt toàn bộ hệ thống thiết chế chính trị - nhà nước của Việt Nam trong một khung tiếp cận lý luận nhà nước và pháp luật tổng thể. Luận án giải quyết khoảng trống về mối quan hệ tác động qua lại giữa chuyển đổi kinh tế, ổn định chính trị và nhu cầu pháp điển hóa các nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của công trình dựa trên học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, các nguyên lý về nhà nước kiểu mới bắt nguồn từ thực tiễn Công xã Paris, lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chính sách kinh tế mới (NEP) của V. I. Lênin. Tác giả cũng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các nghị quyết của Đại hội VI, Đại hội VII và các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VI và khóa VII) làm nền tảng lý luận chính trị. Khung phân tích trung tâm xoay quanh các khái niệm: mối quan hệ giữa quyền lực chính trị và chuẩn mực pháp luật, dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ", và nguyên tắc phân công, phối hợp quyền lực nhà nước thống nhất.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng hướng tiếp cận tổng thể lý luận (general-theoretical approach) kết hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp phân tích quy phạm văn bản pháp luật: khảo sát trực tiếp văn bản các bản Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980 và 1992), các đạo luật về tổ chức bộ máy, bầu cử, kinh tế và tư pháp.
- Phương pháp lịch sử - pháp lý: phân tích sự vận động của thiết chế nhà nước và pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử từ năm 1945, giai đoạn chiến tranh kháng chiến (1946-1954, 1954-1975) đến giai đoạn khủng hoảng sau chiến tranh và thời kỳ Đổi mới.
- Phương pháp so sánh luật học và chính trị học: so sánh các quy định hiến pháp về chế độ kinh tế và vai trò của nhà nước giữa Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (các điều 15, 19, 20, 21) với Hiến pháp Trung Quốc sửa đổi năm 1993; so sánh kinh nghiệm cải cách chính trị của Việt Nam với tiến trình cải tổ (Perestroika) tại Liên Xô, phong trào tại Đông Âu và mô hình phát triển của các quốc gia Đông Á/Đông Nam Á (Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan).
- Phương pháp thống kê - xã hội học pháp lý: tổng hợp và phân tích dữ liệu thực tế về công tác tinh giản tổ chức Đảng, xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên, bổ nhiệm và luân chuyển nhân sự trong bộ máy nhà nước.
Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm các văn kiện Đại hội Đảng VI, VII, VIII; các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa V), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, 5, 6, 7, 8 (khóa VI), Hội nghị Trung ương 3 và Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII); hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam; tài liệu thống kê của Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và các kỷ yếu hội nghị lập pháp, tư pháp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Tiền đề kinh tế - xã hội của đổi mới chính trị tại Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Социально-экономические предпосылки политического обновления в Социалистической Республике Вьетнам)
Chương này tập trung phân tích các nguyên nhân kinh tế - xã hội bên trong và các nhân tố quốc tế dẫn đến nhu cầu tất yếu phải tiến hành đổi mới chính trị và nâng cao vai trò của pháp luật tại Việt Nam.
Tác giả chỉ ra rằng mô hình kinh tế chỉ huy - tập trung quan liêu bao cấp áp dụng tại miền Bắc trước năm 1975 và mở rộng ra cả nước sau năm 1975 đã bộc lộ sự kém hiệu quả nghiêm trọng vào cuối thập niên 1970. Nền kinh tế nông nghiệp (chiếm tới 80% lực lượng lao động) lâm vào khủng hoảng sâu sắc do cơ chế phân phối bình quân, triệt tiêu động lực vật chất của người lao động. Khủng hoảng buộc các cơ sở kinh tế và địa phương phải tự tìm tòi tháo gỡ (khoán chui trong nông nghiệp, các hình thức liên kết của xí nghiệp công nghiệp), tạo sức ép dẫn tới việc Trung ương ban hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 8/1979) và Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (năm 1981), Nghị quyết 25/CP, Chỉ thị 306 của Bộ Chính trị (tháng 5/1986), tiến tới Đại hội VI (tháng 12/1986) chính thức thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Về mối quan hệ giữa cải cách kinh tế và đổi mới chính trị, luận án nhấn mạnh tính quy định của kinh tế đối với chính trị, nhưng đồng thời chỉ rõ sự cần thiết phải giữ vững ổn định chính trị để tạo môi trường cho chuyển đổi kinh tế. Luận án phân tích:
- Sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa tại Liên Xô và Đông Âu cho thấy việc vội vã thực hiện đa nguyên, đa đảng trong khi chưa chuẩn bị đầy đủ các tiền đề vật chất và thiết chế đã dẫn đến tình trạng mất kiểm soát quyền lực và hỗn loạn xã hội.
- Việt Nam lựa chọn bước đi thận trọng: ưu tiên cải cách kinh tế trước, đổi mới chính trị từng bước, kết hợp hài hòa, không biến đổi mới chính trị thành yếu tố cản trở ổn định xã hội.
- Sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường làm thay đổi cơ cấu xã hội, làm nảy sinh các nhóm lợi ích hợp pháp khác nhau, đòi hỏi pháp luật phải chuyển từ chức năng mệnh lệnh - cấm đoán sang chức năng điều tiết, thừa nhận quyền tự do kinh doanh và bảo vệ quyền sở hữu của mọi thành phần kinh tế.
Luận án chỉ rõ nguyên tắc pháp lý mới xuất hiện trong đời sống xã hội: đối với công dân và doanh nghiệp áp dụng nguyên tắc "được làm những gì pháp luật không cấm" (nguyên tắc cho phép chung); đối với cơ quan nhà nước và công chức áp dụng nguyên tắc "chỉ được làm những gì pháp luật quy định" (nguyên tắc trao quyền hạn chế). Tác giả so sánh quy định của Hiến pháp 1980 với Hiến pháp 1992: Hiến pháp 1992 đã xóa bỏ định kiến về việc triệt tiêu hoàn toàn sự bóc lột trong giai đoạn trước mắt để chính thức thừa nhận kinh tế tư nhân tư bản và kinh tế tư bản nhà nước, đồng thời giữ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước như một công cụ điều tiết vĩ mô.
Chương II: Đổi mới hệ thống chính trị và vai trò của các thiết chế nhà nước - pháp luật của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Обновление политической системы и роль государственно-правовых учреждений Социалистической Республики Вьетнам)
Chương II là phần trọng tâm về tổ chức bộ máy, phân tích sự đổi mới của bốn thiết chế cơ bản: Đảng cầm quyền, các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước, bộ máy quản lý hành chính và hệ thống tư pháp.
1. Đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam: Tác giả phân tích tình trạng bao biện, làm thay, lẫn lộn chức năng giữa tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước trong thời kỳ trước đổi mới. Để đổi mới sự lãnh đạo, Đảng tiến hành tự đổi mới, tự chỉnh đốn, áp dụng nguyên tắc "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ". Luận án dẫn chứng các số liệu cụ thể về công tác chỉnh đốn Đảng và cán bộ từ Đại hội VI đến Đại hội VII:
| Tiêu chí thống kê trong công tác xây dựng Đảng và cán bộ | Số liệu văn bản ghi nhận |
|---|---|
| Số đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng trong 10 năm trước Đổi mới (1976–1986) | Khoảng 190.000 đảng viên |
| Số đảng viên bị xử lý kỷ luật trong 3 năm sau Đại hội VI (1986–1989) | 206.181 đảng viên (~10% toàn Đảng) |
| Số đảng viên bị khai trừ khỏi Đảng trong giai đoạn 1986–1989 | 78.206 đảng viên (~3% toàn Đảng) |
| Tỷ lệ đảng viên bị xử lý kỷ luật toàn Đảng thời kỳ 1992–1993 | Chiếm 2,3% tổng số (tăng 42% so với 1992) |
| Tỷ lệ cấp ủy viên các cấp bị thi hành kỷ luật | Tăng 36% so với năm 1992 |
| Tỷ lệ đảng viên là người nghỉ hưu tính đến giữa năm 1991 | Chiếm khoảng 23% tổng số đảng viên |
| Số lượng đảng viên mới kết nạp từ tháng 12/1986 đến tháng 6/1991 | 303.237 người (68% từ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh) |
| Tốc độ gia tăng kết nạp đảng viên mới năm 1992 và 1993 | Năm 1992 tăng 3,2%; Năm 1993 tăng 30% |
| Tỷ lệ tinh giản đảng ủy trực thuộc Trung ương đến cuối năm 1988 | Giảm 50% (còn 16/32 cơ quan) |
| Chuyển giao tổ chức cơ sở đảng tại các bộ, ngành về địa phương (Hà Nội) | Chuyển giao 47 tổ chức đảng về cấp ủy địa phương |
| Tỷ lệ thay thế, điều động cán bộ lãnh đạo sau Đại hội VI đến cuối 1988: | |
| - Bộ trưởng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND cấp tỉnh | Gần 100% |
| - Thứ trưởng các bộ, ngành | 91 cán bộ |
| - Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND cấp huyện và tương đương | Khoảng 70% |
| - Giám đốc xí nghiệp, liên hiệp, tổng công ty nhà nước | 89% |
2. Nâng cao vai trò của các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước: Luận án phân tích sự thay đổi cơ bản trong vị trí của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Trước năm 1986, các kỳ họp Quốc hội thường chỉ mang tính hình thức, thông qua các quyết định đã được Trung ương Đảng phê duyệt trước. Từ cuối năm 1988, Quốc hội đã tổ chức các kỳ họp trước các Hội nghị Trung ương, đại biểu thảo luận dân chủ và tranh luận thực chất về các dự án luật. Luật Bầu cử mới được ban hành năm 1987 và 1989 đã đổi mới quy trình giới thiệu ứng cử viên và tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội (tháng 4/1987) và Hội đồng nhân dân (tháng 11/1989), từng bước khắc phục tình trạng hình thức hóa.
3. Cải cách bộ máy hành chính nhà nước và hoàn thiện hệ thống tư pháp: Luận án trình bày quá trình chuyển đổi từ cơ chế điều hành theo chỉ thị sang quản lý bằng pháp luật; tái cấu trúc Chính phủ và các cơ quan hành chính địa phương theo hướng tinh gọn, phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; tăng cường vị trí độc lập của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm pháp chế và bảo vệ quyền công dân theo Hiến pháp 1992.
Chương III: Các vấn đề phát triển hơn nữa nền dân chủ ở Việt Nam hiện đại (Проблемы дальнейшего развития демократии в современном Вьетнаме)
Chương III luận giải về mặt lý luận và thực tiễn việc mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Tác giả khẳng định dân chủ hóa không đồng nghĩa với việc sao chép cơ học mô hình dân chủ tư sản phương Tây (đa đảng, phân chia ba quyền đối lập). Tại Việt Nam, dân chủ hóa là quy luật nội tại của sự phát triển chủ nghĩa xã hội, trong đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hai hình thức: dân chủ đại diện (hệ thống cơ quan dân cử) và dân chủ trực tiếp (tại cơ sở thông qua phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra").
Các phương hướng mở rộng dân chủ được luận án làm rõ bao gồm:
- Thể chế hóa đầy đủ các quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân trong các văn bản luật, bảo đảm các quyền tự do kinh doanh, tự do cư trú, quyền sở hữu tài sản và quyền khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi sai phạm của cơ quan công quyền.
- Phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức quần chúng (Tổng Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên).
- Đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng và tệ lạm quyền trong bộ máy công quyền, thiết lập cơ chế pháp lý minh bạch để nhân dân kiểm soát hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã tổng kết và đưa ra những đóng góp mới về mặt khoa học pháp lý và thực tiễn lập pháp:
Về mặt lý luận:
- Luận giải một cách có hệ thống sự chuyển dịch nhận thức pháp lý của Việt Nam: từ quan niệm coi pháp luật thuần túy là công cụ cưỡng chế, trấn áp giai cấp sang nhận thức pháp luật là chuẩn mực xã hội bảo vệ quyền con người, điều tiết các quan hệ thị trường và xác lập giới hạn quyền lực nhà nước.
- Làm rõ cơ sở khoa học của mô hình quyền lực nhà nước thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp, phân biệt với học thuyết tam quyền phân lập tư sản.
- Khẳng định tính tất yếu của việc Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua đường lối, chính sách và sự gương mẫu chấp hành pháp luật của đảng viên, thay vì can thiệp trực tiếp vào hoạt động điều hành thường nhật của bộ máy hành chính và tư pháp.
Về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Đánh giá toàn diện tác động của Hiến pháp 1992 đối với việc định hình khung pháp lý cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự vận hành của bộ máy nhà nước.
- Cung cấp các luận cứ thực tiễn về công tác sắp xếp tổ chức, đổi mới tiêu chuẩn đánh giá cán bộ (lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và kết quả công tác làm thước đo thay cho đánh giá chủ quan).
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp của Quốc hội, tăng cường tính chuyên nghiệp của đại biểu, hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp nhằm bảo đảm xét xử độc lập, công minh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Luận án khảo sát thực tiễn đổi mới chính trị và pháp luật trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ (từ sau Đại hội VI năm 1986 đến giữa thập niên 1990), do đó nhiều cơ chế pháp lý thời điểm đó mới ở dạng định hình ban đầu và đang trong quá trình thử nghiệm.
- Việc phân tích cơ chế phân định thẩm quyền giữa Đảng và Nhà nước chủ yếu tập trung ở cấp Trung ương và cấp tỉnh, chưa đi sâu khảo sát chi tiết mô hình vận hành thực tế ở cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn).
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi quá trình thể chế hóa các nguyên tắc của Hiến pháp năm 1992 vào hệ thống các đạo luật chuyên ngành, đặc biệt là Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi.
- Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng chống tham nhũng và các thiết chế bảo hiến trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là nguồn tư liệu có giá trị học thuật cao đối với:
- Các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Luật Hiến pháp và Khoa học chính trị khi nghiên cứu về lịch sử lập hiến và thể chế chính trị Việt Nam thời kỳ đầu Đổi mới.
- Các giảng viên đại học chuyên ngành luật và hành chính công trong việc xây dựng bài giảng về quá trình cải cách bộ máy nhà nước và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
- Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật và cải cách hành chính khi cần đối chiếu, khảo sát các dữ liệu thực tế về công tác cán bộ, tinh giản bộ máy và sửa đổi thể chế trong thập niên 1980–1990.
Các phần có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất là: phần phân tích mối quan hệ giữa Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 (Chương I); bảng số liệu và phân tích thực chứng về công tác chỉnh đốn Đảng, luân chuyển cán bộ lãnh đạo giai đoạn 1986–1988 (Chương II); và các luận điểm về phương thức phân định thẩm quyền Đảng – Nhà nước (Chương II và III).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án ghi nhận số liệu cụ thể nào về công tác xử lý kỷ luật và thanh lọc đảng viên trong giai đoạn đầu sau Đại hội VI? Theo các báo cáo chính thức được luận án trích dẫn, trong 3 năm đầu sau Đại hội VI (1986–1989), toàn Đảng đã áp dụng các biện pháp xử lý kỷ luật đối với 206.181 đảng viên thoái hóa, biến chất (chiếm khoảng 10% tổng số đảng viên), trong đó khai trừ khỏi Đảng 78.206 người (chiếm khoảng 3% quân số toàn Đảng). Trước đó, trong 10 năm từ 1976 đến 1986, đã có khoảng 190.000 đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng.
2. Tỷ lệ luân chuyển và thay thế cán bộ lãnh đạo các cấp từ sau Đại hội VI đến cuối năm 1988 diễn ra như thế nào? Luận án nêu rõ: từ sau Đại hội VI đến cuối năm 1988, gần 100% Bộ trưởng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND cấp tỉnh; 91 Thứ trưởng; 70% Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND cấp huyện (và tương đương); cùng 89% Giám đốc xí nghiệp, liên hiệp, tổng công ty nhà nước đã được thay thế hoặc luân chuyển. Một số bộ ngành và địa phương có sự thay đổi cán bộ lãnh đạo từ 5 đến 6 lần.
3. Sự thay đổi trong quy trình làm việc giữa Quốc hội và Trung ương Đảng diễn ra vào thời điểm nào theo luận án? Luận án ghi nhận bước chuyển biến quan trọng diễn ra vào cuối năm 1988: để bảo đảm tính độc lập và thẩm quyền thực chất của cơ quan đại diện quyền lực nhà nước tối cao, Quốc hội đã tổ chức kỳ họp thảo luận và quyết định các dự án luật trước khi Hội nghị Trung ương Đảng họp, thay vì tiến hành họp sau Hội nghị Trung ương như thông lệ trước đó.
4. Điểm khác biệt căn bản về chế độ kinh tế giữa Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 được luận án phân tích là gì? Khác với Hiến pháp năm 1980 vốn đặt trọng tâm vào việc xóa bỏ hoàn toàn chế độ bóc lột người và thiết lập chế độ công hữu thuần nhất, Hiến pháp năm 1992 đã chính thức công nhận sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của kinh tế tư nhân và tư bản nhà nước, đồng thời xác lập vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước.
5. Luận án so sánh mô hình đổi mới của Việt Nam với những quốc gia nào? Luận án đối chiếu kinh nghiệm của Việt Nam với cải tổ (Perestroika) tại Liên Xô, các biến động chính trị ở Đông Âu, công cuộc cải cách mở cửa và sửa đổi Hiến pháp năm 1993 tại Trung Quốc, đồng thời liên hệ với mô hình phát triển kinh tế gắn với giữ vững kỷ cương chính trị của các nền kinh tế Đông Á/Đông Nam Á như Singapore, Malaysia, Hàn Quốc và Đài Loan.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Thành bảo vệ năm 1998 là công trình nghiên cứu hệ thống về khía cạnh pháp lý của công cuộc đổi mới chính trị tại Việt Nam trong thập niên đầu tiên sau Đại hội VI. Tác giả đã làm rõ quy luật gắn kết biện chứng giữa cải cách kinh tế thị trường với yêu cầu nâng cao vai trò của pháp luật và đổi mới các thiết chế Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Tòa án theo Hiến pháp 1992. Bằng việc kết hợp lý luận Mác - Lênin với các số liệu thực chứng cụ thể về tổ chức bộ máy và cán bộ, công trình đã khẳng định tính đúng đắn của con đường đổi mới có nguyên tắc, giữ vững ổn định chính trị để phát triển kinh tế và từng bước mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa. Luận án giữ nguyên giá trị tư liệu khoa học đối với lịch sử lập hiến và nghiên cứu thể chế nhà nước Việt Nam hiện đại.