BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI HỘI THẢO KHOA HỌC CAP TRƯỜNG (Tất cả các bài đăng đêu được phản biện độc lập) HÀ NỘI, NGÀY 29 THÁNG 09 NĂM 2020 ; ____ CHƯƠNG TRINH HỘI THẢO HỢP NHAT VAN BẢN QUY PHAM PHÁP LUẬT VÀ PHÁP DIEN HỆ THÓNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY” Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2020 Thời gian Nội dung Thực hiện 8h00 - 8h20 | Đăng ký đại biểu Ban Tổ chức 8h20 -8h25 | Giới thiệu đại biểu Ban Tỏ chức 8h25 - 8h30 | Phát biêu khai mạc Hội thảo Đại diện Ban Giám hiệu Phiên I Lý luận về hợp nhất văn bản quy phạm pháp ThS. Cao Kim Oanh §h30- 8h40 | luật và pháp điển hệ thống quy phạm pháp SỐ xa luật Trường Đại học Luật Hà Nội Kỹ thuật hợp nhất văn bản quy phạm pháp Nông Ánh Dương af né TẠI §h40 - 8h50 | luật — thực tiễn thực hiện và kinh nghiệm tại Bộ Tài nguyên và Môi trường. Vụ Pháp che Bộ TNMTMT quy| mắc vgà kié phápsố diễnvướng hệ thốn ) n TS, Phí Thị Thanh Tuye - luật hiện Kỹ thuật +o thực - một 8h50 - 9h00 pha pháp luật - một so vương mac va KIER) „v.v Dai học Luật Ha Nội 9h00 - 9h45 Thảo luận 9h45 - 10h00 Nghỉ giải lao Phiên II Thực trạng công tac hợp nhất, pháp điển quy Nguyễn Thị Thu Hòe phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay Cục Kiểm tra Văn bản quy phạm 10h00 - 10h10 pháp luật, Bộ Tư pháp Ph áp di ễn hệ thống quy phạm pháp luật về TS. Trần Thị Hiền 10h10 - 10h20 chức cán bộ, công chức, viên Trường Dai học Luat Hà Noi t về Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luậ ThS.
Phạm Vĩnh Hà Trường Đại học Luật Hà Nội 10h20 - 10h30 tỏ chức bộ máy nhà nước — Thảo luận 10h30 - 11h25 Đại diện Ban Giám hiệu Phát biểu kết thúc Hội thảo ——_—_ 11h25- 11h30 Được quét bằng CamScanner MỤC LUC KY YEU HỘI THẢO (Tat cả các bài đăng đều được phản biện độc lập) Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2020 STT CHUYEN DE TRANG Một số van dé lý luận va pháp lý về hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật. Doan Thị Tố Uyên 3 Trường Đại học Luật Hà Nội Lý luận và thực tiễn pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật. Cao Kim Oanh 13 Khoa PL HC-NN Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc hợp nhất văn bản quy 4 phạm pháp luật. Lê Thị Ngọc Mai Khoa PL HC-NN Kỹ thuật hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động pháp điền hệ thống quy phạm pháp luật — thực tiễn thực hiện và kinh nghiệm tại Bộ Tài + nguyên và Môi trường.
33 Nông Ánh Dương Vụ Pháp chế Bộ Tài nguyên và Môi trường Thực trạng công tác hợp nhất, pháp điển quy phạm pháp luật ở Việt Nam 5 hiện nay. - A6 Nguyễn Thị Thu Hoe Cục Kiểm tra VBOPPL, Bộ Tư pháp Thực tiễn thực hiện công tác hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật tại Bộ Lao động — Thương binh xã hội. Ngô Hoang 61 Nguyễn Thị Vân Vụ Pháp chế Bộ Lao động — Thương bình xã hội Bộ pháp điển — sản phẩm của công tác pháp điển hệ thống quy phạm pháp 7 luật. Ngô Linh Ngọc Trưởng Đại học Luật Hà Nội Đánh giá quy định pháp luật hiện hành về pháp điển hệ thông quy phạm 8 | pháp luật.
Nguyễn Hoài Anh Trưởng Đại học Luật Hà Nội Kỹ thuật thực hiện pháp điển hệ thông quy phạm pháp luật — một số vướng mắc và kiến nghị. Phí Thị Thanh Tuyền Truong Đại học Luật Ha Nội Pháp điên hệ thông quy phạm pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. Trần Thị Hiền 109 Truong Đại học Luật Hà Nội Pháp điển hệ thông quy phạm pháp luật trong lĩnh vực dat đai. Đỗ Xuân Trọng 119 Trường Đại học Luật Hà Nội Pháp điển hệ thông quy phạm pháp luật về tô chức bộ may nhà nước.
Phạm Vĩnh Hà 132 Trường Đại học Luật Hà Nội Mô hình pháp điên hóa của một số quốc gia và kinh nghiệm áp dụng tại Việt Nam. Lê Thị Hồng Hạnh Trường Đại học Luật Hà Nội MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VE HOP NHAT VĂN BẢN QUY PHAM PHÁP LUẬT TS. Đoàn Thị Tổ Uyên” Tóm tat: Hop nhất văn bản quy phạm pháp luật là một trong những cách thức nhằm hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, tạo sự thuận tiện trong áp dụng pháp luật. Dé hiểu rõ hơn, bài viết tập trung bàn về một số vấn dé lý luận và pháp lý về hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.
Từ khoá: Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, Văn bản hợp nhất, Giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất. Sự cần thiết phải hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật Hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và hệ thống VBQPPL nói riêng đã trải qua 65 năm hình thành và phát triển, dần trở thành một hệ thống có số lượng văn bản khống lồ. Số lượng văn bản nhiều cùng với sự chồng chéo, không rõ ràng làm cho hệ thống các VBQPPL trở nên rắc rối, khó hiểu và khó áp dụng. Hiện trạng này do nhiều nguyên nhân, một phần do các quan hệ xã hội - đối tượng điều chỉnh của pháp luật - thay đổi liên tục mà nêu không nam được ban chất của chúng thì rất dé cho ra đời các quy phạm pháp luật (QPPL) không phù hợp.
Nguyên nhân khác là kỹ thuật lập pháp của chúng ta còn hạn chế, chưa có hệ thống tập hợp, pháp điển các QPPL, nên văn bản mới được ban hành dễ chồng chéo, thậm chí có trường hợp mâu thuẫn với các văn bản đang có hiệu lực. Đặc biệt, nhiều văn bản hiện hành đều không có chỉ dẫn về các điều khoản đã hết hiệu lực cũng là nguyên nhân làm cho VBQPPL khó áp dụng. Khi muốn tìm điều khoản nào đó, người sử dụng phải tìm toàn bộ các văn bản liên quan có từ khóa, rồi đọc, nghiên cứu và so sánh toàn bộ những QPPL với niềm tin chủ quan là đã không bỏ sót quy định nào. Bên cạnh đó, việc thực hiện các cam kết trong khuôn khô các điều ước quốc té đòi hỏi Việt Nam ngày càng phải công khai, minh bach và đơn giản hóa hệ thống pháp luật của mình.
Pháp điển hóa là một trong những hoạt động phục vụ cho nhiệm vụ đó. Quá trình pháp điển hóa thường trải qua bốn giai đoạn: chuẩn bị kế hoạch, các điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực phục vu cho quá trình pháp dién; tổng rà soát toàn bộ các văn bản pháp luật hiện hành; hợp nhất các văn bản đã được rà soát; giai đoạn cuối cùng là công nhận các sản phâm của quá trình hợp nhất. Nếu như tại các quốc gia, hợp nhất là một giai đoạn được thực hiện trong quá trình pháp điển hóa - sản phẩm của quá trình hợp nhất sau đó sẽ được công nhận và thay thế toàn bộ các văn bản * Khoa Pháp luật hành chính — nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội đã được hợp nhất trước đó dé hình thành bộ pháp điển thì ở Việt Nam, hợp nhất là một quá trình pháp lý riêng gắn liền với mục tiêu pháp điển hóa. Với các điều kiện về kinh nghiệm, nhân lực và cơ sở vật chất, Việt Nam sẽ tiễn hành từng bước trong quá trình pháp điển hóa mà bước đầu tiên là hợp nhất VBQPPL nhằm giảm áp lực về khối lượng VBQPPL cần phải rà soát khi tiến hành pháp điền.
Khái niệm hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật và giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất Theo Từ điển Tiếng Việt, hợp nhất có nghĩa là gộp nhiều cái làm một. Trong lĩnh vực pháp luật, khái niệm hợp nhất VBQPPL có nhiều quan điểm khác nhau, ké cả trên diễn đàn quốc tế. Ở Việt Nam, có thé khăng định văn bản hợp nhất là một loại văn bản tham chiếu. Việc hợp nhất văn bản chỉ đơn thuần là kỹ thuật sao chép văn bản.
Về bản chất, hợp nhất văn bản chính là sự sắp xếp liên tục, có trật tự của từng điều khoản trong văn bản và do vậy, văn bản hợp nhất chỉ có tính chất liệt kê các điều khoản đang có hiệu lực mà không nên mang một ý nghĩa nào khác. Quan điểm về kỹ thuật hợp nhất VBQPPL của Việt Nam được thể hiện chính thức tại Điều 43, 44, 45 và Điều 46, Nghị quyết số 1139/2007/UBTVQHII, trong đó giải thích: kỹ thudt hợp nhất văn bản sau khi được sửa đổi, bồ sung một số diéu là cách thức tiễn hành đưa các nội dung của văn bản sửa doi, bổ sung một số diéu vào văn bản được sửa đổi, bồ sung một số diéu. Việc hợp nhất văn ban sau khi sửa đổi, bố sung một số điều không được làm ảnh hưởng đến nội dung và hiệu lực của các văn bản được hợp nhất. Theo đó, việc hợp nhất văn bản chỉ tiễn hành đối với văn bản được sửa đổi, bố sung và văn bản sửa đôi, bố sung một sỐ điều.
Cùng với đó, kỹ thuật hợp nhất văn bản sẽ giúp chuyển những nội dung đã được sửa đôi trong văn bản sửa đôi, bô sung một số điều vào văn bản được sửa đổi, bố sung và xóa toàn bộ những nội dung đã được sửa đổi, bố sung trong văn ban được sửa đổi, bồ sung. Hợp nhất VBQPPL là kỹ thuật sao chép các đoạn văn bản với độ chính xác cao. Việc hợp nhất văn bản không làm thay đổi nội dung va ảnh hưởng đến hiệu lực của các QPPL được hợp nhất. Hiện nay tại Điều 2 Pháp lệnh hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 cũng ghi nhận: “Hợp nhất văn bản là việc đưa nội dung sửa đổi, bồ sung trong văn ban sửa đổi, bồ sung một số điều của văn bản đã được ban hành trước đó (sau đây gọi tat là văn bản sửa đổi, bồ sung) vào văn ban được sửa đổi, bồ sung theo quy trình, kỹ thuật quy định tại Pháp lệnh nay.” Hợp nhất VBQPPL khác với tập hợp hóa VBQPPL.
Nếu như tập hợp hóa là hình thức thu thập và sắp xếp các văn bản pháp quy theo từng vấn đề thành tập luật lệ thì hợp nhất văn bản sẽ cho tạo ra một văn bản có chứa tất cả các điều khoản đang có hiệu lực với một trật tự rõ ràng. Như vậy, hợp nhất VBQPPL ở Việt Nam có đặc trưng sau: - Là quá trình co học sao chép các nội dung đã được sửa đổi, bố sung từ văn ban sửa đôi, bố sung sang văn bản được sửa đôi, bố sung; - Hợp nhất không làm thay đổi nội dung và hiệu lực của các văn bản được hợp nhất.